Thứ Ba, 26 tháng 3, 2013

Hòn Vọng Phu

“Hòn Vọng Phu” và nhạc sĩ Lê Thương


Nàng Tô Thị  trên núi Vọng Phu - Đồng Đăng  (tỉnh Lạng Sơn)

“Hòn Vọng Phu” là tên gọi những tảng đá có hình dáng một thiếu phụ bồng con chờ chồng
trên đỉnh núi hoặc nơi ghềnh đá ven biển. Người ta cũng gọi “núi vọng phu” là núi có “Hòn
Vọng Phu”. Sự tích nguyên thủy “Hòn Vọng Phu” mang một nội dung thê thảm, trái oan về
một mối tình “loạn luân”:

Tuy nhiên, bản trường ca nổi tiếng của nhạc sĩ Lê Thương cũng có tên là “Hòn Vọng Phu”
nhưng lại chứa đựng  một nội dung khác, tích cực hơn, diễn tả cảnh một thiếu phụ có chồng
đi lính đánh giặc phương xa…Nàng chinh phụ vẫn một lòng chung thủy, ôm con chờ chồng,
mòn mỏi tháng năm cho tới khi hóa đá…

Nhiều nơi trên đất nước Việt Nam có hòn “Vọng Phu”,  như: “Nàng Tô Thị” trên núi Vọng
Phu ở Lạng Sơn, Núi Vọng Phu thuộc dãy núi Bà ở Bình Ðịnh, Núi Vọng Phu ở Thanh Hóa,
Nghệ An, Quảng Trị, Quảng Nam, Tuy Hòa, Khánh Hòa, Daclac … Tại các nước Á Châu
như Trung Hoa, Nam Dương cũng có “Núi Vọng Phu”.
Nàng Tô Thị tại Lạng Sơn, trên núi Vọng Phu, gần động Tam Thanh đã được Ca Dao nhắc
tới:

“Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa
Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh”
Truyền thuyết cho rằng chồng của nàng Tô Thị ở Lạng Sơn đã đi lính đánh giặc phương
Bắc xâm lược mãi không về, khiến nàng ôm con lên núi ngóng trông năm này sang năm
khác, giữ tiết trung trinh rồi hóa đá.


Nàng Tô Thị

Bồng con mòn mỏi dõi chân mây
Đăm đắm chờ chồng, trận gió lay
Thương nhớ ngóng trông, vầng tóc bạc
Khát khao mong đợi, tấm thân gầy
Đầu sông đối bóng, ôi sầu thế
Góc núi soi mình, đau đớn thay!
Hóa đá nghìn năm nàng vẫn đợi
Chàng đi thăm thẳm có về đây?

(Vương Sinh)

Sự tích  thương tâm về “Hòn Vọng Phu” ở Bình Định , được kể như sau:” Xưa có hai anh em
ruột,  lúc còn nhỏ chơi đùa, người anh lỡ tay ném đá trúng đầu em gái máu ra lênh láng và
ngã xuống, ngất đi. Người anh sợ quá bỏ trốn. Sau lớn lên, hai người gặp nhau mà không
biết là anh em. Họ lấy nhau và sinh được một bé gái. Một hôm người chồng phát hiện trên
đầu vợ có vết sẹo lớn, bèn gạn hỏi và biết đó là em gái mình. Chàng đau khổ vì lỡ phạm tội
loạn luân. Sau đó, chàng âm thầm bỏ đi mà không nói gì. Người vợ không biết chồng đi đâu,
ngày ngày lên núi ngóng trông, lâu rồi hóa thành đá…”


Sự tích Hòn Vọng Phu
(núi Bà Bình Định)Ôm con , hóa đá chờ chồng
Đâu hay tan nát cõi lòng người đi…

Xưa hai anh em nhà kia
Chẳng may tai nạn, chia ly đôi bờ
Lớn lên, gặp lại nào ngờ
Tình duyên oan nghiệt, tóc tơ vợ chồng

Ngắm nàng chải tóc soi gương
Bỗng chàng nhìn thấy vết thương trên đầu
Hỏi ra…ruột sót như bào
Vợ yêu: em gái - lẽ nào thế gian…?!

Bỏ đi, chàng khổ vô vàn
Nàng ôm con đợi, đoạn tràng có hay?
Hòn Vọng Phu – Núi Bà đây
Tích xưa Bình Định, kể hoài vẫn thương…!

(Vương Sinh)

Câu chuyện thương tâm kể trên, có thể  không phải là nguồn cảm hứng của nhạc sĩ  Lê
Thương khi ông  sáng tác  bản trường ca “Hòn vọng Phu”.
Thực vậy, trường ca Hòn Vọng Phu của Lê Thương gồm 3 phần:


- Phần 1:  Nói về đoàn quân hùng dũng ra sa trường đánh giặc theo lệnh vua và theo nhịp
trống dồn. Chồng nàng “Chinh phụ vọng phu” cũng ở trong đoàn quân, muốn  nhắn nhủ:.

“Nàng về nuôi cái cùng con”
“Để anh trảy hội nước non Cao Bằng.” (Ca Dao)

Đúng vậy, khi giặc Nguyên Mông xâm phạm bờ cõi nước Nam thì hàng hàng lớp lơp trai
tráng nô nức lên đường đánh giặc. Ca dao gọi đó là ngày “trảy hội”, Quang Dũng coi đó là
ngày vui: “Buông tay gầu vui lại thuở  bình Mông”…Phụ nữ nước Nam, nếu không bận bịu
con thơ mẹ già, chắc cũng sẽ lên đường cùng chồng đánh giặc: ” Giặc đến nhà , đàn bà
phải đánh”, theo gương Trưng, Triệu thuở xưa. Rất tiếc, nàng chinh phụ có thể bận bịu con
thơ, nên năm tháng chờ chồng lâu quá hóa thành đá. Hình ảnh “ hóa đá” không mang nghĩa
đen như một huyền thoại truyền thuyết, mà theo nghĩa bóng diễn tả tấm lòng chung thủy
của người chinh phụ không có gì lay chuyển nổi, mãi mãi  “trơ trơ như đá, vững như đồng”.
Chao ôi, tấm lòng trung trinh tiết liệt của người phụ nữ Việt Nam mới cao cả làm sao!:

“Phụ nữ Việt Nam trung trinh, tiết hạnh”
“Trang điểm cuộc đời muôn cánh hoa thom”
“Ra ngoài giúp nước, giúp non”
“Về nhà tận tụy chồng con một lòng.” (VS)

http://www.hungsuviet.us/lichsu/HonVongPhu1.html

- Phần 2:  Nội dung bản nhạc nói về tình cảnh chinh phụ ngày ngày ôm con lên núi ngóng
tin chồng. Tấm lòng chung thủy của nàng “Vọng Phu” nào có khác gì tâm sự  của nàng
“chinh phụ” trong “Chinh Phụ Ngâm Khúc” của Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm? Nghe
cũng  ai oán,  nỉ non khiến đất trời, cỏ cây hoa lá, núi sông và chim chóc đều thông cảm,
kéo nhau đến chia sẻ với nàng, xem chàng về  hay chưa?
“Có ai suôi vạn lý… nhắn đôi câu giúp nàng …nhắn rằng nàng vẫn đợi… cỏ cây, sông núi
muốn khuyên nàng đừng ngóng trông nữa, nhưng nàng vẫn  kiên nhẫn đợi chờ… cho dù
hóa thành đá…vẫn trông chờ từ ngàn năm này tới ngàn năm sau…
“Đá mòn, nhưng dạ chẳng mòn”
“Tào khê nước chảy vẫn còn trơ trơ”

http://www.hungsuviet.us/lichsu/HonVongPhu2.html

- Phần 3: Chinh phu thắng trận trở về, qua đồi núi chập trùng, đền đài, lăng miếu nhưng
nàng “chinh phụ” không còn nữa. Nàng  đã hóa đá, ôm con trên đỉnh núi, thành hòn “Vọng
Phu” …

http://www.hungsuviet.us/lichsu/HonVongPhu3.html

Được biết, nhạc sĩ Lê Thương sáng tác “Hòn Vọng Phu” tại Bến Tre, một tỉnh tại miền Nam
Việt Nam trong khoảng 1945- 1947, là thời kỳ chiến tranh chống Pháp dành độc lập bùng
nổ, sau hơn 60 năm Việt Nam bị Pháp đô hộ. Thời buổi chiến chinh nào cũng vậy, những
chàng trai ra đi “mấy khi mà trở lại”, để người vợ trông đợi mòn mỏi, “hóa đá” chờ mong.
Hiện tượng “hóa đá” tức là hiện tượng “hóa thạch” trong thiên nhiên, nghĩa là cần một thời
rất lâu dài. Lê Thương đã tạo cho bài hát một lý tưởng, đáp ứng nhu cầu của những chiến
sĩ ra tiền tuyến chiến đấu bảo vệ giang sơn, cũng như vinh danh những người vợ lính tại
hậu phương. Nhạc sĩ Lê Thương đã bỏ qua tình tiết của truyền thuyết rất thương tâm về hai
anh em lấy lầm phải nhau, mà khai thác triệt để ý nghĩa về sự tích nàng Tô Thị  trên núi Hòn
Vọng Phu gần sông Kỳ Cùng, động Tam Thanh ở Lạng Sơn. Nàng Tô Thị đầu hướng vê
phía bắc, lưng quay lại phía nam. Cũng vì thế, trong 3 phần lời  nhạc của bản trường ca
“Hòn Vọng Phu”,  ta chỉ thấy hình ảnh “chinh phụ” và “chinh phu” mà không hề thấy chuyện
buồn đứt ruột về hai anh em trong truyền thuyết “Hòn Vọng Phu” tại núi Bà Bình Định.
Theo tài liệu trên Wikipedia, nhạc sĩ Lê Thương tên thật là Ngô Đình Hộ, sinh ngày 8 tháng
1 năm 1914 tại phố Hàm Long Hà Nội.  Năm 1935, ông dạy học tại Hà Nội và Hải Phòng,
cùng các nhạc sĩ Canh Thân, Tô Vũ, Hoàng Quý… lập nhóm sáng tác và phụ diễn cho ban
kịch của Thế Lữ. Năm 1941, ông vào Nam, ở tại Bến Tre và Sài Gòn, làm nghề  dạy học
(môn sử địa) tại Trung học Petrus Ký và nhiều trường khác. Ông cũng làm việc tại Bộ Quốc
Gia Giáo Dục thời Việt Nam cộng Hòa. Năm 1951, ông bị Pháp bắt cùng với nhạc sĩ Phạm
Duy và Trần Văn Trạch vì có tinh thần yêu nước. Những bản nhạc của ông được coi là
những tác phẩm tiền phong phối hợp âm tiết Tây phương với nhạc ngũ cung của Việt Nam.
Ông sáng tác rất nhiều , nổi tiếng nhất là trường ca Hòn Vọng Phu (3 bài ), Thằng Cuội,
Học Sinh Hanh Khúc, Truyền Kỳ Việt Sử…

Nhạc sĩ Lê Thương lập gia đình và có 9 người con. Sau 1975, ông ngưng sáng tác và mất
tại Sài Gòn năm 1996.

“Hòn Vọng Phu” là hình ảnh một người vợ bồng con chờ chồng trở về, với tấm lòng trung
trinh tiết liệt, dù cho có hóa thành đá, nàng vẫn đợi vẫn chờ. Trong dân gian câu truyện về
“Vọng Phu” có nhiều tình tiết éo le, đôi khi pha trộn cả tích Tàu (như tích Nguyệt Lão Se
Tơ). Tuy nhiên , đối với nhạc sĩ Lê Thương, một nghệ sĩ có tinh thần yêu nước và tâm hồn
trong sáng luôn hướng về tương lai  “mầm non dân tộc”, ông đã lấy cảm hứng từ tâm trạng
nhớ mong của người chinh phụ, chờ chồng đi lính đánh giặc ở phương xa. Đó là nỗi niềm
đau xót của người nghệ sĩ đứng trước cuộc chiến kéo dài trên quê hương Việt Nam đau
khổ. Ta có  thể tạm kết luận “Hòn Vọng Phu” trong bản Trường Ca của nhạc sĩ Lê Thương
mang hình ảnh của nàng Tô Thị ở Đồng Đăng, tỉnh Lạng Sơn, hướng về ải Nam Quan đăm
đắm chờ chồng đi lính đánh giặc giũ gìn biên ải.  Hình ảnh này chắc chắn sẽ làm nức lòng
những chiến sĩ ra đi chiến đấu giữ nước giữ bờ, hứa hẹn ngày về vinh quang, lưu danh
muôn thuở, vì “nguồn sử xanh âm thầm vẫn sống”, sống mãi trong lòng dân tộc.  


Song Thuận



 

Thứ Bảy, 23 tháng 3, 2013

Sến Già Ham

 

Thấy tôi đứng loay hoay tìm kiếm mãi trên các kệ đầy nhóc băng đĩa ngổn ngang, cô bé bán hàng đến gần hỏi:
- Bác muốn kiếm loại nào?
- Nhạc. Nhạc xưa.
Cô đọc vài cái tên gì đó…
- Không. Xưa hơn nữa kìa. Chừng nửa thế kỷ trước. Có không?
- Bác chờ con lấy.
Một lúc, cô mang ra một cái... giỏ, đúng hơn là một cái rổ to, hình chữ nhật, chứa hàng ngàn đĩa CD, buộc dây thun từng cộc nói bác lựa đi.
Tôi giật mình thấy trên thành rổ dán mấy mảnh giấy viết tay bằng chữ in khá to: SẾN GIÀ NAM.
Tuần trước, vào một siêu thị ở một tỉnh miền Đông nọ tôi thấy nơi người ta bán băng đĩa có rất nhiều rổ đựng các thứ, được phân loại như có rổ phim hành động, phim kinh dị, phim Mỹ, phim Hồng Kông... và đặc biệt có hai rổ ghi: Nhạc sến nam, Nhạc sến nữ. Tôi định mua vài thứ xem sao, nhưng thấy kỳ kỳ nên thôi. Tuy vậy, tôi cũng học được vài từ mới. Có điều ở cửa hàng này, một cửa hàng bán băng đĩa khá lớn ở Thành phố có cách phân loại độc đáo hơn: Sến Già Nam. Tôi đoán đây là loại nhạc “sến” dành riêng cho nam giới “già”!
- Có Sến Già Nữ không cháu? Tôi tò mò.
- Dạ có. Bác kiếm xong Sến Già Nam con đưa Sến Già Nữ ra bác lựa!
Thì ra nam nữ đây không phải khách hàng mà là ca sĩ. “Sến” do “nam” ca sĩ hát cho người “già” nghe thì gọi là ... Sến Già Nam v.v...Tiếng Việt ta thiệt hay! Nhớ lần ra Hà Nội năm xưa, người ta giới thiệu tôi một xí nghiệp có tên là Xí nghiệp Cao Xà Lá.  Hỏi “Cao xà lá” là cái gì? Là Cao su, Xà bông và thuốc Lá, gọi tắt Cao Xà Lá!  
Tôi vừa tủm tỉm cười vừa lựa đống băng đĩa trong rổ Sến Già Nam, chọn được vài đĩa. Nhiều khi cả đĩa chỉ có một bài ưng ý. Thôi vậy cũng được. Có một bài mình thích là quý rồi ! Tôi hỏi còn Sến Già Nữ đâu? Cô bưng ra một rổ Sến Già Nữ nữa và nhìn tôi có vẻ nghi tôi mê cô ca sĩ nào đó của năm mươi năm trước!
“Sến” là gì ? Người ta bảo là do chữ Marie sến, tức người giúp việc, người ở đợ, con sen,  người nhà quê, ít học. Nhạc sến là nhạc... tầm thường, nhà quê mà các cô gái này thường hát hỏng để trải tâm sự nỗi lòng khi vô công rỗi việc.
Đã có những bài báo, những tranh luận sôi nổi về thứ nhạc « sến hay không sến” này. “Sến” mà sao người ta thuộc, người ta khắc cốt ghi tâm? “Sến” mà sao người ta cười người ta khóc?... Gần đây trên mạng, nhiều bạn trẻ « còm » rằng nhờ “sến” mà nuôi dưỡng được tâm hồn trong một thế giới vô cảm, và có bạn còn rất tự hào rằng đã sưu tầm được hàng ngàn bản nhạc « sến » để làm của quý!
Còn tôi, tôi chỉ biết nhạc hay hay dở với mình mà thôi. Hay là thứ làm tôi “rung động sáu cách” (nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý)..., còn dở là nhạc “nghe không vô” !
Chiều làng em của Trúc Phương chẳng hạn, với tôi là một bài hay, không chỉ rất lãng mạn “khói lam buồn như muốn ngừng thời gian” mà còn do tác gải viết bài này lúc ở Bình Tuy, quê tôi, cho một cô gái mà tôi có lẽ cũng quen biết.
Anh ơi nhớ về thăm thôn xưa,
Để nghe tiếng ngọt ngào ru bóng dừa
Xa xôi bước người anh lữ thứ
Nhớ thương hoài câu hát chiều làng em..
Còn Mộng ban đầu của Hoàng Trọng làm sao quên được:
Trông em mừng vườn cau
Trái mập tròn xuân mới
Bỗng me cười me nói
Con bé lớn thật mau
Mai mốt mẹ ăn trầu
« Mai mốt mẹ ăn trầu » bây giờ không còn nữa nên « đám trẻ » không biết là phải rồi. Còn những trái cau « mập tròn xuân mới » cũng khó kiếm ! Bây giờ là bưởi, là dưa hấu cả rồi!
Rồi Lối về xóm nhỏ của Trịnh Hưng
Có những chiều hôm
Trời nghiêng nắng xế đầu non
Nắng xuống làng thôn
Làm cho đôi má em thêm giòn
Lúa đã lên bông
Mắt già tươi sáng thôi chờ mong
Tiếng hò cô gái bên Cửu Long
Mơ rằng mai lúa lên đầy bông...
 
hay Tình lúa duyên trăng của Hoài An 
Quê hương ta đất xưa vốn nghèo
Nhưng giàu tình thương nhau
Biết yêu lúa mầu xa cuộc đời cơ cầu
Gái trai biết làm tròn lời thề khi ban đầu
Tôi không hiểu vì sao những lời ca đầy tình quê hương, đất nước, tình gia đình, tình gái trai « biết làm tròn lời thề khi ban đầu» như vậy mà « sến » được ? 
Hà Đình Nguyên trong một bài báo về vấn đề nhạc sến đã viết: « ...nhưng không biết do đâu mà hầu như tất cả các bản nhạc được sáng tác trước 1975 - nhất là những bản có điệu boléro, rumba... đều bị quy là nhạc sến (tiếng "sến" được hiểu theo nghĩa dè bỉu, mỉa mai, khinh thị...).
... nhưng sẽ thật sai lầm khi quan niệm "nhạc sến" với hàm ý khinh thị, chê bai bởi trong dòng nhạc bình dân này có rất nhiều tuyệt tác mà chưa chắc các nhạc sĩ dòng nhạc "hàn lâm" đã sáng tác được, như: Khúc ca ngày mùa (Lam Phương), Hoài thu (Văn Trí), Xóm đêm (Phạm Đình Chương), Ai lên xứ hoa đào (Hoàng Nguyên), Nắng chiều (Lê Trọng Nguyễn), Đường xưa lối cũ (Hoàng Thi Thơ), Nửa đêm ngoài phố (Trúc Phương), Thương hoài ngàn năm (Phạm Mạnh Cương), Nắng lên xóm nghèo (Phạm Thế Mỹ)... » 
Còn nhà thơ Đỗ Trung Quân có một bài thơ được Vũ Hoàng phổ nhạc rất hay tên Phượng Hồng có lần bực mình : 
"Nói chú đừng giận, bài Phượng Hồng phổ thơ của chú sến chảy nước", chàng trai 20 tuổi tóc tai kiểu hip-hop nói thẳng thừng. …Thế hệ trẻ 8X hôm nay không thể tin nổi, không thể chấp nhận nổi có một gã nào đó trạc tuổi mình suốt một năm dài ngồi cạnh bàn, học cùng lớp để ý cô bạn gái mà vẫn cứ: "bài thơ còn trong cặp... giữa giờ chơi mang đến lại mang về...". Nhát gái đến thế, "yếu" đến thế thì "sến" là cái chắc. Bây giờ, chỉ cần một cú nhắn tin chớp nhoáng là alê hấp! Ra cà phê hộp ngồi ngay. Yêu à? Tỏ tình à? Đây, nhanh gọn lẹ: "Anh là number one, vừa đẹp trai lại vừa dễ thương...". Không yêu nữa cũng chẳng sao: "thà như thế, thà rằng như thế...". Đỡ lôi thôi, đỡ mất thì giờ, khỏi mang tiếng "sến"…
Gần đây nhiều ca sĩ bắt đầu quay về với nhạc « sến » có lẽ để đáp ứng nhu cầu tình cảm của con người trong một thế giới ngày càng vô cảm chăng! Có điều, vì sến... thiếu gốc nên nhiều khi hát sai mà không hay. Chẳng hạn « Đêm qua chưa mà trời sao vội sáng » trong  Chiếc lá cuối cùng của Tuấn Khanh, có ca sĩ hát ngon lành « đêm chưa qua mà trời sao vội sáng » ! Qua chưa với chưa qua khác nhau xa quá ! Cũng như « Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em » của Từ Công Phụng mà hát thành « Bây giờ mấy tháng rồi hỡi em ? »... thì nguy tai !
Tôi vẫn còn nhớ những đêm ngồi nghe Tuấn Khanh đàn piano dưới chân cầu sắt Đa Kao trong một quán cà phê nhỏ chênh vênh...   
Đêm qua chưa mà trời sao vội sáng
Một đàn chim cánh nhỏ chở mùa sang
Chiều vào thu tiễn em sầu lạnh giá
Lá trên cành từng chiếc cuốn bay xa ...
(xin đừng nhầm với các nhạc sĩ Tuấn Khanh, Hoài An đương thời).
Tôi chắc rồi một hôm nào đó cậu trai 8X kia sẽ tìm đến bản nhạc “sến chảy nước” nọ và rồi 8X sẽ được thay thế bởi 9X, 0X… Rồi sẽ có những người tìm đến Sến Già Nam, Sến Già Nữ như tôi hôm nay cho mà coi!
Không lâu lắm đâu! Hãy đợi đấy! 
Đỗ Hồng Ngọc
(Saigon 3.3.2013)
Nguồn: http://www.viet-studies.info/DoHongNgoc_SenGiaNam.htm

Thứ Hai, 11 tháng 3, 2013

Hai Bà Trưng

 
Hai Bà Trưng (40-43 AD)


 
Năm 40 thời Bắc thuộc, Thái Thú Tô Định bắt giết ông Thi Sách chồng bà Trưng Trắc,
và đàn áp dân Lạc Việt. Vì nợ nước thù nhà, bà Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị nổi
dậy đánh đuổi Tô Định, lên làm vua xưng là Trưng Vương, đóng đô ở Mê Linh. Triều
đại Trưng Vương tuy chỉ ngắn ngủi 3 năm, nhưng đã chứng tỏ tinh thần bất khuất
của người phụ nữ Việt, và mở đầu cho nền độc lập nước nhà.

@

Hai chị em Bà Trưng Trắc, Trưng Nhị là con gái quan Lạc Tướng ở huyện
Mê Linh (Phúc Yên). Bà Trưng Trắc là vợ ông Thi Sách người quận Chu
Diên (Vĩnh Yên).
Công Đức: Năm Giáp Ngọ (34), nhà Đông Hán cử Tô Định làm Thái Thú
quận Giao Chỉ. Tô Định là người bạo ngược, tham lam nên lòng dân rất
oán giận. Năm Canh Tý (40), Tô Định giết ông Thi Sách. Hai Bà Trưng
khởi nghĩa, đem quân đánh đuổi Tô Định, hạ được 65 thành trì và thu hồi
4 quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố (Quảng Đông). Hai
Bà Trưng lên ngôi vua, đóng đô ở Mê Linh. Năm Quý Mão (43) Nhà Hán sai Mã Viện đem
quân sang xâm lăng, hai Bà yếu thế phải nhẩy xuống sông Hát tuẫn tiết. Trưng Nữ Vương
chính là những vị nữ anh hùng đã thu hồi Độc Lập, Tự Chủ cho dân tộc Việt thời Bắc thuộc.
Đền thờ: Đồng Nhân (Hà Nội), Hát Môn (Sơn Tây), Hạ Lôi (Vĩnh Phúc)
và nhiều nơi khác.

 
Ngày Kỷ Niệm: Hàng năm vào ngày mồng 6 tháng 2 âm lịch.


Ảnh của Viettouch.com
 
Đọc thêm tài liệu bằng Anh Ngữ:
                                   http://www.viettouch.com/trungsis/

Sự Nghiệp và Di Sản của Hai Bà Trưng:
 
Tiếng Trống Mê Linh:

 

 

Thứ Ba, 5 tháng 3, 2013

Trái Tim Việt Nam

 
TRÁI TIM VIỆT NAM


là một người Việt Nam
trái tim tôi bị đau
kể từ khi bỏ nước
sống nhập cuộc lưu vong

lời viết cho Quê Hương
bằng tha thiết yêu thương
trộn niềm đau se thắt
trong dòng chảy miên trường

Tổ Quốc - Quê Hương tôi
một đất nước tuyệt vời
Đau và Thương mãnh liệt
trong TRÁI TIM VIỆT NAM !


Cao Nguyên

Hình Ảnh Quê Hương

 
 
 
 
 
       Miền Trung 
 
  

Chủ Nhật, 3 tháng 3, 2013

Phố Núi Pleiku

 
về thăm Phố Núi

vẫn cứ thích về thăm Phố Núi
ngồi bên em nghe nước suối reo
nhìn tia nắng hoàng hôn rớt vội
thấy vàng ươm từng hạt sương treo

vẫn cứ thích dạo qua những chỗ
đã cùng em trên con Phố xưa
chuyền tay nhau ly cà phê nóng
đi và đi trong đêm sương mưa

vẫn cứ thích ngồi trên dốc sỏi
nhặt từng hòn đá cuội quăng xa
nghe tiếng rơi vọng từ xa thẳm
ngỡ như ai vừa gọi tên ta

vẫn thích đi dầu chân đã mỏi
như có em từ trên dốc cao
tim rộn nhịp theo lòng bối rối
lời nào đây chút nữa sẽ trao ?

@

kỷ niệm đi chưa hề biết mệt
đuổi bám theo từng vết chân anh
yêu Phố hay yêu em chẳng biết
Phố Núi xưa vẫn thích về thăm .

Cao Nguyên
 
Lan Hương diễn ngâm:
Còn Chút Gì Để Nhớ
Thơ: Vũ Hữu Định
Nhạc: Phạm Duy
 
Pleiku Trong Những Đường Bay
Thơ : Mạnh Trường
Nhạc: Châu Đình An

Ly Rượu Mừng