Thứ Năm, 1 tháng 3, 2012

Còn Nhớ Hay Quên




CÒN NHỚ HAY QUÊN
.
Sáng tác & Trình bày: Dzuylynh
Album Trao Nhau Một Thuở Xuân Thì .Feb29.2012
( thương tặng áo trắng trưng vương )
.
còn nhớ không em? áo trắng thơ ngây
vòng tay học trò, lưu bút ngày xanh
phượng đỏ sân trường, những dòng mực tým
bụi phấn bảng đen, tiếng trống tan trường
bầy con gái lao xao tiếng guốc, nhịp gõ âm vui phố xá ồn ào
ta hẹn nhau cà phê góc nhỏ, ly nước chanh đường ngọt lịm môi em
.
còn nhớ không em? từ xa thị thành, xa vòm lá me bay
vàng tay khói thuốc, những bước di hành và từng đêm không ngủ
anh nhớ em, như chưa bao giờ nhớ thế...
ngày đêm miệt mài trấn ải địa đầu, những địa danh xa lạ vừa mới quen tên
đã thêm một lần đi
từ dạo chia ly chưa có ngày gặp lại
em bây giờ... em bây giờ ở đâu?
.
hôm nay trở lại bên gác chuông giáo đường, nghe bài thánh ca chợt nhớ em
quắt quay quắt quay
đường phố vẫn xôn xao, người thương ở nơi nào...
còn nhớ hay quên?
còn nhớ hay quên? còn nhớ hay quên?
Saigon ơi ! Saigon ơi ! nhớ mấy cho vừa, nhớ những mùa xuân xưa
những buổi chợ trưa, đường trơn nho nhỏ, lược chải trâm cài, mái tóc dài ngang vai
ánh mắt kiêu sa, người Trưng Vuơng trang đài, bờ vai thục nữ đã xa ... xa mất rồi
chỉ còn lại mình anh và kỉ niệm theo dòng sông đã trôi ...xa
.
còn nhớ không em? nhớ vòng tay buông lơi
áo trắng thơ ngây, nụ hôn vụng dại...
theo biển rộng sông dài từ một dạo tháng tư
em thành người biệt xứ. anh giả từ đất mẹ, xa tổ quốc yêu thương
nương thân nơi đất lạ quê người. đếm từng ngày sợi tóc bạc làm quên
còn nhớ không em ? còn nhớ không em? còn nhớ hay quên....

Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2012

Hùng Vương Với Ý Thức Dân-Tộc


Hùng Vương Với Ý-Thức Dân-Tộc

Hàng năm đến ngày 10 tháng 3, nhân-dân Việt-Nam trước đây từ cấp lãnh-đạo cho đến nông-dân các cấp xã-hội, kéo nhau đến trước đền thờ Vua Hùng trên núi Nghĩa-Lĩnh tỉnh Phú-Thọ làm lễ Quốc tế, nơi cố đô Phong-Châu của nòi-giống Việt. Đấy thật là một vị-trí hùng-vĩ của giang-sơn khi mới mở, phía Đông là núi Tam-Đảo, phía Nam là núi Tản-Viên, ở giữa nhìn xuống hai giòng Lô-giang và Thao-giang, gặp nhau ở Bạch-Hạc.
Giữa Đền trên, một bức hoành-phi với bốn chữ đại-tự :
" VIỆT NAM TRIỆU TỔ "
( Việt-Nam Thủy tổ dựng nước ) .
Trên bàn thờ có mười ba chữ bài-vị :
" ĐỘT NGỘT CAO SƠN CỔ VIỆT HÙNG THỊ THẬP BÁT THÁNH VƯƠNG VỊ "
( Vòi vọi núi cao họ Hùng nước Việt xưa 18 bài vị Vua Thánh. Thật là phong-cảnh vĩ-đại, dấu địa linh con Lạc cháu Hùng ) .
" Mấy tầng vây bọc, chọc trời muôn trượng lâu đài.
Bốn vách điểm tô, khắp đất một bầu phong nguyệt ."
Quốc-sử Diễn-ca rằng :
Kể từ trời mở Viêm bang.
Sử đầu có họ Hồng-Bàng mới ra.
Cháu đời Viêm-Đế thứ ba.
Nối dòng hỏa đức gọi là Đế-Minh.
Quan phong khí giá Nam hành
Hay đâu Mai-Lĩnh duyên sinh Lam-Kiều.
Vụ Tiên vừa thủa đào yêu.
Xe loan nối gót tơ điều kết duyên.
Dòng Thần sánh với người Tiên.
Tinh anh nhóm lại thánh hiền nối ra
 ."
Đấy là tín-ngưỡng nòi-giống Rồng Tiên của dân-tộc Việt trải bốn ngàn năm một nước " Văn hiến chi bang". Chúng ta không biết Việt-Nam là một nước Văn hiến kể từ bao giờ, chỉ biết trên đất Giao-Chỉ gồm Quảng-Đông, Bắc-Việt và phía Bắc Trung-Việt ngày nay vốn là nơi gặp gỡ của hai chủng-tộc, một thuộc về văn-minh Đông-Sơn mà di-tích tiêu-biểu Trống Đồng hiện thấy rải rác từ phía Nam Dương-Tử cho đến Nam-Dương quần-đảo, và một thuộc về văn-minh Lạch-Trường mà di-tích tiêu-biểu là Cổ Mộ Thiên động rải rác từ Tứ-Xuyên xuống đến Thanh-Hóa. Có lẽ vì sự gặp gỡ hai chủng-tộc thuộc hai tinh-thần văn-hóa, một chủng-tộc từ lục-địa phương Bắc xuống với một chủng-tộc từ hài-đảo phương Nam lên, cho nên dân Việt ta đã lý-tưởng-hóa thành dòng-dõi Rồng Tiên. Nhưng đấy là tín-ngưỡng truyền-thống dân-tộc và đã là tín-ngưỡng thì nó có một giá-trị thiêng-liêng ở đức tin tập-thể .

Nguyễn Đăng Thục

Thứ Năm, 2 tháng 2, 2012

Hùng Văn Trong Lịch Sử



Tiếng Trống Mê Linh.

Nếu chúng ta nhìn lại bản đồ nước nhà, hình cong chữ S, thì toàn thể biên giới về mặt Bắc là Trung quốc, từ bao lâu vẫn nhòm ngó, muốn xâm chiếm nước ta. Sự tranh chấp đất đai đã xẩy ra từ hơn hai ngàn năm nay. Khởi đầu là Việt Nam đã bị đặt dưới sự đô hộ của Tầu trên một ngàn năm, từ 111 tr. Tây lịch tới năm 931.

Tuy bị đô hộ một ngàn năm, nhưng có điều làm chúng ta tự hào là người Việt vẫn giữ được nguyên vẹn tiếng nói của mình, và những phong tục riêng, như ăn trầu, hay những lễ cưới hỏi, khác với tục lệ Trung quốc.
Để bắt đầu cuộc xâm lăng và thống trị, Vua Hán Vũ Đế cho Phục Ba tuớng quân là Lộ Bác Đức đem 5 đạo quân hùng mạnh sang đánh chiếm nước ta, lúc đó có tên là Nam Việt. Năm ấy là năm Canh Ngọ và nuớc Nam Việt bị người Tàu chiếm lấy, cải là Giao Chỉ bộ, chia làm 9 quận, và đặt quan cai trị như các châu quận bên Tàu. Từ đó bắt đầu cuộc nổi dậy dành lại đất đai, giang sơn gấm vóc của người dân Việt, theo truyền thuyết được coi như là giòng giống con Rồng cháu Tiên. Trong cuộc chiến đấu trường kỳ này để chống lại sự xâm lăng từ phương Bắc, đã nhiều lần có những bản văn kiệt tác, hay những tiếng nói hào hùng, được ghi lại trong Việt sử. Dưới đây tôi nhắc lại một cách tiêu biểu một số những hùng văn đã làm chúng ta tự hào.
Đã là người Việt Nam, chúng ta phải biết đến công ơn của hai Bà Trưng đã nổi lên đánh đuổi quân Tàu ra khỏi bờ cõi nước Nam. Thuở nhỏ các học sinh Việt đã học thuộc nằm lòng những câu thơ xưng tụng hai Bà trong cuốn Việt Nam Quốc Sử Diễn Ca:

Bà Trưng quê ở châu Phong,
Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên.
Chị em nặng một lời nguyền,
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân.

Năm Giáp Ngọ (34), vua Quang Vũ nhà Hán sai Tô Định sang làm thái thú quận Giao Chỉ. Là người bạo ngược tàn ác, dùng đường lối sắt máu để cai trị, năm 40 Tô Định lại giết ông Thi Sách và gây thêm nỗi oán giận cho người dân. Vợ ông Thi Sách là bà Trưng Trắc, cùng với em gái là Trưng Nhị nổi lên đưa quân về đánh Tô Định phải trốn chạy và cùng với người dân nơi nơi vùng lên dẹp được 65 thành trì. Hai bà lên ngôi vua và đóng đô ở Mê Linh là nơi quê nhà. Năm Tân Sửu (41) vua Quang Vũ sai Mã Viện làm Phục Ba tướng quân đưa một đạo quân hùng mạnh sang đánh Trưng Vương. Mã Viện là một danh tướng nhà Đông Hán, tuy tuổi đã cao nhưng vẫn còn oai vũ, đưa quân dọc theo miền bể, phá rừng đào núi làm đường sạn đạo tới Lạng Bạc, gặp quân của hai Bà, đánh thắng mấy trận và dồn quân ta về Cẩm Khê. Mã Viện lại tiến quân lên đánh tiếp, hai Bà thua chạy về đến xã Hát Môn, nay thuộc địa hạt tỉnh Sơn Tây, gặp thế cùng cả hai chị em cùng gieo mình xuống sông Hát Giang mà tuẫn quốc, năm 43, để cho đến nay gần hai ngàn năm sau, vẫn được dân Việt đời đời thờ phụng.
Mã Viện đánh được Trưng Vương, đem đất Giao Chỉ thuộc về nhà Hán và dựng một cây cột đồng ở chỗ phân địa giới, trên có khắc sáu chữ:
“Đồng trụ chiết, Giao chỉ diệt”
có nghĩa là cây cột đồng mà đổ thì người Giao Chỉ mất nòi. Theo trong dã sử chép lại thì người Giao Chỉ đi qua lại chỗ ấy, ai cũng bỏ vào chân đồng trụ một hòn đá cho nên chỗ ấy về sau thành như một quả núi phủ kín cột đồng làm biến mất di tích. Trải qua nhiều thế kỷ, trong sự giao thiệp với Trung quốc, người Tầu nhiều khi còn nhắc đến cột đồng mà người mình muốn quên.
Đời nhà Lê, từ khi vua Lê Lợi khởi nghĩa dẹp được quân Minh đem lại giang sơn cho nước nhà, những đời vua kế tiếp luôn luôn lấy sự gìn giữ đất đai là hệ trọng. Vua Lê Thánh Tông (1460-1497) có lần đã bảo với triều thần rằng:

“Ta phải giữ gìn cho cẩn thận đừng để cho ai lấy mất một phân núi, một tấc sông của vua Thái Tổ để lại.”
Năm 1597, đời vua Lê Thế Tông, Công bộ Tả thị lang Phùng Khắc Khoan, là người văn hay chữ tốt, người dân gọi là ông Trạng Bùng, được chúa Trịnh cử sang Trung Quốc cầu phong cho vua Lê với nhà Minh. Vua quan nhà Minh bên Tàu, tuy vẫn muốn xâm chiếm nước Nam, nhưng còn nhớ đến sức kháng chiến của dân Đại Việt trong thời gian Bình Định Vương Lê Lợi đánh đuổi quân Minh, nên chỉ làm khó dễ nước ta về mặt ngoại giao, đặt lệ bắt mỗi ba năm phải cho sứ thần sang triều cống một lần. Trong cuộc giao tiếp, sứ thần nước ta được quan Tàu ra câu đối nhắc lại chuyện cột đồng kỷ niệm chiến thắng của Mã Viện với giọng điệu cao ngạo:
“Đồng trụ chí kim đài vị lục”

nghĩa là cột đồng cho đến nay rêu vẫn chưa xanh. Nhưng sứ thần ta là ông Trạng Bùng là người tinh thông sử Việt nên nhớ đén những chiến thắng của ta trên sông Bạch Đằng. Năm Mậu Kỷ (938), vua Nam Hán, theo lời yêu cầu của Việt gian Kiều Công Tiễn, sai thái tử Hoàng Thao sang đánh Giao châu. Ông Ngô Quyền bắt giết Kiều Công Tiễn làm lễ tế cờ và truyền hịch cho quân sĩ phải hết sức phòng bị rồi cắm cọc nhọn trên sông Bạch Đằng, phục binh đánh một trận thủy chiến diệt chiến thuyền của quân Nam Hán, quân Hoàng Thao bị chết quá nửa, chủ tướng cũng bị bắt giết. Sau đó 350 năm, lịch sử lại tiếp diễn. Cũng trên Bạch Đằng Giang, vào tháng Ba năm Mậu Tí (1288), Hưng Đạo Vương đã đại phá quân nhà Nguyên máu loang đỏ cả khúc sông. Bạch Đằng Giang nay thuôc huyện Thụy Nguyên, tỉnh Kiến An. Để đối lại với câu xướng của quan Tàu đã vô lễ xấc xược, sứ thần nước ta đã viết lại vế thứ hai với bẩy chữ như những gai nhọn sói vào tim óc đối phuơng
“Đằng giang tự cổ huyết do hồng”

Câu này có nghĩa là sông Đằng từ xưa máu còn đỏ thắm. Thật là một câu ngắn nhưng đối chọi rất chỉnh và đã nói lên niềm tự hào của dân tộc về những chiến tích oanh liệt của tiền nhân trên sông Bạch Đằng.

Từ khi Nam Việt thoát đuợc ách đô hộ của nước Tàu, kể từ đời nhà Lý, bắt đầu từ năm 1010, người mình luôn luôn phải chống lại sự xâm lăng từ phương Bắc. Lý Thường Kiệt là một danh tướng triều Lý, phạt Tống ở phương Bắc, bình Chiêm về phía Nam. Khi đánh Tống năm 1076, trước cửa ải Nam quan, ông làm bài thơ khích lệ quân sĩ

Nam quốc sơn hà, Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Bốn câu thơ có nghĩa là núi sông của nước Nam, sách trời đã định là thuộc về vua nước Nam. Nếu quân cướp định xâm phạm thì thế nào cũng bị thảm bại. Quân lính nghe mấy câu thơ ai nấy đều nức lòng cự địch. Tám vạn quân sĩ nhà Tống sang xâm lăng, gặp nơi chướng địa, đánh mãi không nổi, dần dà chết quá nửa, sau cùng vua nhà Tống đành phải giảng hoà lui binh.
Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh
     Xem Tiếp:

Thứ Sáu, 27 tháng 1, 2012

Thành Phố Mẹ


Posted Image

Thành Phố Mẹ

Cali có Little Sài Gòn
Paris có Sài Gòn Phố không em?
mà dẫu có một Sài Gòn ở đó
cũng chỉ là thành phố mượn tên

để mỗi lần gọi lên là nhớ
Sài Gòn - thành phố Mẹ phía bên kia
(bên tuổi buồn cùng chung chia máu lệ
bên niềm vui chỉ để kể người nghe

vui như lá me bay trong chiều mưa tháng Hạ
có phượng hồng cài mái tóc yêu thương!)
ôi nỗi nhớ viết sao vừa giấy mực
khi tim ta thổn thức nhớ Sài Gòn!

Chừ em bước trên một thành phố mới
có những con đường mang tiếng nói Việt Nam
(những con đường cũng chỉ là khuôn mặt
tình những con đường ở trên đỉnh hồn ta!)

Em hãy nhớ, thành phố mình đang sống
cũng chỉ là một góc cuộc đời qua
ngày luyến nhớ Paris, Cali, Newyork
có bằng đêm em khóc nhớ Sài Gòn?

thành phố Mẹ chúng ta bên kia biển
những con đường Nguyễn Huệ , Hùng Vương
những tên gọi Bạch Đằng, Bến Nghé...
giữa đời ta là cả một trời thương!

Sài Gòn đó, Sài Gòn bên kia biển
không phải một thời, mà mãi ngàn đời
trong tim người, Hòn Ngọc Viễn Đông
trong Việt Nam, Sài Gòn bất diệt!

Cao Nguyên

Xem Sài Gòn Xưa và Nay:


Thứ Hai, 23 tháng 1, 2012

Bài Ca Bình Bắc



Kể từ đấy
Mặt trời mọc ở phương Đông, ngùn ngụt lửa.
Mặt trời lặn ở phương Đoài, máu chứa chan.
Đã sáu mươi ngàn lần...
Và từ đấy cũng sáu mươi ngàn lần
Trăng tỏ bóng nơi rừng cây đất Bắc
Trăng mờ gương nơi đồng lúa miền Nam
Ruộng dâu kia bao độ sóng dâng tràn...
Hãy dừng lại thời gian
Trả lời ta -- Có phải
Dưới vầng nguyệt lạnh lùng quan ải,
Dưới vầng dương thiêu đốt quan san
Lớp hưng phế xô nghiêng từng triều đại Mà chí lớn dọc ngang
Mà nghiệp lớn huy hoàng
Vẫn ngàn thu còn mãi
Vẫn ngàn thu người áo vải đất Qui Nhơn?
Ôi người xưa Bắc Bình Vương
Đống Đa một trận trăm đường giáp công
Đạn vèo năm cửa Thăng Long
Trắng gò xương chất, đỏ sông máu màng.
Chừ đây lại đã xuân sang
Giữa cố quận một mùa xuân nghịch lữ
Ai kia lòng có mang mang
Đầy vơi sầu xứ -- Hãy cùng ta
Ngẩng đầu lên, hướng về đây tâm sự
Nghe từng trang lịch sử thét từng trang
Một phút oai thần dậy sấm
Tan vía cường bang
Cho bóng kẻ ngồi trên lưng bạch tượng
Cao chót vót năm màu mây chiêm ngưỡng
Dài mênh mông vượt khỏi lũy Nam Quan
Và khoảnh khắc
Đổ xuôi chiều vươn ngược hướng
Bao trùm lên đầu cuối Thời Gian.
Bóng ấy đã  ghi sâu vào tâm tưởng
Khắc sâu vào trí nhớ dân gian
Một bành voi che lấp mấy ngai vàng.
Ôi Nguyễn Huệ  người anh hùng áo vải
Muôn chiến công, một chiến công dồn lại
Một tấm lòng, muôn vạn tấm lòng mang.
Ngọn kiếm trỏ, bao cánh tay hăng hái
Ngọn cờ vung, bao tính mệnh sẵn sàng.
Người cất bước, cả non sông một dải
Vươn mình theo -- dãy Hoành Sơn mê mải
Chạy dọc lên thông cảm ý ngang tàng.
Cũng chồm dậy đáp lời hô vĩ đại
Chín con rồng bơi ngược Cửu Long Giang!

Người ra Bắc, oai thanh mờ nhật nguyệt
Khí thế kia làm rung động càn khôn.
Lệnh  ban xuống, lời lời tâm huyết
Nẻo trường chinh ai dám bước chân chồn.
Gươm  thiêng cựa vỏ,
Giặc không mồ chôn.
Voi thiêng chuyển vó,
Nát lũy, tan đồn
Ôi một hành ca hề, gào mây, thét gió,
Mà ý tướng, lòng quân hề, bền sắt, tươi son.
Hưởng ứng sông hồ giục núi non
«Thắt vòng vây lại» tiếng hô ròn
Tơi bời máu giặc, trăng liềm múa
Tan tác xương thù, ngựa đá bon.

Sim rừng, lúa ruộng, tre thôn,
Lòng say phá địch, khúc dồn tiến quân
Vinh quang hẹn với phong trần
Đống Đa gò ấy, mùa xuân năm nào.
Nhớ trận Đống Đa hề thương mùa xuân tới
Sầu xuân vời vợi
Xuân tứ nao nao
Nghe đêm trừ tịch hề, máu nở hoa đào,
Ngập giấc Xuân tiêu hề, lửa trùm quan tái
Trời đất vô cùng hề, một khúc hát ngao
Chí khí cũ gầm trong da thịt mới
Vẳng đáy sâu tiềm thức, tiếng mài dao,
Đèo Tam Điệp hề, lệnh truyền vang dội
Sóng Sông Mã hề, ngựa hí xôn xao
Mặt nước Lô Giang hề, lò trầm biếc khói,
Mây núi Tản Viên hề, lọng tía giương cao...
Rằng: «Đây bóng kẻ anh hào
Đã về ngự trên ngã ba thời đại»
Gấm vóc giang san hề, còn đây một dải
Thì nghiệp lớn vẻ vang
Thì mộng lớn huy hoàng
Vẫn ngàn thu còn mãi...
Ôi ngàn người áo vải đất Qui Nhơn!
Nay cuộc thế sao nhòa, bụi vẩn,
Lũ chúng ta trên ngã ba đường
Ghi ngày giỗ Trận
Mơ Bắc Bình Vương
Lòng đấy thôn trang hề, lòng đây thị trấn
Mười ngã tâm tư hề, một nén hương
Đồng thanh rằng: «Quyết noi gương!»
Để một mai bông thắm, cỏ xanh rờn
Ca trống trận thôi lay bóng nguyệt.
Mừng đất trời gió bụi tan cơn
Chúng ta sẽ không hổ với người xưa
Một trận Đống Đa ngàn thu oanh liệt
Vì ta sau trước lòng kiên quyết
Vàng chẳng hề phai, đá chẳng sờn

Vũ Hoàng Chương


Trần Lãng Minh diễn ngâm

Đêm giao thừa nghe dân ca

Thứ Năm, 19 tháng 1, 2012

Mùa Xuân Trong Nhạc




Posted Image



Một chút lai lịch về bản nhạc "Nhớ Một Chiều Xuân" - (Thy Nga - RFA 2006)


Ngoài tài sáng tác nhạc, Nguyễn Văn Đông còn hát và sử dụng được nhiều nhạc cụ như kèn, trống, mandoline và guitare Hawaiienne. Năm 1957, Nguyễn Văn Đông đi tu nghiệp khóa “Chỉ huy và Tham mưu” tại Hawaii. Trên bãi biển thơ mộng, tiếng đàn Hawaiienne của chàng Trung úy tài hoa 25 tuổi đã làm say mê Gina, một thiếu nữ bản xứ lai Pháp. 

Cuộc tình ấy, anh đành khép lại khi mãn khóa tu nghiệp, trở về nước. Thời đó, tức là cách nay nửa thế kỷ, kết hôn với người ngoại quốc là điều khó khăn lắm, anh chỉ còn biết tiếc nhớ …

Một buổi chiều Xuân năm sau đó, khi nỗi nhớ chất ngất, chàng nhạc sĩ viết nên bài  Nhớ một chiều Xuân

” mời quý vị nghe qua giọng hát Lệ Thanh, ca sĩ đầu tiên trình bày bài này. Đây là âm thanh trong dĩa hát Việt Nam thâu vào khoảng thập niên 60 (tiếng đàn Hạ Uy Cầm: nhạc sĩ Đan Phú, em của nhạc sĩ Đan Thọ)

Câu hát “Người yêu dấu bên bờ thành Vienne” làm nhiều người thắc mắc, không hiểu tại sao lại có thành Vienne ở đó? Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn đã hỏi và được tác giả Nguyễn Văn Đông giải thích là hình ảnh của Gina trong tâm tưởng ông đã gắn liền với nhạc bản “A beautiful Vienna” mà ông đàn nhiều lần cho nàng nghe vì nàng thích bài này


Nghe Nhạc Xuân của Nhạc Sĩ Nguyễn Văn Đông