Thứ Bảy, 31 tháng 3, 2012

Giỗ Tổ HÙNG VƯƠNG




Ngày giỗ tổ Hùng Vương hay còn gọi là "Lễ hội Đền Hùng" là một ngày lễ trọng đại của Việt Nam.

Lễ được tổ chức hàng năm vào ngày 10 tháng 3 âm lịch tại Đền Hùng, Việt Trì, Phú Thọ. Đây là ngày hội truyền thống của dân tộc nhằm mục đích tưởng nhớ đến công ơn các Vua Hùng đã có công dựng nước. Theo truyền thuyết thì Lạc Long Quân và Âu Cơ được xem như là thủy tổ người Việt , phụ mẫu của các Vua Hùng.

Thời kỳ Hùng Vương là một giai đoạn rất quan trọng trong lịch sử dân tộc. Chính thời kỳ này đã xây dựng nên một nền tảng của dân tộc Việt Nam, nền tảng văn hóa Việt Nam và truyền thống yêu nước. Ngày nay nhân dân ta lấy ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm làm ngày giỗ tổ và cùng nhau về thăm đền Hùng để tửơng nhớ đến cội nguồn, tổ tiên của dân tộc Việt Nam.

Ngày giỗ tổ Hùng Vương đã được công nhận là một trong những ngày quốc lễ của Việt Nam thể hiện rõ đạo lý "uống nước nhớ nguồn" hay "ăn quả nhớ kẻ trồng cây" như một tinh thần văn hóa Việt Nam . Trong dân gian có lưu truyền câu ca dao nhắc nhở nhau về Ngày Giỗ Tổ:

                                                           "Dù ai đi ngược về xuôi                                                             Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba."

                                                            (Phỏng theo Bách Khoa Toàn thư Wikipedia) 

Lễ hội Đền Hùng


Thứ Hai, 26 tháng 3, 2012

GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG


                                                 GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG

                                                 (Mùng 10 tháng 3 Âm lịch mỗi năm)


Tổng quát


Một nước trong quá trình lịch sử, có thể có nhiều triều đại, với nhiều vua chúa, nhiều thể 
chế, với nhiều nhà lãnh đạo, nhưng con dân chỉ có một Quốc Tổ mà thôi ... Giỗ Tổ là một 
hình thức biểu lộ tình yêu nước nồng nàn của dân tộc Việt Nam trong tinh thần “uống nước 
nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”.
“Dù ai buôn bán ngược suôi
Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng mười tháng ba
Dù ai buôn bán gần xa
Nhớ ngày Giỗ Tổ tháng ba thì về.”




Hùng Vương

Tiểu sử:

 Hùng Vương là tên gọi chung 18 đời Vua Hùng trong họ Hồng Bàng (2879-258 tr. 
Tây lịch). Nếu kể cả Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân, có tất cả 20 đời Vua trong họ 
Hồng Bàng.
Theo truyền thuyết, Đế Minh là cháu 3 đời vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam, lấy 
Tiên sinh ra Lộc Tục. Vua phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam tức Kinh Dương Vương.
Kinh Dương Vương kết hôn với 
Long Nữ, sinh ra Sùng Lãm nối ngôi vua, xưng là Lạc Long 
Quân.
Lạc Long Quân cưới bà Âu Cơ sinh được 100 con trai. Về sau, 50 con theo cha xuống biển 
và 
50 con theo mẹ lên núi, đi về phương Nam lập ra nước Văn Lang.Người con trưởng làm vua nước Văn Lang xưng là Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu
chia nước ra làm 
15 Bộ, cha truyền con nối theo chế độ Phụ Đạo, có quan Lạc Tưóng, Lạc 
Hầu phụ tá và quan Bồ Chính là chức quan nhỏ trông coi Lạc dân, và gọi 
con trai là Quan 
Lang, con gái là Mỵ Nương
. Hùng Vương truyền ngôi được 18 đời.


Công đức: 
Các vị vua Hùng có công lập nên nước Văn Lang, tức là nước Việt Nam ngày 
nay, nên gọi là Quốc Tổ Hùng Vương



.Đền thờ:
 Trên núi Nghĩa Lĩnh, Huyện Phong Châu, Tỉnh Phú Thọ (Vĩnh Phú) Bắc Việt. Tại 
Hoa Kỳ, Đền Hùng ở Lillte Sàigòn do Hội CNAM. Nay do Hội Đền Hùng Hải Ngoại (đường 
Magnolia – Westminster city - Little Sài Gòn)  thờ phụng.
 Hàng năm, cả hai Hội CNAM và Hội 
Đền Hùng Hải Ngoại đều tổ chức ngày Đại Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương.

Ngày Kỷ Niệm: Ngày mồng 10 tháng 3 Âm Lịch mỗi năm.

Tóm tắt
Lịch Sử Việt Nam
(từ thời Hồng Bàng đến 2009)



Nước Việt Nam thuộc về phía đông nam Á châu, là một dải non sông dài và hẹp ở miền
Trung, rộng hai đầu Nam Bắc giống hình chữ S, bắc giáp Trung Hoa, tây giáp Lào và
Campuchia, đông và nam giáp biển Đông.

Dân tộc Việt đa số thống nhất về chủng tộc, tiếng nói và phong tục tập quán.

Theo truyền thuyết, nước Việt Nam xưa bao gồm vùng đất Ngũ Lĩnh, phía nam nước Tàu
từ Động Đình Hồ tới nước Hồ Tôn (Chiêm Thành, miền Trung Việt Nam ngày nay) nên gọi
là Lĩnh Nam. Sau có nhiều tộc Việt đến sinh sống ở Lĩnh Nam, vì thế còn gọi là đất Bách
Việt.
Lịch sử Việt Nam là lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm.Họ Hồng Bàng mở nước từ năm 2879 trước CN, do Kinh Dương Vương trị vì rồi truyền
ngôi cho Lạc Long Quân và 18 đời vua Hùng. Các vị vua Hùng đóng đô ở Phong Châu
(Bắc Việt ngày nay), đặt tên nước là 
Văn Lang.Thời vua Hùng có những chuyện cổ tích truyền miệng như “Phù Đổng Thiên Vương phá
giặc Ân”, “Bánh chưng bánh dày”, “Sơn tinh Thủy tinh” v…v…

Năm 257 tr. CN, Thục Phán đánh bại vua Hùng thứ 18, lên làm vua, hiệu 
An Dương
Vương
 lập ra nhà Thục và đặt tên nước là Âu Lạc, kéo dài 50 năm.

Năm 207 tr. CN, Triệu Đà phản lại nhà Tần, chiếm đất Bách Việt, lên làm vua tức 
Triệu Vũ
Đế
, thành lập nước Nam Việt độc lập với nhà Hán. Nhà Triệu truyền được 5 đời kéo dài
96 năm.

Năm 111 trước CN, nhà 
Tây Hán (Tiền Hán) xâm lăng và tiêu diệt nước Nam Việt, chia ra 9
quận để cai trị.

Đây là thời kỳ 
Bắc thuộc lần Thứ Nhất (111 tr. CN – năm 39), kéo dài 150 năm.

Năm 40, Hai chị em bà Trưng Trắc, Trưng Nhị vì nợ nước thù nhà đã khởi nghĩa đánh
đuổi thái thú Tô Định về Tàu, thu lại 4 quận Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam và
65 thành, lên làm vua tức 
Trưng Nữ Vương (40-43), được 3 năm thì bị nhà Đông Hán sai
Mã Viện sang xâm lăng. Hai Bà Trưng phải nhẩy xuống sông Hát tuẫn tiết.

Đây là thời kỳ 
Bắc thuộc lần Thứ Hai (43-544) kéo dài 501 năm.

Trong thời kỳ này có sự nổi dậy của 
Bà Triệu Thị Trinh ở Thanh Hóa đánh nhau với
quân Đông Ngô do thứ sử Lục Dận chỉ huy. Bà Triệu đã hy sinh năm 23 tuổi.

Nhà Đông Ngô đô hộ nước ta rất tàn ác, chia cắt nước Nam Việt thành 
Quảng Châu và
Giao Châu
 (Giao Châu gồm 4 quận Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam).
Năm 544 Lý Bôn nổi lên đánh đuổi thứ sử Tiêu Tư của nhà Lương về Tàu (Đông Ngô -
Tấn - Tống - Tề - Lương), lên làm vua tức 
Lý Nam Đế (544-548) lập ra nhà Tiền Lý (544-
602), đặt tên nước là 
Vạn Xuân. Trong thời kỳ này có Triệu Quang Phục (Dạ Trạch
Vương) đánh đuổi Trần Bá Tiên của nhà Lương, lên nối ngôi nhà Lý tức Triệu Việt Vương
(549-571). Sau Lý Phật Tử giành được ngôi của Triệu Việt Vương trở thành Hậu Lý
Nam Đế (571-602), nhưng đến năm 602 phải đầu hàng nhà Tùy (Nhà Tùy thống nhất
được Nam Bắc nước Tàu thời đó).

Đây là thời kỳ 
Bắc thuộc lần thứ 3 (603-939).

Trong thời kỳ này có các cuộc khởi nghĩa của 
Lý Tự Tiên và Đinh Kiến (687), Mai Hắc
Đế
 (722), Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng (791) và họ Khúc dấy nghiệp ở Giao Châu
gồm có 
Khúc Thừa Dụ (900-907), Khúc Hạo (907-917), Khúc Thừa Mỹ (917-923). ..

Năm 939, 
Ngô Vương Quyền dùng mưu cắm cọc bọc sắt trên sông Bạch Đằng phá tan
quân Nam Hán, bắt được thái tử Hoằng Tháo của Nam Hán giết đi rồi xưng Vương, mở ra
kỷ nguyên tự chủ từ đó.

Tổng cộng 3 thời kỳ Bắc thuộc là 989 năm.
Ngô Quyền (939-944) chỉ xưng Vương, truyền 2 đời dài 26 năm.

Năm 968 Đinh Bộ Lĩnh dẹp yên 12 Sứ quân, lên làm vua tức 
Đinh Tiên Hoàng (968-979),
lập ra nhà Đinh, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư, truyền 2 đời dài 12 năm.

Năm 980 Lê Hoàn tức 
Lê Đại Hành (980-1005) lên ngôi, đánh Tống Bình Chiêm, lập ra
nhà Tiền Lê, truyền 3 đời, dài 29 năm.

Năm 1010 Lý Công Uẩn lên ngôi tức 
Lý Thái Tổ (1010-1028), lập ra nhà Lý,  đóng đô ở
Thăng Long, truyền 9 đời , dài 216 năm. Nhà Lý có danh tướng 
Lý Thường Kiệt (1019-
1105) và nhiều tướng tài đánh Tống bình Chiêm làm vẻ vang dân Việt. Vua  Lý Thánh
Tông (1054-1072) đổi tên nước là Đại Việt.

Năm 1225 Trần Cảnh lên ngôi tức 
Trần Thái Tông (1225-1258), lập ra nhà Trần truyền
được 13 đời, kéo dài 175 năm. Nhà Trần có danh tướng 
Hưng Đạo Vương Trần Quốc
Tuấn
 và rất nhiều danh tướng đã phá tan quân Nguyên Mông 3 lần xâm lăng Đại Việt.
Chiến thắng Bạch Đằng Giang một lần nữa làm quân thù phương Bắc khiếp vía, rửa
được mối nhục gần ngàn năm bị đô hộ.

Năm 1400, 
Hồ Quý Ly lên làm vua lập ra nhà Hồ chỉ được 7 năm thì bị giặc Minh xâm lăng,
đô hộ Việt Nam thêm 13 năm (1414-1427). Đây là thời kỳ Bắc thuộc lần thứ 4.

Năm 1428 Bình Định Vương 
Lê Lợi đánh đuổi giặc Minh, lên ngôi tức Lê Thái Tổ (1428-
1433) lập ra nhà Hậu Lê truyền 27 đời kéo dài 160 năm. Thời nhà Hậu Lê có danh nhân
Nguyễn Trãi (1380-1442) và rất nhiều tướng tài giúp vua Lê Lợi đánh giặc xâm lược,
giành lại đất nước Đại Việt.

Sau nhà Lê, đến thời 
nhà Mạc (1527-1592) truyền được 8 đời, dài 65 năm ở kinh thành
và 85 năm ở vùng Cao Bằng.

Thời 
Trịnh Nguyễn phân tranh, chia nước Việt thành Đàng Trong (Nam) và Đàng
Ngoài (Bắc), lấy 
sông Gianh làm ranh giới.

Chúa 
Nguyễn Hoàng (1558-1613) ở Đàng Trong và các chúa Nguyễn nối tiếp có công
mở đất miền Nam rộng tới mũi Cà Mâu.

Năm 1788 Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lên ngôi tức 
Quang Trung Hoàng Đế (1788-
1792) đánh đuổi giặc Mãn Thanh do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy vào mùa xuân 1789, mở đầu cho
thời kỳ độc lập và xóa bỏ lằn ranh phân chia Nam Bắc.

Năm 1802 Nguyễn Ánh lên ngôi lấy niên hiệu 
Gia Long tức Nguyễn Thế Tổ (1802-1819)
lập ra nhà Nguyễn, thống nhất Việt Nam, truyền 12 đời kéo dài 143 năm. Nhà Nguyễn chỉ
giữ được nền độc lập từ 1802 đến 1883 kéo dài 81 năm. Từ 1883 đến 1945 là thời kỳ
Pháp đô hộ, dài 62 năm.

Trong 
thời kỳ Pháp thuộc, có nhiều tổ chức, phong trào, đảng phái và anh hùng, danh
nhân nổi lên chống Pháp, giành quyền tự quyết cho dân tộc Việt. Những vị anh hùng,
danh nhân chống Pháp được lịch sử nhắc nhở như 
Trương Công Định (1820-1864),Nguyễn Trung Trực (1837-1868), Phan Đình Phùng (1844-1895), Hoàng Hoa Thám(1858-1913), Phan Bội Châu (1867-1940), Phan Chu Trinh (1872-1926), Nguyễn Thái Học (1901-1930)…

Song Thuận



 Tham khảo:
- Đại Việt Sử Ký Toàn Thư
- Việt Nam Sử Lược - Trần Trọng Kim
- Tự điển Nhân Vật Lịch Sử Việt Nam - Nguyễn Q Thắng, Nguyễn Bá Thế
- Việt Sử Toàn Thư - Phạm Văn Sơn
- Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca - Lê Ngô Cát, Phạm Đình Toái
- Lịch Sử Dân Tộc Việt Nam - Phạm Cao Dương
- Thế Thứ Các Triều Vua Việt Nam - Nguyễn Khắc Thuần
- Đất Nước Việt Nam Qua Các Đời - Đào Duy Anh
- An Nam Chí Lược - Lê Tắc
- Việt Sử Tiêu Án - Ngô Thời Sỹ
- Sử Trung Quốc - Nguyễn Hiến Lê
- Sử Ký - Tư Mã Thiên (Sách Dịch ra tiếng Việt)
- Thủy Kinh Chú Sớ - Lịch Đạo Nguyên (chủ) - Sách dịch ra tiếng Việt

Thứ Năm, 1 tháng 3, 2012

Còn Nhớ Hay Quên




CÒN NHỚ HAY QUÊN
.
Sáng tác & Trình bày: Dzuylynh
Album Trao Nhau Một Thuở Xuân Thì .Feb29.2012
( thương tặng áo trắng trưng vương )
.
còn nhớ không em? áo trắng thơ ngây
vòng tay học trò, lưu bút ngày xanh
phượng đỏ sân trường, những dòng mực tým
bụi phấn bảng đen, tiếng trống tan trường
bầy con gái lao xao tiếng guốc, nhịp gõ âm vui phố xá ồn ào
ta hẹn nhau cà phê góc nhỏ, ly nước chanh đường ngọt lịm môi em
.
còn nhớ không em? từ xa thị thành, xa vòm lá me bay
vàng tay khói thuốc, những bước di hành và từng đêm không ngủ
anh nhớ em, như chưa bao giờ nhớ thế...
ngày đêm miệt mài trấn ải địa đầu, những địa danh xa lạ vừa mới quen tên
đã thêm một lần đi
từ dạo chia ly chưa có ngày gặp lại
em bây giờ... em bây giờ ở đâu?
.
hôm nay trở lại bên gác chuông giáo đường, nghe bài thánh ca chợt nhớ em
quắt quay quắt quay
đường phố vẫn xôn xao, người thương ở nơi nào...
còn nhớ hay quên?
còn nhớ hay quên? còn nhớ hay quên?
Saigon ơi ! Saigon ơi ! nhớ mấy cho vừa, nhớ những mùa xuân xưa
những buổi chợ trưa, đường trơn nho nhỏ, lược chải trâm cài, mái tóc dài ngang vai
ánh mắt kiêu sa, người Trưng Vuơng trang đài, bờ vai thục nữ đã xa ... xa mất rồi
chỉ còn lại mình anh và kỉ niệm theo dòng sông đã trôi ...xa
.
còn nhớ không em? nhớ vòng tay buông lơi
áo trắng thơ ngây, nụ hôn vụng dại...
theo biển rộng sông dài từ một dạo tháng tư
em thành người biệt xứ. anh giả từ đất mẹ, xa tổ quốc yêu thương
nương thân nơi đất lạ quê người. đếm từng ngày sợi tóc bạc làm quên
còn nhớ không em ? còn nhớ không em? còn nhớ hay quên....

Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2012

Hùng Vương Với Ý Thức Dân-Tộc


Hùng Vương Với Ý-Thức Dân-Tộc

Hàng năm đến ngày 10 tháng 3, nhân-dân Việt-Nam trước đây từ cấp lãnh-đạo cho đến nông-dân các cấp xã-hội, kéo nhau đến trước đền thờ Vua Hùng trên núi Nghĩa-Lĩnh tỉnh Phú-Thọ làm lễ Quốc tế, nơi cố đô Phong-Châu của nòi-giống Việt. Đấy thật là một vị-trí hùng-vĩ của giang-sơn khi mới mở, phía Đông là núi Tam-Đảo, phía Nam là núi Tản-Viên, ở giữa nhìn xuống hai giòng Lô-giang và Thao-giang, gặp nhau ở Bạch-Hạc.
Giữa Đền trên, một bức hoành-phi với bốn chữ đại-tự :
" VIỆT NAM TRIỆU TỔ "
( Việt-Nam Thủy tổ dựng nước ) .
Trên bàn thờ có mười ba chữ bài-vị :
" ĐỘT NGỘT CAO SƠN CỔ VIỆT HÙNG THỊ THẬP BÁT THÁNH VƯƠNG VỊ "
( Vòi vọi núi cao họ Hùng nước Việt xưa 18 bài vị Vua Thánh. Thật là phong-cảnh vĩ-đại, dấu địa linh con Lạc cháu Hùng ) .
" Mấy tầng vây bọc, chọc trời muôn trượng lâu đài.
Bốn vách điểm tô, khắp đất một bầu phong nguyệt ."
Quốc-sử Diễn-ca rằng :
Kể từ trời mở Viêm bang.
Sử đầu có họ Hồng-Bàng mới ra.
Cháu đời Viêm-Đế thứ ba.
Nối dòng hỏa đức gọi là Đế-Minh.
Quan phong khí giá Nam hành
Hay đâu Mai-Lĩnh duyên sinh Lam-Kiều.
Vụ Tiên vừa thủa đào yêu.
Xe loan nối gót tơ điều kết duyên.
Dòng Thần sánh với người Tiên.
Tinh anh nhóm lại thánh hiền nối ra
 ."
Đấy là tín-ngưỡng nòi-giống Rồng Tiên của dân-tộc Việt trải bốn ngàn năm một nước " Văn hiến chi bang". Chúng ta không biết Việt-Nam là một nước Văn hiến kể từ bao giờ, chỉ biết trên đất Giao-Chỉ gồm Quảng-Đông, Bắc-Việt và phía Bắc Trung-Việt ngày nay vốn là nơi gặp gỡ của hai chủng-tộc, một thuộc về văn-minh Đông-Sơn mà di-tích tiêu-biểu Trống Đồng hiện thấy rải rác từ phía Nam Dương-Tử cho đến Nam-Dương quần-đảo, và một thuộc về văn-minh Lạch-Trường mà di-tích tiêu-biểu là Cổ Mộ Thiên động rải rác từ Tứ-Xuyên xuống đến Thanh-Hóa. Có lẽ vì sự gặp gỡ hai chủng-tộc thuộc hai tinh-thần văn-hóa, một chủng-tộc từ lục-địa phương Bắc xuống với một chủng-tộc từ hài-đảo phương Nam lên, cho nên dân Việt ta đã lý-tưởng-hóa thành dòng-dõi Rồng Tiên. Nhưng đấy là tín-ngưỡng truyền-thống dân-tộc và đã là tín-ngưỡng thì nó có một giá-trị thiêng-liêng ở đức tin tập-thể .

Nguyễn Đăng Thục

Thứ Năm, 2 tháng 2, 2012

Hùng Văn Trong Lịch Sử



Tiếng Trống Mê Linh.

Nếu chúng ta nhìn lại bản đồ nước nhà, hình cong chữ S, thì toàn thể biên giới về mặt Bắc là Trung quốc, từ bao lâu vẫn nhòm ngó, muốn xâm chiếm nước ta. Sự tranh chấp đất đai đã xẩy ra từ hơn hai ngàn năm nay. Khởi đầu là Việt Nam đã bị đặt dưới sự đô hộ của Tầu trên một ngàn năm, từ 111 tr. Tây lịch tới năm 931.

Tuy bị đô hộ một ngàn năm, nhưng có điều làm chúng ta tự hào là người Việt vẫn giữ được nguyên vẹn tiếng nói của mình, và những phong tục riêng, như ăn trầu, hay những lễ cưới hỏi, khác với tục lệ Trung quốc.
Để bắt đầu cuộc xâm lăng và thống trị, Vua Hán Vũ Đế cho Phục Ba tuớng quân là Lộ Bác Đức đem 5 đạo quân hùng mạnh sang đánh chiếm nước ta, lúc đó có tên là Nam Việt. Năm ấy là năm Canh Ngọ và nuớc Nam Việt bị người Tàu chiếm lấy, cải là Giao Chỉ bộ, chia làm 9 quận, và đặt quan cai trị như các châu quận bên Tàu. Từ đó bắt đầu cuộc nổi dậy dành lại đất đai, giang sơn gấm vóc của người dân Việt, theo truyền thuyết được coi như là giòng giống con Rồng cháu Tiên. Trong cuộc chiến đấu trường kỳ này để chống lại sự xâm lăng từ phương Bắc, đã nhiều lần có những bản văn kiệt tác, hay những tiếng nói hào hùng, được ghi lại trong Việt sử. Dưới đây tôi nhắc lại một cách tiêu biểu một số những hùng văn đã làm chúng ta tự hào.
Đã là người Việt Nam, chúng ta phải biết đến công ơn của hai Bà Trưng đã nổi lên đánh đuổi quân Tàu ra khỏi bờ cõi nước Nam. Thuở nhỏ các học sinh Việt đã học thuộc nằm lòng những câu thơ xưng tụng hai Bà trong cuốn Việt Nam Quốc Sử Diễn Ca:

Bà Trưng quê ở châu Phong,
Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên.
Chị em nặng một lời nguyền,
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân.

Năm Giáp Ngọ (34), vua Quang Vũ nhà Hán sai Tô Định sang làm thái thú quận Giao Chỉ. Là người bạo ngược tàn ác, dùng đường lối sắt máu để cai trị, năm 40 Tô Định lại giết ông Thi Sách và gây thêm nỗi oán giận cho người dân. Vợ ông Thi Sách là bà Trưng Trắc, cùng với em gái là Trưng Nhị nổi lên đưa quân về đánh Tô Định phải trốn chạy và cùng với người dân nơi nơi vùng lên dẹp được 65 thành trì. Hai bà lên ngôi vua và đóng đô ở Mê Linh là nơi quê nhà. Năm Tân Sửu (41) vua Quang Vũ sai Mã Viện làm Phục Ba tướng quân đưa một đạo quân hùng mạnh sang đánh Trưng Vương. Mã Viện là một danh tướng nhà Đông Hán, tuy tuổi đã cao nhưng vẫn còn oai vũ, đưa quân dọc theo miền bể, phá rừng đào núi làm đường sạn đạo tới Lạng Bạc, gặp quân của hai Bà, đánh thắng mấy trận và dồn quân ta về Cẩm Khê. Mã Viện lại tiến quân lên đánh tiếp, hai Bà thua chạy về đến xã Hát Môn, nay thuộc địa hạt tỉnh Sơn Tây, gặp thế cùng cả hai chị em cùng gieo mình xuống sông Hát Giang mà tuẫn quốc, năm 43, để cho đến nay gần hai ngàn năm sau, vẫn được dân Việt đời đời thờ phụng.
Mã Viện đánh được Trưng Vương, đem đất Giao Chỉ thuộc về nhà Hán và dựng một cây cột đồng ở chỗ phân địa giới, trên có khắc sáu chữ:
“Đồng trụ chiết, Giao chỉ diệt”
có nghĩa là cây cột đồng mà đổ thì người Giao Chỉ mất nòi. Theo trong dã sử chép lại thì người Giao Chỉ đi qua lại chỗ ấy, ai cũng bỏ vào chân đồng trụ một hòn đá cho nên chỗ ấy về sau thành như một quả núi phủ kín cột đồng làm biến mất di tích. Trải qua nhiều thế kỷ, trong sự giao thiệp với Trung quốc, người Tầu nhiều khi còn nhắc đến cột đồng mà người mình muốn quên.
Đời nhà Lê, từ khi vua Lê Lợi khởi nghĩa dẹp được quân Minh đem lại giang sơn cho nước nhà, những đời vua kế tiếp luôn luôn lấy sự gìn giữ đất đai là hệ trọng. Vua Lê Thánh Tông (1460-1497) có lần đã bảo với triều thần rằng:

“Ta phải giữ gìn cho cẩn thận đừng để cho ai lấy mất một phân núi, một tấc sông của vua Thái Tổ để lại.”
Năm 1597, đời vua Lê Thế Tông, Công bộ Tả thị lang Phùng Khắc Khoan, là người văn hay chữ tốt, người dân gọi là ông Trạng Bùng, được chúa Trịnh cử sang Trung Quốc cầu phong cho vua Lê với nhà Minh. Vua quan nhà Minh bên Tàu, tuy vẫn muốn xâm chiếm nước Nam, nhưng còn nhớ đến sức kháng chiến của dân Đại Việt trong thời gian Bình Định Vương Lê Lợi đánh đuổi quân Minh, nên chỉ làm khó dễ nước ta về mặt ngoại giao, đặt lệ bắt mỗi ba năm phải cho sứ thần sang triều cống một lần. Trong cuộc giao tiếp, sứ thần nước ta được quan Tàu ra câu đối nhắc lại chuyện cột đồng kỷ niệm chiến thắng của Mã Viện với giọng điệu cao ngạo:
“Đồng trụ chí kim đài vị lục”

nghĩa là cột đồng cho đến nay rêu vẫn chưa xanh. Nhưng sứ thần ta là ông Trạng Bùng là người tinh thông sử Việt nên nhớ đén những chiến thắng của ta trên sông Bạch Đằng. Năm Mậu Kỷ (938), vua Nam Hán, theo lời yêu cầu của Việt gian Kiều Công Tiễn, sai thái tử Hoàng Thao sang đánh Giao châu. Ông Ngô Quyền bắt giết Kiều Công Tiễn làm lễ tế cờ và truyền hịch cho quân sĩ phải hết sức phòng bị rồi cắm cọc nhọn trên sông Bạch Đằng, phục binh đánh một trận thủy chiến diệt chiến thuyền của quân Nam Hán, quân Hoàng Thao bị chết quá nửa, chủ tướng cũng bị bắt giết. Sau đó 350 năm, lịch sử lại tiếp diễn. Cũng trên Bạch Đằng Giang, vào tháng Ba năm Mậu Tí (1288), Hưng Đạo Vương đã đại phá quân nhà Nguyên máu loang đỏ cả khúc sông. Bạch Đằng Giang nay thuôc huyện Thụy Nguyên, tỉnh Kiến An. Để đối lại với câu xướng của quan Tàu đã vô lễ xấc xược, sứ thần nước ta đã viết lại vế thứ hai với bẩy chữ như những gai nhọn sói vào tim óc đối phuơng
“Đằng giang tự cổ huyết do hồng”

Câu này có nghĩa là sông Đằng từ xưa máu còn đỏ thắm. Thật là một câu ngắn nhưng đối chọi rất chỉnh và đã nói lên niềm tự hào của dân tộc về những chiến tích oanh liệt của tiền nhân trên sông Bạch Đằng.

Từ khi Nam Việt thoát đuợc ách đô hộ của nước Tàu, kể từ đời nhà Lý, bắt đầu từ năm 1010, người mình luôn luôn phải chống lại sự xâm lăng từ phương Bắc. Lý Thường Kiệt là một danh tướng triều Lý, phạt Tống ở phương Bắc, bình Chiêm về phía Nam. Khi đánh Tống năm 1076, trước cửa ải Nam quan, ông làm bài thơ khích lệ quân sĩ

Nam quốc sơn hà, Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Bốn câu thơ có nghĩa là núi sông của nước Nam, sách trời đã định là thuộc về vua nước Nam. Nếu quân cướp định xâm phạm thì thế nào cũng bị thảm bại. Quân lính nghe mấy câu thơ ai nấy đều nức lòng cự địch. Tám vạn quân sĩ nhà Tống sang xâm lăng, gặp nơi chướng địa, đánh mãi không nổi, dần dà chết quá nửa, sau cùng vua nhà Tống đành phải giảng hoà lui binh.
Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh
     Xem Tiếp:

Thứ Sáu, 27 tháng 1, 2012

Thành Phố Mẹ


Posted Image

Thành Phố Mẹ

Cali có Little Sài Gòn
Paris có Sài Gòn Phố không em?
mà dẫu có một Sài Gòn ở đó
cũng chỉ là thành phố mượn tên

để mỗi lần gọi lên là nhớ
Sài Gòn - thành phố Mẹ phía bên kia
(bên tuổi buồn cùng chung chia máu lệ
bên niềm vui chỉ để kể người nghe

vui như lá me bay trong chiều mưa tháng Hạ
có phượng hồng cài mái tóc yêu thương!)
ôi nỗi nhớ viết sao vừa giấy mực
khi tim ta thổn thức nhớ Sài Gòn!

Chừ em bước trên một thành phố mới
có những con đường mang tiếng nói Việt Nam
(những con đường cũng chỉ là khuôn mặt
tình những con đường ở trên đỉnh hồn ta!)

Em hãy nhớ, thành phố mình đang sống
cũng chỉ là một góc cuộc đời qua
ngày luyến nhớ Paris, Cali, Newyork
có bằng đêm em khóc nhớ Sài Gòn?

thành phố Mẹ chúng ta bên kia biển
những con đường Nguyễn Huệ , Hùng Vương
những tên gọi Bạch Đằng, Bến Nghé...
giữa đời ta là cả một trời thương!

Sài Gòn đó, Sài Gòn bên kia biển
không phải một thời, mà mãi ngàn đời
trong tim người, Hòn Ngọc Viễn Đông
trong Việt Nam, Sài Gòn bất diệt!

Cao Nguyên

Xem Sài Gòn Xưa và Nay:


Thứ Hai, 23 tháng 1, 2012

Bài Ca Bình Bắc



Kể từ đấy
Mặt trời mọc ở phương Đông, ngùn ngụt lửa.
Mặt trời lặn ở phương Đoài, máu chứa chan.
Đã sáu mươi ngàn lần...
Và từ đấy cũng sáu mươi ngàn lần
Trăng tỏ bóng nơi rừng cây đất Bắc
Trăng mờ gương nơi đồng lúa miền Nam
Ruộng dâu kia bao độ sóng dâng tràn...
Hãy dừng lại thời gian
Trả lời ta -- Có phải
Dưới vầng nguyệt lạnh lùng quan ải,
Dưới vầng dương thiêu đốt quan san
Lớp hưng phế xô nghiêng từng triều đại Mà chí lớn dọc ngang
Mà nghiệp lớn huy hoàng
Vẫn ngàn thu còn mãi
Vẫn ngàn thu người áo vải đất Qui Nhơn?
Ôi người xưa Bắc Bình Vương
Đống Đa một trận trăm đường giáp công
Đạn vèo năm cửa Thăng Long
Trắng gò xương chất, đỏ sông máu màng.
Chừ đây lại đã xuân sang
Giữa cố quận một mùa xuân nghịch lữ
Ai kia lòng có mang mang
Đầy vơi sầu xứ -- Hãy cùng ta
Ngẩng đầu lên, hướng về đây tâm sự
Nghe từng trang lịch sử thét từng trang
Một phút oai thần dậy sấm
Tan vía cường bang
Cho bóng kẻ ngồi trên lưng bạch tượng
Cao chót vót năm màu mây chiêm ngưỡng
Dài mênh mông vượt khỏi lũy Nam Quan
Và khoảnh khắc
Đổ xuôi chiều vươn ngược hướng
Bao trùm lên đầu cuối Thời Gian.
Bóng ấy đã  ghi sâu vào tâm tưởng
Khắc sâu vào trí nhớ dân gian
Một bành voi che lấp mấy ngai vàng.
Ôi Nguyễn Huệ  người anh hùng áo vải
Muôn chiến công, một chiến công dồn lại
Một tấm lòng, muôn vạn tấm lòng mang.
Ngọn kiếm trỏ, bao cánh tay hăng hái
Ngọn cờ vung, bao tính mệnh sẵn sàng.
Người cất bước, cả non sông một dải
Vươn mình theo -- dãy Hoành Sơn mê mải
Chạy dọc lên thông cảm ý ngang tàng.
Cũng chồm dậy đáp lời hô vĩ đại
Chín con rồng bơi ngược Cửu Long Giang!

Người ra Bắc, oai thanh mờ nhật nguyệt
Khí thế kia làm rung động càn khôn.
Lệnh  ban xuống, lời lời tâm huyết
Nẻo trường chinh ai dám bước chân chồn.
Gươm  thiêng cựa vỏ,
Giặc không mồ chôn.
Voi thiêng chuyển vó,
Nát lũy, tan đồn
Ôi một hành ca hề, gào mây, thét gió,
Mà ý tướng, lòng quân hề, bền sắt, tươi son.
Hưởng ứng sông hồ giục núi non
«Thắt vòng vây lại» tiếng hô ròn
Tơi bời máu giặc, trăng liềm múa
Tan tác xương thù, ngựa đá bon.

Sim rừng, lúa ruộng, tre thôn,
Lòng say phá địch, khúc dồn tiến quân
Vinh quang hẹn với phong trần
Đống Đa gò ấy, mùa xuân năm nào.
Nhớ trận Đống Đa hề thương mùa xuân tới
Sầu xuân vời vợi
Xuân tứ nao nao
Nghe đêm trừ tịch hề, máu nở hoa đào,
Ngập giấc Xuân tiêu hề, lửa trùm quan tái
Trời đất vô cùng hề, một khúc hát ngao
Chí khí cũ gầm trong da thịt mới
Vẳng đáy sâu tiềm thức, tiếng mài dao,
Đèo Tam Điệp hề, lệnh truyền vang dội
Sóng Sông Mã hề, ngựa hí xôn xao
Mặt nước Lô Giang hề, lò trầm biếc khói,
Mây núi Tản Viên hề, lọng tía giương cao...
Rằng: «Đây bóng kẻ anh hào
Đã về ngự trên ngã ba thời đại»
Gấm vóc giang san hề, còn đây một dải
Thì nghiệp lớn vẻ vang
Thì mộng lớn huy hoàng
Vẫn ngàn thu còn mãi...
Ôi ngàn người áo vải đất Qui Nhơn!
Nay cuộc thế sao nhòa, bụi vẩn,
Lũ chúng ta trên ngã ba đường
Ghi ngày giỗ Trận
Mơ Bắc Bình Vương
Lòng đấy thôn trang hề, lòng đây thị trấn
Mười ngã tâm tư hề, một nén hương
Đồng thanh rằng: «Quyết noi gương!»
Để một mai bông thắm, cỏ xanh rờn
Ca trống trận thôi lay bóng nguyệt.
Mừng đất trời gió bụi tan cơn
Chúng ta sẽ không hổ với người xưa
Một trận Đống Đa ngàn thu oanh liệt
Vì ta sau trước lòng kiên quyết
Vàng chẳng hề phai, đá chẳng sờn

Vũ Hoàng Chương


Trần Lãng Minh diễn ngâm