Thứ Tư, 15 tháng 9, 2010

Tưởng Niệm Thuyền Nhân





Tượng Đài tri ân các bậc cha mẹ để cho các thế hệ trẻ sau này đừng quên ơn và sự hy sinh và nhớ là họ là người ViệtNam


" ...đây là LẦN ĐẦU TIÊN TRÊN NƯỚC PHÁP chúng ta sẽ có một quảng trường tròn mang tên SÀIGÒN đích thực và chính danh ! Chúng ta không còn nữa cái tên Sàigòn cho thủ đô Nam Việt Nam nhưng chúng ta sẽ có một quảng trường tròn mang tên SÀIGÒN ở Bussy Saint Georges.
...
Chúng ta có thể hãnh diện về bức tượng nầy vì nó sẽ lưu lại một dấu vết khó phai cho những thế hệ tương lai của một Dân Tộc, của một Cộng Đồng, của một Gia Đình, ngày xưa đã từng sống trên đất Pháp, ở thành phố Bussy Saint Georges.
...

ĐỨA CON MÀ NGƯỜI MẸ NHẤC BỔNG TẬN CÙNG CÁNH TAY THẬT CAO, THẬT XA THỂ HIỆN SỰ TỰ DO, TƯƠNG LAI VÀ NIỀM ƯỚC MƠ CỦA MẸ, người mẹ Việt Nam.
NGƯỜI MẸ, CHÍNH LÀ MẸ CỦA TẤT CẢ NHỮNG NGƯỜI VIỆT NAM ĐÃ CHỌN NƯỚC PHÁP LÀM ĐẤT TIẾP NHẬN, QUÊ HƯƠNG CỦA NHÂN QUYỀN VÀ TỰ DO..."


Trích: Tượng Đài Tưởng Niệm

Niềm mơ ước của Mẹ

Tình mẫu tử bao la như đại dương, tình mẫu tử vượt ra khỏi kích thước của con tim. Người ta thường minh hoạ như vậy để diễn tả tình cảm của mình đối với nghĩa Mẹ,công Cha...
Nhưng ít có ai nói lên những tâm tư của chính bản thân người Mẹ chúng ta, để có thể biểu hiện ra những tâm tư ý nguyện đó bằng những hình tượng tạo hình cho cụ thể, thể hiện những hình ảnh biểu tượng bằng những dáng điệu thân quen, những nét sinh hoạt thường ngày trong cuộc sống.
Mẹ ôm con vào lòng, mẹ bồng con trên tay, ru con ngủ, cho con bú hay mẹ chơi với con và còn nhiều hình ảnh khác...Tất cả những hình ảnh đó đã đi vào tiềm thức của mỗi người chúng ta...
Ở đây, hình ảnh đã được cách điệu chọn lọc để tạo ấn tượng. Được trình bầy những ý nghiã sâu kín có trong tiềm thức vô hình dưới một nghệ thuât tạo hình đơn giản...
Trở lại với tên của tác phẩm, « Niềm mơ ước của Mẹ », chính hình ảnh cho chúng ta dung cảm được sức mạnh tột đỉnh của tinh thần lẫn thể xác của người mẹ được diễn tả qua hai cánh tay đưa bổng người con lên thật cao, bay thật xa, với ngôn ngữ tạo hình qua y phục của người mẹ đưa chúng ta trở về với cội nguồn, gởi cho chung ta những mảng áo bay lộng trong gío của vạt áo, « Tứ thân » trở thành vạt áo dài và như những cánh buồm trên biển.

Ngày xưa có Mẹ Âu Cơ chia con nửa đi với Mẹ lên nui, nửa đi với Cha xuống biển, người Mẹ qua thăng trầm của lịch sử, thời chiến tranh có hòn « Vọng Phu », người tình, người mẹ đứng đợi chồng, ôm con...thời bình cũng như thời chiến luôn có Mẹ chúng ta luôn cản đảm môt nắng hai sương, cần cù chịu đựng, cho gia đình, cho chồng, cho con...
Với làn sóng thuyền nhân đổ ra biển Đông, vạt áo mẹ biến thành những cánh buồm căng gió hy vọng, mong cho con tới miền đất hứa, mong cho con đạt được giấc mơ, với tâm tình trên, tác phẩm « Niềm ước mơ của Mẹ » muốn chia xẻ tâm tư, suy nghĩ để tỏ lòng biết ơn với Mẹ Việt Nam tỏa lan đến tất cả các bà mẹ trên thế giới. Để nhắc nhở cho lớp trẻ Việt sinh ra và lớn lên bên ngoài đất mẹ, sẽ hiểu được tình mẹ, sự hội nhập, lòng biết ơn và chia sẻ nỗi niềm đó với miền đất mình tạm dung.
Một lần nữa, ngàn lần cám ơn những người Mẹ trên tòan thế giới và nghìn đời Mẹ Việt Nam.

VŨ ĐÌNH LÂM



Thứ Hai, 13 tháng 9, 2010

Từ Niên Trưởng đến Hậu Duệ

Lời Ngỏ:

Từ Niên Trưởng đến Hậu Duệ - là một kết nối Tâm Thân tuyệt vời bừng lên từ ánh sáng sáu ngọn nến chiếu lung linh trên nền thép của cây súng và thanh kiếm bên cạnh giòng chữ “Cư An Tư Nguy” nhân ngày kỷ niệm 60 năm thành lập Trường Võ Bị Thủ Đức/Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa . Và cũng là đêm Hội Ngộ Cựu SV Sĩ Quan Trừ Bị, tại nhà hàng Thần Tài - Falls church, Virginia vào đêm 12 tháng 9 năm 2010 .
Kết Thân - Mỗi cái bắt tay với nụ cười niềm nỡ từ những niên trưởng với các cựu sĩ quan, với các con cháu hậu duệ trong đại gia đình Võ Bị Thủ Đức đã tiếp truyền vào nhau sự nồng ấm thiết thân .
Kết Tâm - Là sự hòa đồng nhiệt thành ý chí vượt khó tiến lên trong hành trình giữ nước kế nghiệp công đức của tiền nhân . Với sự xúc động và cảm kích chân thành qua tâm tình trao đổi giữa ba thế hệ Cha Ông - Anh Em - Con Cháu . Về ý thức trách nhiệm, về nghĩa khí của một quân nhân vì nước mà hy sinh, vì bác ái và nhân quyền mà chiến đấu .
Tâm tư của thế hệ Cha, Chú đã hòa nhập vào sự đồng cảm của thế hệ Con, Cháu . Sự biết ơn trân trọng lẫn nhau là món quà quí giá mà mỗi cựu chiến binh và con cháu nhận được trong cuộc hội ngộ này.
Một hậu duệ điển hình trong cuộc hội ngộ là Trung Tá Tôn Thất Tuấn, một thanh niên Mỹ gốc Việt đang phục vụ trong Quân Lực Hoa Kỳ .
Câu Lạc Bộ Hùng Sử Việt hân hạnh giới thiệu Trung Tá Tôn Thất Tuấn với bạn đọc.

Cao Nguyên
MD Sept 13, 2010





Lời phát biểu của Trung Tá Tôn Thất Tuấn, Lục Quân Hoa Kỳ 

Kính thưa quý niên trưởng Kính thưa qúy Đại Diện Cộng Đồng Việt Nam Kính thưa Ban Tổ Chức (BTC) Kính thưa quý Cựu Chiến Binh (CCB) cùng toàn thể quý vị thân mến
Tôi xin phép được tự xưng là “tôi” trong vài phút tới đây để cùng thưa chuyện trong một khung cảnh tuy long trọng nhưng không kém tình huynh đệ chi binh.
Thật là một vinh dự cho gia đình chúng tôi được đến dự đêm hội ngộ (DHN) CCB hôm nay và tôi cũng rất hânh hạnh được chia sẽ với quý vị vài quan điểm và nhận định riêng của mình trên phương diện là một người lính, con của lính, rể của lính, anh của lính, và bây giờ cũng là cha của một người lính.
Chân thành cám ơn BTC đã có lời giới thiệu về cá nhân tôi. Phải nói rằng tôi cảm thấy có một phần hơi hổ thẹn vì đã nhận lời để phát biểu mà thưòng được dành cho khách danh dự, bởi vì đối với tôi, trong đêm nay có rất nhiều bật lão thành, có rất nhiều vị anh hùng, và có không biết bao nhiêu người đã không quản ngại đường xá xa xôi để đến tham dự DHN tối hôm nay. Thật vậy, CCB là những vị anh hùng đã chiến đấu cho niềm tin chân chính, phục vụ cho lý tưởng của quốc gia, và hy sinh cả một đời người cho tổ quốc.
Tôi rời Việt Nam lúc đó gần 16 tuổi nên cũng đã chứng kiến được nhiều cảnh hào hùng và anh dũng của người CCB – cương quyết, gian nan, và nhiều người cũng đã chịu đựng nhiều đau thương do hậu quả cuả chiến tranh, mà có thể nói rằng, khả năng chịu đựng đó ngoài sức tưởng tượng cuả chính bản thân tôi.
Tôi được biết, CCB là những người có lòng quyết tâm và sự dũng cảm, đã chiến đấu hăng say cho tổ quốc và cho dân tộc cho đến những giây phút cuối cùng – tay cầm súng tay bồng con, tay cầm súng lưng cỏng mẹ, mà vẫn cầm súng với đồng đội cho đến khi không còn cầm được nữa.
Tôi cũng đã được chứng kiến, CCB là những người có sức chịu đựng dẽo dai, kiên trì, có một sức sống thật mảnh liệt, để còn phải dìu dắt gia đình của họ qua những chặng đường nguy hiểm, chông gai, và đầy thử thách sau biến cố năm 1975.
Tôi cũng rất kính phục, CCB là những người có sức nhẩn nại phi thường nhằm tạo ra mọi điều kiện thuận lợi và cơ hội tốt cho con cháu họ trưởng thành trên mảnh đất xa lạ nhưng đầy hứa hẹn từ thuở ban đầu, như cha mẹ của chúng tôi đã tạo cơ hội cho vợ chồng tôi và ngay cả cho các con của chúng tôi.
Ngay trong giây phút này, tôi xin quý vị hãy cùng tôi tạm ngưng lại những gì vừa gợi nhớ trong trí óc của chúng ta, để cùng chụp lại những hình ảnh kiêu hùng trong quá khứ cuả người lính Việt Nam Cộng Hoà. Tấm hình đó chính là món quà cuả tôi xin trao tặng đến tất cả quý vị CCB trong đêm nay để đánh dấu sự hy sinh cao cả của một người lính, người anh, người chị, người vợ, người chồng, người cha hay một người mẹ.
Tôi vừa mới về lại đây tối hôm qua sau một tuần lễ đi công tác ở Việt Nam. Chuyến đi này cũng như 18 lần đi công tác trước đây, đều tốn ít nhất là một ngày đường mệt mỏi mới tới Việt Nam. Nhưng riêng lần này tôi có mang theo một cái ví tiền nhỏ màu nâu, trong đó có những tấm hình của những người mà tôi chưa bao giờ gặp, để hoàn lại cho thân nhân hoặc gia đình của họ còn ở Việt Nam.
Bởi vì trong một trận cận chiến tại tỉnh Gia Định vào ngày 11 tháng 2 năm 1968, một người lính Mỹ đã chính tay anh giết chết kẻ địch của mình là một Cộng quân, rồi anh ta đã lấy đi cái ví tiền màu mâu này đem về Hoa Kỳ để làm kỷ vật chiến trường. Nhưng mãi cho đến 2 tuần trước đây, người lính Mỹ này đã nhận định rằng, cái ví tiền mà anh cất giữ bấy lâu nay, đã kéo dài một thảm kịch tinh thần cho chính anh trong suốt bao nhiêu năm qua. Cuối cùng anh đã nhờ tôi đem trả kỷ vật này về lại cho Việt Nam.
Ngồi trên máy bay, tôi thầm nghĩ, chẳng lẻ phải cần tới 42 năm trong cuộc đời để người cựu chiến binh Mỹ này có thể xóa đi những hận thù trong cuộc chiến, và để có thể tìm lại sự bình an cho chính anh hay sao!
Tôi nhận thấy quá khứ đã để lại nhiều bài học, thành công cũng như thất bại. Con người không thể thay đổi được quá khứ, nhưng nếu quá khứ được nhận định một cách chính xác, thì chắc chắn con đường dẩn đến tương lai sẽ được rõ ràng và tốt đẹp hơn.
Cũng vì chuyện cái ví tiền này làm tôi gợi nhớ một câu chuyện khác đã xảy ra cánh đây không lâu. Tôi không biết đầu đuôi câu chuyện này đã xảy ra như thế nào trong một cửa tiệm ở khu Eden, nhưng lúc đó có một người đàn ông vừa bước ra khỏi tiệm thì ông ta nói ngay với một giọng nói rất là bực tức: “qua đây tị nạn mà cứ đòi hỏi được như Mỹ, không biết cái thân phận gì hết.”
Tôi đã không đoán được ngụ ý của ông ta là như thế naò, nhưng vì lúc đó tôi đang đợi vợ tôi ở bên vỉa hè và cũng vì hơi tò mò, nên tôi đã mạnh dạn bước đến vài bước để trao đổi vài câu tâm sự với ông ta.
Kính thưa quí vị, trong mỗi người chúng ta ở đây cũng đã có rất nhiều hoàn cảnh khác nhau khi đến Hoa Kỳ. Thật vậy, một số người trong chúng ta một thời đã làm người tị nạn, nhưng hôm nay chúng ta không còn là những người tị nạn nửa. Chúng ta vượt qua mọi gian nan và nguy hiểm để đi tìm tự do và đã tìm được tự do trên đất nước thân yêu và đầy hy vọng này. Đối với tôi, chúng ta cũng không phải là người Việt Nam hải ngoại hay là Việt kiều, bởi vì những danh
từ đó có một tình cách chính trị, biểu hiệu cho một người công dân mang quốc tịch Việt Nam đang tạm trú, đi học, hoặc đi làm ở nước ngoài.

Chúng ta ở đây là những người Mỹ gốc Việt (MGV) với niềm tự hào, vì ít hay nhiều, trong mỗi người chúng ta cũng đã, đang, và sẽ tiếp tục đóng góp cho sự phồn thịnh và an ninh của nước Mỹ mình.
Từ chiến tranh vùng Vịnh cho đến chiến trường bảo vệ tự do hôm nay ở Iraq và Afghanistan, đã không một lần vắng bóng hay thiếu sự đóng góp với nhiều khả năng khác nhau của những người lính MGV; và trong đó có 12 người lính MGV đã anh dũng hy sinh tại Iraq và Afghanistan. Anh em thế hệ chúng tôi vẫn tiếp tục bước trên con đường hào hùng, anh dũng, nối tiếp theo những nét vàng son trong hình ảnh kiêu hùng của qúy CCB đã ghi lại, và thi hành bổn phận của người công dân xứng đáng như mọi người công dân Mỹ khác ở đây.
Kính thưa quý vị, khi chúng ta chấp nhận đứng vào trong vị trí xứng đáng là công dân của nước Mỹ, thì chúng ta sẽ có được một tiếng nói rõ ràng hơn, không những hợp thức hơn, mà còn gây được nhiều ảnh hưởng thiết thực hơn, để dìu dắt cho thế hệ sau được hưởng một tương lai đầy hứa hẹn.
Đối với tôi, quý CCB luôn luôn là những vị anh hùng!
Chân thành cảm tạ toàn thể quý vị và xin kính chào.

###

Trung Tá Tôn Thất Tuấn, Lục Quân Hoa Kỳ, hiện đang là Cố Vấn Quân Sự cho Nha Đông Á và Thái Bình Dương của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn. Những lời phát biểu trên đây là quan điểm và nhận định riêng của anh và không phản ảnh chính sách hoặc vai trò chính thức của Bộ Ngoại Giao, Bộ Quốc Phòng, hay chính phủ Hoa Kỳ.


Tiểu Sử Trung Tá Tôn Thất Tuấn:
Lieutenant Colonel Tuan T. Ton, U.S. Army
Military Advisor
Bureau of East Asian and Pacific Affairs (EAP)
Department of State
LTC Ton has been serving as Military Advisor for the Bureau of East Asian and Pacific Affairs, Department of State, since September 2009. In this capacity, he is responsible for a wide range of political-military affairs including State-Defense interface, defense policy issues, security cooperation, foreign military assistance, and license for export of defense articles in support of the overarching U.S. foreign policy objectives.
LTC Ton was born in Vietnam and immigrated to the United States in 1977 under political refugee status, commonly referred to as “boat person.” After graduating from Southeastern Oklahoma State University, he pursued his dream of military service and eventually enlisted in the Army as an Infantryman in 1986 and subsequently served with the 1st Battalion 30th Infantry, 3rd Infantry Division in Schweinfurt, Germany.
Following his commission as an Infantry officer in 1989, LTC Ton served in various positions with 2nd Battalion 187th Infantry, 101st Airborne Division (Air Assault) including participation in Operations Desert Shield and Desert Storm as a Platoon Leader. During his next assignment with 1st Battalion 5th Cavalry, 1st Cavalry Division , he was responsible for the logistics of his battalion while deployed to Kuwait for Operation Intrinsic Action in response to aggressive actions by Iraq and later commanded C Company and Headquarters and Headquarters Company.
After earning the Foreign Area Officer qualification, LTC Ton served as the Country Director for U.S. Pacific Command directing the effort to develop the military relations and security cooperation with Cambodia, Laos and Vietnam. He then became a Policy Advisor to the Deputy Assistant Secretary of Defense for POW/Missing Personnel Affairs leading the formulation of U.S. national policy for personnel recovery and overseeing the Department of Defense’s active involvement in national civil search and rescue and crisis response.
Prior to his current assignment, LTC Ton participated in Operation Enduring Freedom serving as the U.S. Forces Afghanistan Liaison Officer to U.S. Embassy Islamabad and Pakistan’s Army Headquarters synchronizing the combined effort along the Afghanistan-Pakistan border.
Some of his awards and decorations included the Bronze Star Medal, Defense Meritorious Service Medal with 2nd Oak Leaf, Meritorious Service Medal, Department of State Meritorious Honor Award, Ranger Tab, Parachute Badge, Air Assault Badge, and Combat Infantryman Badge.
LTC Ton received a Master of Art in National Security Affairs from the Naval Postgraduate School and is fluent in Vietnamese. He is also a graduate from the U.S. Army Command and General Staff College. LTC Ton is married to his college sweetheart, Thu-Ha, and they have Andrew, a second lieutenant in the U.S. Army, and Stephanie, a junior at the University of Houston in Texas.
(as of 1 September 2010)

Thứ Năm, 9 tháng 9, 2010

Sài Gòn của tôi




Sài Gòn của tôi
(Thơ Song Thuận / Nhạc Nguyên Thanh)











Sài Gòn đêm


khi tất cả những căn nhà lên đèn
không còn thấy những con đường nhầy nhụa
không còn thấy những tuyên ngôn dán nơi cánh cửa
không thấy cả tàn tro trong bếp lửa trêu người!

Và thế là ta có một Sài Gòn
với tên tuyệt vời hòn-ngọc-viễn-đông
từng góc cạnh kim cương lóng lánh
sáng trên nền trời xanh thẳm Việt Nam!

cám ơn người gợi cho tôi nhớ lại
ba trăm năm - huyền thoại Sài Gòn
những ngọn đèn giữa lòng đêm mãi rọi
sáng lung linh xao xuyến đến vô cùng

khi những con tim Sài Gòn vụt sáng
ta có đêm Sài Gòn rực rỡ yêu thương
những ánh mắt vượt trùng dương say đắm
tìm thấy nhau - đêm lãng mạn Sài Gòn!

Cao Nguyên





tuổi thơ Sài Gòn

Ánh nắng cuối ngày thoi thóp bên hiên
Chiều Sài Gòn có người đi xa về buồn đến lạ
Trong gian nhà cuối phố
Dăm mái đầu con con
Dăm vừng mắt nâu non
Tròn xoe
Thao tháo
Dán vào màn vi tính
Mải miết những trò chơi


Vỉa hè nằm chơi vơi
Chờ những bước chân rộn ràng
Nhảy dây
Cút bắt
Tiếng cười trong vắt
Lẩn khuất phía sau lưng

Thằng bé ngập ngừng
Chìa tay tờ vé số
"Cô ơi ! làm ơn mua hộ
để chiều về Bà có được bát cơm"

Cô bé tóc cột cọng cỏ rơm
Lê bàn chân cõm còi qua từng hẻm nhỏ
Nhặt những mảnh ve chai người ta vứt bỏ
Như nhặt nụ cười vừa đánh rớt ngày hôm qua

Con búp bê trong xó nhà khóc oa oa
Cánh diều sau hè nằm rên rĩ
Chợt nghe môi mình đắng vị
Giữa phố đông người để lạc mất tuổi thơ xa

Đêm Sài Gòn,
lộng lẫy
xa hoa
Dòng người đi qua
vô tình
hờ hững
Lòng rưng rưng
khi tình cờ bắt gặp
nơi ngã tư đèn,
thằng nhỏ ăn xin mù
ngồi hát:
"Sài Gòn đẹp lắm...
Sài Gòn ơi...
Sài Gòn ơi..."

Diêu Linh










Sài Gòn yêu dấu ngày xưa

Sài Gòn xưa và nay





“Xin quí khách cài giây an toàn và không rời chỗ ngồi cho đến khi máy bay ngừng hẳn”, tiếng lưu ý của cô tiếp viên vang lên trong lúc chiếc Airbus của hãng Hàng Không Việt Nam nhẹ nhàng đáp xuống phi trường Tân Sân Nhất sau hơn hai giờ bay từ HongKong. Tôi đã đến Sài Gòn, thành phố đã từng một thời được gọi bằng cái tên mỹ miều: Hòn ngọc Viễn Đông của vùng Đông Nam Châu Á. Trở lại Sài gòn sau hơn hai năm xa cách, tôi lơ đãng đảo mắt nhìn ra ngoài cửa sổ máy bay, hình như quang cảnh chung quanh phi trường Tân Sân Nhất vẫn không có gì thay đổi so với những chuyến tôi về vào những năm trước đây. Vẫn cái mái nhà cũ kỹ, bờ tường mốc meo rêu phong , cây cỏ mọc cao và không ngay hàng thẳng lối của khu vực dành để bảo trì máy bay của Hàng Không Việt Nam. Có khác chăng là thêm dăm ba chiếc máy bay của Viet Nam Airlines đậu rải rác quanh đó, số lượng máy bay nhiều hơn đôi chút so với những gì người ta đã thấy ngày xưa. Thở phào một tiếng như để trút mọi lo âu và mệt mỏi ra khỏi thân mình sau một cuộc hành trình ngồi mười mấy tiếng trên máy bay, tôi lững thững, lục tục bước theo đoàn người vào trong sân bay để lo thủ tục nhập cảnh. Cái hình ảnh nghèo nàn của Tân Sân Nhất ngày trước, cửa khẩu nhập cảnh của Sài Gòn chỉ được ngăn chia bằng những tấm ván gỗ, ánh đèn không đủ sáng, cộng lẫn với nét mặt lạnh lùng của nhân viên cửa khẩu vẫn còn in đậm trong trí óc như ngày nào khi về thăm lại Sài Gòn. Những ai đã từng có dịp đặt chân đến các phi trường ở Bangkok , Seoul, Hongkong, Tokyo hay Kansai thì mới biết được cái rất khiêm nhường của sân bay Tân Sân Nhất và cái nét lạnh lùng của nhân viên làm việc lại càng không phải là sự đẹp đẽ của một xã hội văn minh. Thế mà, chỉ hơn hai năm thôi không gặp, Sài Gòn đã chuyển mình với thật nhiều thay đổi. Ngày xưa ấy, trước năm 1975, không hiểu vì sao mà Sài Gòn lại được mệnh danh là hòn ngọc viễn đông của miền Đông Nam Á. Có lẽ, những ngày tháng ấy Sài Gòn thật đẹp, thật thơ mộng cho những người Việt lưu vong vì một khúc rẽ của con đường lịch sử. Ngày đó có người Sài gòn nào mà không một lần thơ thẩn trên con đường Duy Tân, nơi có những hàng cây dài bóng mát, có ngôi trường Luật khoa, nơi có biết bao nhiêu cặp tình nhân đã từng dìu nhau dạo bước trên quảng trường Chiến Sĩ Trận Vong (quảng trường con Rùa sau này), để thơ thẩn cùng nhau dạo bước về hướng Vương Cung Thánh Đường, ngôi nhà thờ Đức Bà tường đỏ cao vút ngay gần giữa trung tâm của Sàigòn, cạnh ngôi tòa nhà Bưu điện cổ, mang kiến trúc của Pháp ngày xưa còn để lại cho Sài Gòn. Trước cửa Vương Cung Thánh Đường, con đường Tự Do nối dài từ nhà thờ Đức Bà đến tận bến sông Sàigòn, bến sông còn được biết đến bằng cái tên lịch sử: Bến Bạch Đằng, nơi có những cơn gió thổi vào chiều đêm để làm dịu đi những cơn nóng ban trưa, làm giảm đi cái ẩm ướt của Sàigòn vào những ngày nắng hạ. Tuy nắng đấy, tuy nóng đấy, nhưng không vì thế mà nắng Sài gòn không đẹp, không có cái hồn của nó. Nhà thơ Nguyên Sa của Sài Gòn năm 1960 đã đưa Áo lụa Hà Đông vào nắng Sài Gòn để nhắn nhủ đến người yêu rằng “nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát...bởi vì em, mặc áo lụa Hà Đông ...” Có lẽ ít người Sàigòn biết về áo lụa Hà Đông của Nguyên Sa như thế nào! Nhưng cần gì phải biết về áo lụa Hà Đông. Cứ mỗi chiều tan học, biết bao nhiêu tà áo trắng tung bay trên khắp mọi cổng trường, nào là Trưng Vương , nào là Gia Long, nào là Lê Văn Duyệt, nào là Nguyễn Bá Tòng...và còn nhiều, nhiều nữa. Đâu phải chỉ một mình Nguyên Sa yêu màu lụa trắng! Nguyên Sa nói cho mình và còn nói hộ cho tất cả đám con trai của Chu Văn An, của Võ Trường Toản, của Petrus Ký, của Nguyễn Trãi, của Hồ Ngọc Cẩn ... của những cậu học trò ít nhiều đã có những lần trốn học... đứng ẩn sau những đám cây ...ngẩn nhìn những áo trắng tiểu thư tan học để mà thương thầm trộm nhớ . Sài Gòn không có Hồ Gươm, không có Hồ Tây, không có Hồ Bẩy Mẫu như Hà Nội nhưng Sài Gòn có khu vườn Bách Thảo, có Cát Lái Thủ Thiêm, có Lái Thiêu Thủ Đức vây quanh, có những vườn trái cây nặng chĩu hai mùa để che nắng cho Sài Gòn và nơi đây cũng là nơi hẹn hò của những cặp tình nhân vào cuối tuần, đến đây tâm tình thủ thỉ, thay vì đi dạo phố làm đẹp Sài Gòn cuối tuần thứ bảy, chủ nhật. Sài Gòn vào mùa mưa thì cũng có những điểm riêng của Sài Gòn. Trời đang nắng bỗng mưa chợt ào đến như thác lũ, mưa chỉ rơi một lúc thật ngắn rồi tạnh, rồi lại mưa. Hình như những cơn mưa Sài Gòn cũng chẳng khác nào người vợ Sài Gòn khi giận chồng, giận thật giận nhưng chẳng được bao lâu rồi lại quên ngay như cơn mưa xối xả rồi lại tạnh... ngay. Nếu kể về các điểm đặc biệt của Sài Gòn thì phải kể đến Sài Gòn có một thứ âm thanh thật đặc biệt, đó là tiếng rao hàng vào buổi trưa, buổi chiều, và buổi tối. Người Sài Gòn thường hay nghe tiếng rao mua ve chai , tiếng rao bánh, tiếng rao chè. Trời đang mưa cộng thêm tiếng rao hàng, một thứ âm thanh nghe thật là buồn, nhưng đấy lại là một thứ âm thanh thật khó quên cho người Sài Gòn, những âm thanh mà có lẽ chỉ có Sài Gòn mới có và làm người Sài Gòn không quên được Sài Gòn. Đêm về Sài Gòn dịu mát và thật không có gì thú vị hơn … là nghe tiếng gõ nhịp lóc cóc của xe bán hủ tíu mì rong hay tiếng xúc xác của chú đấm bóp xúc xác vang lên từ đầu ngõ. Ngày nay, Sài Gòn hãy còn nguyên vẹn những âm thanh ngày xưa. Không biết bao giờ mới hết đi những tiếng rao hàng kỷ niệm. Âm thanh thì còn đó nhưng hòn ngọc Viễn Đông ngày xưa thì đã và đang được trau chuốt dũa gọt rất nhiều. Con đường Tự Do ngày xưa, Đồng Khởi ngày nay, hai hàng cây như đã cao hơn, những tàng cây lớn rộng hơn che mát cả con đường. Khách sạn Caravell bây giờ là khách sạn đẹp nhất, sang trọng nhất và cũng đắt nhất Việt Nam. Khách sạn và nhà hàng Maxim được sửa sang lại trông rất ra vẻ Pháp, vẻ Tây. Ngồi nhấm nháp một ly bia hay uống ly cà phê, lơ đãng nhìn ra bờ sông Sài Gòn ngắm bàn dân thiên hạ qua lại và... hít bụi cuả Sài Gòn. Không hiểu sao, người ngoại quốc hay Việt kiều lại cho đây là một cái thú. Kể cũng lạ! Nhà hàng La Pagode, Continental vẫn là những nơi chốn không phải để dành cho người bình dân. Tạt qua góc ngã tư Nguyễn Huệ - Lê Lợi, thương xá Tax cũ kỹ , tối om ngày nào cũng đã được thay da đổi thịt trông như một thiếu nữ đài các với các thời trang đắt đỏ. Dọc theo phố Lê Lợi, các cửa hàng sầm uất kéo dài cho đến tận khu chợ Bến Thành. Khu đất bỏ hoang của nhà bán vé Hàng Không Việt Nam ngày xưa đã biến thành công viên cũng khá mát mắt nhất là vào ban đêm lúc Sài Gòn lên đèn . Ngoài ra, ngay sau lưng nhà thờ Đức Bà là một khu shopping tương đối đẹp, có tên là Diamone Plaza và đúng như cái tên của nó “Diamone” chỉ dành cho những người giầu có, Việt kiều hay người ngoại quốc. Bên trong có cả một tầng lầu dành bán đồ chơi, áo quần cho trẻ em và có cả một tầng để chơi Video games và bowlling. Từ nay, những người giầu có của Sài Gòn không còn sợ không có chỗ tiêu tiền nữa! Nói về những nơi chốn đắt đỏ của Sài Gòn bây giờ thì chắc cũng phải mất ít nhất vài trang giấy. Thôi vậy, tìm một chỗ re rẻ để mà có một nơi riêng tư tình tự chứ! Ngày xưa thì đi Lái Thiêu, Thủ Dầu Một, Thủ Đức hay Bình Dương cuối tuần thì bây giờ người Sài Gòn có thể đi phà sang Cần Giờ hưởng thú thiên nhiên đôi chút. Chứ hít không khí ô nhiễm cũng đã 6 ngày trong 1 tuần rồi còn gì! Người Sài Gòn đã tung bay đi tứ xứ trên khắp địa cầu này, nhưng người Sài Gòn vẫn luôn là Sài Gòn vì ở đâu có nhậu ... là có người Sài Gòn. Nhậu ..Nhậu , không biết nhậu. ..thì chắc anh không phải người Sài Gòn mất rồi. Rời Sài Gòn với một chút vương vấn khác với những lần về trước. Phi trường Tân Sân Nhất đã được sửa sang bên trong thật gọn ghẽ và sang trọng hơn. Người du khách cảm thấy một chút gì dễ thở hơn, thoải mái hơn những ngày xa xưa. Mọi chuyện được giải quyết một cách nhanh chóng. Tại vì Seagames sắp đến! Hay tại vì Sài Gòn đã thực sự chuyển mình? Như là một viên ngọc của vùng Viễn đông, Sài Gòn càng ngày càng có thêm các điều kiện để cho du khách năm châu bốn bể trên thế giới đến thăm. Sài gòn sẽ đẹp hơn, chắc chắn sẽ đẹp hơn vì tự nó, Sài Gòn đã từng là viên ngọc cho nên dù thế sự thăng trầm như thế nào đi nữa thì ngọc vẫn muôn đời là ngọc. Sài Gòn vẫn là Sài Gòn của tôi ơi !

Hoài Nguyên

Thứ Tư, 8 tháng 9, 2010

Hát Giang Trường Hận

Nguyên bản Hát Giang trường hận
Thời điểm sáng tác của bài hát vào khoảng 1942-1943, trong một đợt cắm trại do Tổng hội Sinh viên Đông Dương tổ chức tại Mê Linh. Trong dịp này, Lưu Hữu Phước đã sáng tác bài hát nguyên thủy với tên gọi Hát Giang trường hận. Bài hát với nhịp điều trầm hùng, gợi nhớ đến công ơn và sự hy sinh của Hai Bà Trưng kháng chiến chống ách đô hộ của phong kiến phương Bắc.

HÁT GIANG TRƯỜNG HẬN

Đêm khuya âm u
Ai khóc than trong gió đàn
Sóng cuốn Trưng Nữ Vương
Gợi muôn ngàn bên nước tràn
Hồn ai đang thổn thức trên sông
Hồn quân Nam đang khóc non sông
Sát khí ngất đất bao lớp thây muôn bóng huyền
Không gian như lắng nghe bao oan hồn
Đang xao xuyến xót thương hai Nữ hoàng tuẫn thân
Dù mạng vong lửa hờn chưa tan
Làn sóng đang thét gào gió vang tiếng nguyền cùng gươm đao
Nguyện cùng sông đẫm máu
Tấm thân nát không nao
Nhìn thấy quân Hán dầy xéo
Sông núi nhà dòng châu rơi
Khắp nước non mờ tối dưới trời
Nào ai yêu nước nhà
Vì giống nòi vì hận thù
Làm sao đưa dân qua cơn đau khổ
Người Nam anh dùng quyết dâng đời sống cho non sông
Liều mình vào tên khói
Cùng người thù ta quyết không đạp đất chung
Trai hùng tráng lúc quốc biến xả thân
Lấy máu nóng cứu dân khỏi hồi nguy nan
Chí hiên ngang
Bao năm công đức
Xây đắp nên non nước nhà
Sóng gió nguyện khắc trong
Tấm quốc dân không xóa nhòa
Vì đâu vua Trưng nữ ra quân
Vì non sông tử tiết vong thân
Nước cuốn réo rắt như thiết tha gọi quốc hồn
Thiên thu trên Hát Giang vang tiếng lòng
Dân đau đớn khóc giang san phải hồi ngửa nghiêng
Cùng nhau khấn non nước thiêng liêng

Hồn tử sĩ

Năm 1944, Lưu Hữu Phước vào Nam Bộ theo yêu cầu của Mặt trận Việt Minh tham gia vận động cho phong trào "Xếp bút nghiên" của sinh viên ba miền Nam - Trung - Bắc rủ nhau bỏ học để trực tiếp tham gia hoạt động cách mạng. Đầu năm 1945, khi tổ chức Thanh niên Tiền phong được thành lập, ông trở thành một trong những thủ lĩnh của phong trào. Tháng 8 năm 1945, ông tham gia cướp chính quyền tại Sài Gòn. Sau khi Pháp tái chiếm Nam Bộ, ông giữ chức vụ Giám đốc phòng xuất bản Nam Bộ cho đến tận tháng 5 năm 1946. Chính trong thời gian này, ông cùng với một đồng nghiệp có tên là Hồng Lực đã sửa chữa và đổi tên lại bài hát Hát Giang trường hận thành Hồn tử sĩ để tưởng nhớ và chiêu hồn các anh hùng liệt sĩ trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

HỒN TỬ SĨ

Đêm khuya âm u
Ai khóc than trong sương mù?
Gió rít qua lũy tre như nghiến răng vương mối thù
Hồn ai kia đau xót chơi vơi?
Hồn quân Nam căm uất chưa nguôi.
Uất khí ngất đất,
Bao lớp mây che kín trời
Sóng thét qua bãi lau như nhắc người xưa anh dũng
Đã hy sinh giữ gìn nước non
Lòng Bà Trưng vững bền sắt son
Làn gió đưa sóng trào, nước pha máu hồng rừng gươm đao
Cờ Bà Trưng lướt gió
Nước sông Hát cuốn mau.
Rền rĩ như có người, thoáng nghe gió gọi từ xa xôi
Có tiếng loa rộn rã núi đồi
Nào ai yêu nước nhà, yêu giống nòi thề một lòng
Vùng lên trong mưa gió trong gươm súng
Đoàn quân anh dũng tiến lên gìn giữ lấy non sông
Tường đồng là nhân dân
Là ngàn người chung sức như một đứng lên,
Ta cùng tiến!
Quyết giết hết quân thù,
Đón ánh sáng chiếu rạng nước nhà thắm tươi
Đến muôn đời
Nhân dân đau thương
Ghi nhớ ơn của bao người
Chiến đấu dâng tấm thân cho nước nhà, cho giống nòi
Nhìn gương xưa liệt sỹ nêu cao
Lòng sôi lên cương quyết noi theo
Nước mắt rớt xuống,
Bao xót thương bên nấm mồ
Khói bốc nghi ngút bay quyện lá cờ
Chưa nguôi máu những con yêu thác vì nước non
Ngàn muôn năm Tổ Quốc ghi ơn

Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93n_t%E1%BB%AD_s%C4%A9

Hát Giang Sóng Cuộn

Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng ở huyện Mê Linh vào năm Canh Tí (AD 40) đã để lại những trang sử hào hùng cho hậu thế.

Dẫu rằng lực lượng yếu kém lại không gặp thời, nhưng hành động của Hai Bà đã làm chấn động lòng người và triều đình Đông Hán.

Tác giả viết bài này để ghi lại giờ phút cuối của Vua Bà, để thấy sự can đảm phi thường của phụ nữ Việt Nam.



Quận Giao Chỉ, Tô Định quan Thái thú,

Tàn bạo, tham lam, cướp của, giết người.

Thù nhà, nợ nước, mối hận khôn nguôi,

Chị em khởi nghĩa, trọn đời hy sinh.

Trên lưng voi, vung kiếm thép điều binh,

Cờ lọng phất phới, uy nghi Hai Bà.

65 thành trì đoạt lại về ta, (1)

Tàn quân Tô Định chạy ra Nam Hải.

Đô Mê Linh, đất Lĩnh Nam một giải, (2)

Xưng Vua Bà, làm rõ mặt quần thoa.

Triều đình Hán rúng động, lo xa.

Sai Mã Viện, Lưu Long mang quân đánh. (3)

Năm Nhâm Dần, mùa xuân, thất bại,

Lãng Bạc thua, phải chạy đến Cẩm Khê.



Thế yếu, quân vỡ tứ bề,

Thân cô, lực tận, biết về nơi nao?

Rừng sâu lạc lối, hoang mang,

Vẳng tiếng kêu thét của ngàn thương binh.

Nặng nề lê bước chân đi,

Đến dòng sông Hát, ầm ì sóng vang. (4)

Hoàng hôn chiếu rọi trên ngàn,

Sắc trời nhợt nhạt, màn đêm xuống dần.



Than ôi bước đường cùng,

Không chỗ dung thân, ẩn náu,

Trước mặt dòng sông sóng cuộn đục ngầu.

Quân Đông Hán đuổi theo sau,

Thê lương, u uất nhuốm màu cỏ cây.

Gục đầu nuốt hận,

Đau nào hơn, nhục nào hơn,

thua trận, tan hàng.

Bi thương, lệ đẫm, khấn thầm:

Thù nhà, nợ nước chưa xong kiếp này.

Luân hồi xin được đầu thai,

Bảo toàn nước Việt, diệt bầy Tàu ô.

Sụp đầu tạ lỗi núi sông,

Vọng bái quê cũ, linh hồn dân quân.

Đành dùng nước rửa phong trần, (5)

Giữ vẹn khí tiết, tinh thần Mê Linh.

Trăng vụn vỡ lung linh,

Sóng cuồn cuộn quanh mình,

Lạnh buốt tim, run bần bật,

Đất trời đen thẳm, đổ ập, nhận chìm.

Buông xuôi một kiếp phù sinh,

Ngàn năm lưu sử: Mê Linh, Vua Bà.



Nguyễn P. Thúy, 03/26/2010





(1) Hai Bà lấy lại được 65 thành trì ở đất Lĩnh Nam.

(2) Hai Bà xưng vương năm Canh Tí (AD 40), đóng đô ở Mê Linh.

(3) Mã Viện xuất quân năm Tân Sửu (AD 41), thắng trận năm Nhâm Dần (AD 42)

(4) Sông Hát (Jin river) là một phần của sông Đáy bây giờ.

(5) Sử Trung Hoa và quyển“The Birth of Vietnam“ của ông Keith Weller Taylor cho là hai Bà bị bắt và bị chém đầu, nhưng theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư thì hai Bà đã trầm mình ở sông Hát, năm Quý Mão (AD 43). Cái chết của Vua Bà không thể kiểm chứng được. Riêng tác giả thì tin là Vua Bà đã trầm mình chứ không chịu nhục để giặc bắt, một hành động can đảm, một hy sinh vĩ đại!