Thứ Tư, 21 tháng 12, 2016

Chúc Mừng Giáng Sinh và Năm Mới

KÍNH CHÚC QUÍ  ANH-CHỊ  VÀ GIA-QUYẾN ...
MỘT GIÁNG-SINH 2016 AN-LÀNH
MỘT NĂM MỚI 2017 TRÀN ĐẦY SỨC-KHỎE, TƯƠI-VUI  THỊNH- VƯỢNG 


TÂM KINH

Chuông vang vang nhật nguyệt
vọng tha thiết ngàn năm
lời kinh cầu nhã khiết
du thuyết đường đạo tâm

Ăn năn người cúi mặt
thành kính lòng nguyện cầu
xin khắp cùng mặt đất
thôi trầm uất thương đau!

@

Chuông vang vang nhật nguyệt
xin ơn Chúa nhiệm mầu
ban phước lành dân Việt
trên khắp mặt địa cầu

Từ tâm người ngước mặt
nhìn Ngôi Chúa Giáng Sinh
đọc chân kinh mật khải 
mong thế giới hòa bình!

Cao Nguyên

Thứ Tư, 7 tháng 12, 2016

Tác phẩm bức tượng Thuyền Nhân


Vì là biểu tượng thiêng liêng của niềm khát vọng Tự Do và Nhân Quyền nên uỷ ban đã chọn điêu khắc gia Vi Vi nghiên cứu sáng tác và tạc một bức tượng mang ý nghĩa tâm linh để tượng đài này sẽ là nơi an nghỉ nghìn thu cho hằng trăm ngàn thuyền nhân và bộ nhân đã hy sinh trên bước đường đi tìm Tự Do.
Được biết Đài Tưởng Niệm do Tổ hợp Clark and Green Association Landscape Architecture thực hiện theo quan niệm Đông phương hình số 8. Pho tượng được đặt trên bệ trong hồ nước, hình thể chiếc tàu có vòi phun nước và đèn chiếu sáng. Ban đêm ánh đèn sẽ toả sáng rực rỡ toàn thể khu Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân. Chung quanh trồng 18 cây Palm sẽ tỏa bóng mát cho toàn thể khu vực này.

Pho tượng là một khối đồng màu nâu nặng 10 tấn. Sau bao năm miệt mài, nhà điêu khắc ViVi đã hoàn thành Tượng Đài như ý nguyện. Tượng Đài Thuyền Nhân được đúc bằng đồng là một quần thể 4 thuyền nhân gồm già trẻ dìu nhau trong những bộ áo quần rách tơi tả. Người thiếu phụ gương mặt đầy sầu thảm, tay trái ôm con dại trong lòng, tay phải giơ lên như cầu cứu mọi người trong thế giới Tự Do hãy ra tay cứu vớt và giúp đỡ! Nhìn vào bức tượng ai cũng cảm thấy ngậm ngùi đến rơi lệ vì đây là cái giá của Tự Do mà nam phụ lão ấu thuyền nhân Việt nam đã phải trả! Tượng đài được dựng trong một hồ nước tượng trưng cho đại dương và chung quanh hồ là những phiến đá khắc tên 6 ngàn thuyền nhân lên 54 tấm bia đá đã hy sinh trên đường đi tìm Tự Do."

Đài Tưởng Niệm đã chính thức khánh thành vào tháng 4 năm 2009. “Ngày Thuyền Nhân Việt Nam ” (Vietnamese Boat People Day) do Nghị Quyết mang số 4257 chọn ngày Thứ Bảy của tuần lễ cuối cùng tháng 4 hằng năm làm ngày Thuyền Nhân Việt Nam tại Westminster, California.

                              > Phóng Sự Ngày Thuyền Nhân 25 tháng 4, 2010 (video) 


                        
                     
                     

Tiểu Sử Họa Sĩ/ Nhà Điêu Khắc ViVi
                                                   

Tên thật: Võ Hùng Kiệt – Tên Thánh Rửa Tội: Michel
Ngày sinh: 14 tháng 7 năm 1945 – Sinh quán: Vĩnh Long
Bút hiệu: ViVi do ghép hai chữ đầu Việt Nam và Vĩnh Long (ký từ năm 1964 khi vẽ cho Tuổi Hoa)
Cựu Sư Huynh La San - Promotion 82 Nha Trang năm 1962
Tốt nghiệp Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn năm 1968.
Vượt biên năm 1981 và tạm định cư tại Montréal, PQ, Canada.
Sang Mỹ năm 1995 tạm trú tại San Diego tới nay.
Bắt đầu vẽ từ nhỏ, đến năm 1958 mới chính thức vẽ bìa và truyện tranh cho tờ báo Tuổi Xanh của cụ Bảo Vân Bùi Văn Bảo.

Trước 1975:
- Vẽ minh họa và truyện tranh cho 2 tờ Nhật báo Độc Lập và Dân Chủ
- Sách Giáo Khoa cho các nhà xuất bàn: Quê Hương, Nhật Tảo, Sống Mới, Cành Hồng, Khai Trí, và sách giáo khoa cho trường mẫu giáo Claire Joie (Annexe de Regina Mundi)
-Báo Chí: Vẽ bìa và minh họa cho các tờ báo Tuổi Xanh, Tuổi Hoa, Bạn Trẻ, Tinh Thần (Nha Tuyên Úy Công Giáo QLVNCH), Trái Tim Đức Mẹ (Dòng Đồng Công), Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp (Dòng Cứu Thế)
-Bắt đầu vẽ Tem Bưu Hoa từ năm thứ nhất Cao Đẳng Mỹ Thuật cho đến năm 1975. Được khoảng 40 giải thưởng về Bưu Hoa của Tổng Nha Bưu Chính VNCH, ký tên thật Võ Hùng Kiệt.
-Chỉ triển lãm 3 lần tại phòng Thông Tin Văn Hóa Sài Gòn, Phòng Hội Hoạ Sĩ Trẻ và Alliance Francais để cứu trợ nạn nhân trong Nạn Lụt Miền Trung, Miền Tây và Tết Mậu Thân.
Ngoài vẽ tranh còn điêu khắc các pho tượng:
- Tượng Các Vị Thánh Tử Vì Đạo VN 1 đúc đồng và đặt tại: Maria Lewinston Garden (New York), Dòng Đồng Công (Carthage, Missouri), Denver, Colorado và Arlington Texas.  
- Tượng Các Vị Thánh Tử Vì Đạo VN 2 đặt tại Austin, Texas.
-Tượng Mẹ Maria Việt Nam đặt tại Amarillo, Texas.
-Tượng Thuyền Nhân Vượt Biển đặt tại Westminster, California.
-Tượng Thủ Tướng Canada: Pierre Eliotte Trudeau.
-Tượng Linh Mục Trần Đình Thủ (Sáng lập Dòng Đồng Công).

-----------------------------------------

Thứ Tư, 23 tháng 11, 2016

Thanksgiving 2016




Thanks For All Who Serve Our Country

"THANKSGIVING PRAYER FOR OUR SOLDIERS" 




Take a Moment To Say Thanks
Many of us take everyday moments in our lives for granted – from family dinners and bed time stories to connecting with friends and family, or walks with the dog. But these are the very moments that our troops and their families miss due to their commitment and service to our country.

Take a moment today to say thanks to our troops 

and their families 
for the sacrifices they make every day.


 Kính, thân chúc 
 Quý Niên trưởng, Chiến hữu, Thân hữu,

 Một Lễ Tạ Ơn đoàn tụ, an lành, vui vẻ... 

Thứ Hai, 14 tháng 11, 2016

Người đàn bà trên tỉnh lộ 7

(Viết cho những khốn khổ, những điêu linh của đất nước tôi và dân tộc tôi)

Tôi gấp quyển sách đang đọc dở dang, đưa tay chùi vội những giọt nước mắt vừa lăn dài xuống má.
Quyển sách đó có tựa đề thật đơn giản “Những Người Tù Cuối Cùng” của tác giả Phạm Gia Ðại và chính anh cũng là một trong hai mươi người tù cuối cùng được thả ra sau hơn mười bảy năm bị giam cầm, tù đày trong lao tù Cộng Sản. Anh và các bạn đã là nhân chứng sống của lịch sử. Những dòng chữ đó có hấp lực thật lạ lùng, càng đọc càng như bị kéo ngược về dĩ vãng – một dĩ vãng đau buồn và uất hận mà tôi đã cố chôn vùi thật sâu trong tận cùng của ký ức…
Sau biến cố tang thương của tháng 3 năm 1975 rút khỏi Ban Mê Thuột – là những đổ vỡ – những mất mát – những chia lìa – những đọa đày – những uất hận của tập thể Quân Dân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa, một quân đội hùng mạnh với những người con đã sống chết cho lý tưởng tự do và sự phồn vinh của dân tộc. Ba mươi sáu năm qua biết bao thăng trầm – nhưng mỗi lần nhớ về, lại là những lần nhói buốt, nó như vết thương lòng không thể nào lành. Tôi thầm cám ơn tác giả của quyển sách đó đã là động lực để tôi ngồi xuống ghi lại những hình ảnh mà tôi đã chứng kiến của buổi chiều hôm ấy…
Trong cái lũ lượt của đoàn người di tản từ Pleiku và Kontum qua con đường tỉnh lộ 7. Con đường này bỗng nhiên ồn ào, náo nhiệt trong hỗn loạn, rồi tiếng gọi nhau vang dội cả một góc rừng. Tiếng khóc than, tiếng xe, tiếng súng nổ rền vang, hệt như đàn ong vỡ tổ, người chạy ngược kẻ chạy xuôi, tìm kiếm người thân bị thất lạc, đồ đạc vất bừa bãi, những chiếc xe hư bỏ lại trên đường ngổn ngang. Tôi và Hùng người em trai nhỏ, cũng tất bật trong đoàn người gian truân đó, bây giờ chỉ còn hai chị em, ba mẹ và các em còn kẹt lại Ban Mê Thuột, mấy bữa nay tôi đã chạy đôn chạy đáo để dò la tin tức gia đình, nhưng biết hỏi ai bây giờ, bởi chẳng ai biết rõ điều gì đã xảy ra.
Trong tâm trạng rối bời đó, tôi chỉ còn nhớ một điều là khi đến lớp, điều làm tôi ngạc nhiên là sĩ số các em học sinh đến trường chỉ còn một nửa, tôi đang tìm câu trả lời thì có một em học sinh đến gần bên tôi nhỏ nhẹ lên tiếng hỏi: “Thưa cô, ba mẹ em muốn biết là cô có muốn chạy loạn cùng xe với gia đình em không?” Chạy loạn!!! Tôi nghe tiếng chạy loạn mà tim nhói đau, có nghĩa là tôi phải rời bỏ nơi chốn này, xa trường, xa học trò thân yêu của tôi, mà đi đâu kia chứ ?. Nhìn đứa học trò ngoan mà tôi thương nhất lớp chưa biết phải trả lời ra sao ?.
Tôi mới ra trường được vài tháng, nhận nhiệm sở ở đây, ngôi trường nằm trên ngọn đồi thoai thoải trông thật dễ thương, tuy mới về nhưng tôi được học sinh, phụ huynh học sinh và các đồng nghiệp thương mến chắc tại cái nhỏ nhoi, yếu đuối của tôi trong làn sương mù và cái se lạnh của Pleiku chăng ?l
Tôi nghĩ thế. “Thưa cô, cô quyết định như thế nào ạ?”, tiếng nhỏ nhẹ của người học trò lại cất lên, cắt ngang dòng suy tư của tôi, tôi lặng lẽ gật đầu. Thế là mọi chuyện cứ tuần tự đi qua như đã được sắp xếp tự bao giờ để giờ này đây tôi cũng có mặt trong đoàn người di tản. Khi chiếc xe bị kẹt cứng, không thể nhích thêm một chút xíu nào, tôi nhảy xuống xe để được thoải mái một lát và đi lần về phía trước, bỗng nghe một giọng ru con lanh lảnh vừa ru, vừa khóc nghe thật não lòng!…
“Ví dầu cầu ván đóng đinh, cầu tre lắt lẻo, gập ghềnh khó đi. Khó đi mẹ dắt con đi, con đi trường học, mẹ đi trường đời.”
Tôi lần theo tiếng ru hời đó, đến dưới gốc cây to thì thấy một người đàn bà, đầu tóc rối bù, quần áo xốc xếch, ôm chặt đứa con trong lòng mà ru, tò mò bước đến gần để hỏi thăm, chỉ vừa kịp nhìn thấy đứa bé có nước da xám sậm, tôi như muốn ngã quỵ xuống, không biết đứa bé đã chết tự bao giờ, vậy mà người mẹ vẫn cất tiếng ru não ruột để ôm ấp, để vỗ về con mình.
Tôi kêu thất thanh, “Xin giúp chị ấy, con chị đã chết rồi!”
Thấy tôi la lớn tiếng, mấy người đang ở gần đấy bèn chạy lại, nhưng không thể nào lấy được đứa bé ra khỏi vòng tay, chị cứ ghì chặt đứa con vào lòng, đứa bé như một bảo vật, một gia tài cuối cùng của chị, vừa khóc vừa ru, “Con đi trường học, mẹ đi trường đời.”
“Chị đã thi đậu trường đời rồi đó chị,” tôi thầm nhủ như thế định mệnh oan nghiệt đã cướp đi người con yêu dấu của chị, chị cứ thế mà than van, “Con ơi! con bú đi con…” Tôi đưa tay bịt tai lại để không còn nghe giọng ru hời thống thiết của một người mẹ vừa mất đi đứa con nhỏ thân yêu.
Tôi không thể chịu đựng thêm nữa, bèn quỳ gối, trước khoảng đất trống gần đó mà lạy mười phương tám hướng vừa khóc, vừa van vái. Xin tha cho dân tộc con, cho đất nước con… Tôi úp mặt vào đôi bàn tay nhỏ bé kêu lên “Chúa ơi !”…
Bỗng một bàn tay, đặt lên vai tôi, “Chị ơi, chạy mau đi, không kip nữa đâu,” tiếng người em trai hối thúc. Tôi vội vàng đứng lên như người vừa hoàn hồn, tôi chạy như bay để lại sau lưng người đàn bà đang ôm ghì xác đứa con đã chết với tiếng ru hời bi thảm…
Ba mươi sáu năm trôi qua, chẳng biết người đàn bà với tiếng hát ru hời ấy về đâu???
* Hoàng Thị Cỏ May (Cali, 2011)