Thứ Năm, 2 tháng 4, 2015

ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN



Tượng Đài Chiến sĩ Việt Mỹ ở TP Westminter là hình ảnh biểu tượng, tượng trưng  quân nhân Việt Nam Cộng Hòa và đồng minh Hoa kỳ trong Chiến tranh Việt. Tượng đài Nạn Nhân CS cũng chỉ là hình ảnh biểu tượng, trượng trưng cho hăm mấy sắc dân nạn nhân của chủ nghĩa CS trên thế giới. Những nơi này trở thành danh lam thắng cảnh nổi tiếng nhưng không phải là chứng tích lịch sử như Bia Đá Đen ở Washington DC có khắc ghi ghi họ tên của quân nhân Mỹ tử trận ở VN, như những bia mồ mà người Việt hải ngoại đã trùng tu trên các hải đảo của Nam Dương và Mã Lai.
Còn Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân VN (Viêtnamese Boat People Meomrial) mà tượng đồng đúc ở ngoài nước Mỹ đã đưa về Little Saigon (Quận Cam). Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân ngoài  việc có  thể  trở thành một danh lam thắng cảnh mới cho Little Saigon, chắc chắn sẽ là một chứng tích lịch sử như Bia Đá Đen ở Washington, như bia mộ của những người vượt biên đã chết trên đường tìm tự do, trên các hải đảo. Bia mộ ở đảo CS Hà nội có thể áp lực hai nước Nam Dương và Mã Lai phá dẹp bỏ, nhưng ở Little Saigon của Mỹ thì không vì có người Mỹ gốc Việt của một cộng đồng người Việt hải ngoại đông nhứt thế giới bảo vệ.
Theo thông báo của Ủy Ban Thực hiện Đài Tưởng niệm Thuyền nhân VN mới đây, nhờ truyền thông đại chúng phổ biến sâu rộng, Ủy Ban "đang tiếp tục xúc tiến khắc tên thuyền nhân, bộ nhân, đã tử nạn lên tấm bia đá hoa cương chung quanh Đài Tưởng niệm Thuyền nhân. Chúng tôi trân trọng thông bào quý đồng hương khắp nơi trên thế giới gởi danh sách những thuyền nhân, bộ nhân để chúng tôi tiếp tục đưa vào danh sách. Chúng tôi không nhận bất cứ một chi phiếu nào đính kèm. Đây là một nghĩa cử tâm linh hoàn toàn bất vụ lợi mà Ủy Ban chúng tôi đã tâm nguyện thực hiện trong thời gian gần mưới năm qua. Xin vui lòng gởi về địa chỉ duy nhứt: Ủy Ban Thực hiện Đài Tưởng niệm Thuyền nhân VN, 9234 E. Valley Bld., Rosemead, CA 91770. ĐT (626) 288-2696. Fax: (626) 288-2033. Email: sgtimes@aol.com . Website:www.saigontimesusa.com . Thái Tú Hạp và Việt Dzũng."
Giải thích thông báo này theo nghĩa chặt che của văn từ, thì Ủy Ban đang khắc một số tên những người chết trên đường tìm tự do, và Ủy Ban mong muốn và lên tiếng kêu gọi gọi thân nhân hay những người biết ai đã tử nạn thì gởi về để Ủy Ban có càng đầy đủ càng tốt. Ủy Ban khẳng định không nhận tiền bạc gì từ những người gởi danh sách nạn nhân về để đề phòng bà con cô bác người Việt có  thói quen hay gởi tiền khi nhờ làm một cái gì để coi cho được, ngại tôn kém nên không làm và Ủy Ban bị bớt đi những  chứng tích lịch sử.
Điều đó cho thấy mục đích của Ủy Ban là thu thập càng đủ càng tốt chứng tích lịch sử, dữ kiện lịch sử về con người trong cuộc di tản vô tiền khoáng hậu của lịch sử VN sau ngày 30 tháng tư năm 1975. Mà chứng tích lịch sử, sự kiện lịch sử không có gì đánh động nhà viết sử, người khảo sử, có giá trị lịch sử bằng số người chết với danh tánh hẳn hòi vì một người là một tiểu vũ trụ, một sinh linh duy nhứt, một nhân vi, một mạng sống hơn một đống vàng.
Dù cuộc vượt biên bằng đường bộ băng rừng vượt núi, lội sông; dù cuộc vượt biên bằng thuyển nan vượt đại dương với sóng to gió lớn của Thái bình Dương với hải tặc Thái lan ở vùng biển Đông Nam Á, với sự vô tình của tàu bè quốc tế vì các quốc gia tàu cặp bên không nhận người được vớt, lương tâm Loài người bị đánh động. Dù Liên hiệp Quốc tổ chức cuộc định cư có trên 80 quốc gia dang tay ra cứu giúp, cho đến bây giờ cũng chưa cơ quan nào của Liên hiệp Quốc, của các siêu cường thế giới như Mỹ, Uc, Canada hay của các tổ chức phi chánh phủ dám chắc số người Việt nam tỵ nạn CS chết bao nhiêu trên đường tìm tư do. Có người ước đoán nếu đến bến bờ tự do được một triệu thì chết cũng phân nửa số đó.  Nửa triệu - cứ 2 người vượt biên thì có 1 người chết đại đa số là trên biển.
Theo sự hiểu biết hạn hẹp về vấn đề vượt biên của người viết bài này vì mới đến Mỹ năm 1996,  thì việc chết sống, chết biển, chết bị du kích, biên phòng, tuần duyên VC rượt bắn chết bỏ xác, hải tặc cướp sạch của cải và trinh tiết rồi vứt xuống sông để phi tang, việc chết bịnh trên đảo chờ định cư (tương đối có đủ tài liệu qua nhiều tổ chức và nhân chứng ghi nhận) là rất nhiều, là vấn đề thiết tha của nhiều người, nhiều gia đình Việt ở Mỹ. Lơ mơ, chân ướt chân ráo như người viết bài này lúc còn phải xách cập đến trường đại học "học đại" để kiến tiền Finacial Aid, việc đầu không thể không làm  được ở Mỹ là phải đỡ đầu một đứa cháu ngoại của một đồng đạo lớn tuổi, không rành trường ốc học hành để giúp cho cháu mà cha mẹ đi vượt biên mất tích hay chết cả hai. Nhiều nhà báo bạn như Nguyên Huy giúp loan báo nhiều lần không kết quả. Coi như ba má cháu ấy đã chết trên đường vượt biên. Tới bây giờ cháu ấy đã ra trường, đi làm, mỗi lần gặp lại đều thủ thỉ, "Ong Tám à, cháu thường nằm chiêm bao thấy ba má cháu lám; làm sao mình tìm được, Ong Tám?" Quá đau lòng sót dạ với một thanh niên ở Mỹ giàu phương tiện nhưng bất lực để biết cha mẹ mình còn hay mất!
Có lẽ cũng với nỗi đau lòng sót dạ như vậy, mà Ủy Ban mới viết trong thông báo, "Đây là một nghĩa cử tâm linh hoàn toàn bất vụ lợi mà Ủy Ban chúng tôi đã tâm nguyện thực hiện trong thời gian gần mưới năm qua." Và hơn một lần trên truyền hình SBTN, chị Ai Cầm, anh Thái Tú Hạp của báo Saigon Times nói chuyện nhắc đến vượt biên, là Chị không cầm được nước mắt, nhớ người nhà, người bạn đồng thuyền chết trên đường vượt biên, nên người viết bài này dẫn chương trình Câu Chuyện Cuối Tuần phải lựa lời chuyển hướng câu hỏi.
Có thể tin nghĩa vụ tâm linh, tình liên đới của người sống sót trên đường vượt biên đối với người đã chết trên đường tìm tự do. Thần giao cách cảm của người ở hai thế giới nhưng đồng hội đồng thuyên, đòng mục tiêu nhưng khác vận rủi may. Ý chí muốn để lại một chứng tích cho thế hệ đi sau biết  thế hệ đi trước, thế hệ thuyền nhân gian nguy, khổ ải, sống chết mong manh như thế nào  để biết vì sao các thế hệ trẻ được vô vàn cơ may khi sống ở đất nước tư do, dân chủ. Tin rằng ngần ấy chắc chắn sẽ  thúc đẩy người Việt tỵ nạn CS ở khắp thế giới biến Đài Tưởng niệm Thuyền nhân VN ở Little Saigon trở thành một chứng tích lịch sử của cuộc vượt biên vô tiền khoáng hậu gian nguy trong lịch sử VN. Làm một việc ý nghĩa tình người đạo lý cao sâu, giá trị lịch sử lớn lao mà chỉ bằng một hàng động dễ dàng không tôn kém tiền bạc gì cả: đó là cung cấp danh sách người chết trên đường tìm tư do cho Ủy Ban Thực hiện Đài Tưởng niệm Thuyền nhân VN.
Vi Anh

Thứ Ba, 24 tháng 3, 2015

Hoài Niệm Tuổi Trẻ


Sau ngày gọi là "giải phóng", rất nhiều nhà văn, nhà báo, chuyên viên, giáo sư đổi ra đạp xích lô.
Đó cũng là một góc cạnh về thế hệ thanh niên miền Nam đọa đầy dưới gót của đôi dép râu?
Sau 19 75, ra ngoài đường, Sài gòn vắng bóng chiếc áo dài. Cũng là vắng bóng tuổi trẻ miền Nam? Hay tuổi trẻ miền Nam không còn nữa? Người ta không còn phân biệt ai là con gái, ai là đàn bà được nữa đến như thể ai cũng là đàn bà, đến như thể ai cũng mất cả rồi.
Khi không còn những áo dài đó, Sài gòn buồn thiu. Như cây rừng không còn lá.
Tuổi trẻ miền Nam thời ấy ( trước 1975) biểu tượng vẫn là hình ảnh cô thiếu nữ mặc áo dài trắng quần trắng. Đừng thứ mầu khác, đừng xanh đỏ lò loẹt. Vén tà áo dài sang bên, hở một bên, kín một bên, cho thấy đùi trinh nữ, cho thấy tuổi dạy thì, hai đùi nhẹ khép lại khi bước đi hay khi ngồi trên chiếc xe vê lô sô lếch thời thượng.
Bây giờ, tôi không thấy những bước đi kiêu sa thiếu nữ như thế nữa. Đó là hình ảnh cô gái, mình ong thon thon ngồi trên chiếc xe Solex trông giống như một con bò ngựa biết bay. Phất phới, tung gió, nhẹ lướt, mái tóc hất lại đẵng sau, đầu buộc bím mầu xanh tím, để lại đằng sau những cái nhìn dõi suôi bắt không kịp. Và những đôi mắt thèm thuồng......thôi rồi Sài Gòn ơi!
Có phải em mang trên áo bay
Hai phần gió thổi, một phần mây
Hay là em gói mây trong áo
Rồi thở cho làn áo trắng bay?
Em cười tà áo bay trên
Đám mây ở dưới nỗi phiền muộn xa
Anh ngồi chỗ hẹn hôm qua
Đám mây ngồi cạnh bài thơ nhẹ nhàng,

Con gái biểu tượng nhất, cái Look theo nghĩa bây giờ là hình ảnh cái thân hình dong, lưng thẳng, găng tay trắng, cặp kính mầu, áo dài trắng, phải áo dài trắng mới được, mới con gái, mới trinh nữ, mới thanh khiết. Vạt áo dài phía sau vắt ngang sang bên kia để hở một bên phần đùi trông cộn hẳn lên trên chiếc Vê lô solex mầu đen. Đi xe vê lô solex chứng tỏ con nhà khá một tý, sang trọng và đài các. Cái dáng ngồi solex trông rất con gái, rất phái tính.
Người phụ nữ sinh ra là để như vậy. Les femmes seraient faites ainsi.
Quyến rũ bằng chính thân xác mình.
Nhờ áo dài đó mà phụ nữ, cô nữ sinh trở thành phụ nữ hơn. Phải nói là thời thượng và ấn tượng lắm.Nó biểu tượng cho cái gì tinh khiết, trinh nữ, tinh tuyền và mời gọi. Nó che dấu bằng hai vạt áo dài mà như thể mở, biện chứng kín mà hở. Nó mời mọc mà kín đáo chối từ, nó bày tỏ phái tính, sexy đến ứ cổ họng với nét nổi lên của chiếc quần lót hằn lên tuổi dậy thì. Không có y phục phụ nữ nào trên thế giới lại sexy đến như thế. Ngay cả sau này với mini-jupe cũng không sánh bì
Áo dài không ăn gian, cạnh đó là hàng nút bấm mong manh như lối ngõ vào bên trong nằm hở ra cạnh sườn. Nó không những chỉ là một nét đẹp con gái mà nó trở thành biểu tượng cho một nếp sống văn hóa Việt Nam.

Chẳng biết từ lúc nào toàn miền Nam mà đặc biệt các nữ sinh Trung Học, từ Sài gòn ra Trung, từ Sài gòn xuống Lục tỉnh. Chỉ áo dài là áo dài. Áo dài Trưng Vương, áo dài Gia Long, áo dài Nữ trung học Lê văn Duyệt, áo dài Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ Tho, áo dài Tống Phước Hiệp, Vĩnh Long, áo dài Nữ Trung Học Nha Trang và nhất là áo dài Đồng Khánh Huế.
Và nó cũng mở đầu cho thiên tình khúc tuyệt vời Ngày xưa ... Hoàng Thị của Pham Thiên Thư
Sau này, không biết bao nhiêu những tranh ảnh, bìa báo Xuân, báo Tết chụp hình các thiếu nữ trẻ miền Nam trong chiếc áo dài truyền thống đó.
Và người ta có thể hãnh diện về điều này mà không có gì phải hổ thẹn khi nói đến.
Tuổi thanh xuân thiếu nữ đi liền với nét đẹp con gái ấy. Cộng thêm cái thói ăn quà vặt. Ăn qùa vặt là rất con gái, rất trẻ, rất bắt mắt. Khi cô nữ sinh ăn quà thì tưởng là ăn quà thật. Nhưng đôi khi cũng chỉ là cái cớ sự cho sự trình diễn, sự được nhìn. Nó như chờ đợi một điều gì đó.... đã chờ đợi từ tuổi 15, 16 thời con gái, nay đà 30 và bao nhiêu thế hệ con gái cũng đã chờ đợi như thế. Như cơn mưa mùa hạ. Như chồi non hé nụ. Như em chờ anh lúc này
Cuộc đời đôi khi đơn giản là như thế.
Ngoài hai thứ đó ra, con gái cũng đi dạo phố. Con trai đi dạo phố là để ngắm. Con gái đi dạo phố xuất hiện như một trình diễn, ăn diện, mốt, kiểu để được nhìn, để được thừa nhận, để nhận phần lớn là những lời tán tỉnh, khen tặng.
Và cuối cùng, thú vui giải trí chung cho cả con trai lẫn con gái vẫn là ciné và tiệm sách. Ciné là nơi hẹn hò để trai gái gặp nhau cuối tuần để trò chuyện, để tỏ tình, để lén lút hôn nhau. Những nụ hôn mật ngọt ấy. Quên sao được. Những mối tình của giới trẻ thời đó đến đó và dừng lại ở đó. Sau đó để lại một chút gì. Để kỷ niệm, để nhớ, để mãi mãi là như thế.
Nay gặp nhau cuối đời, lòng như chợt tỉnh, như chấu ủ bếp lửa bừng lên từ đám tro tàn. Gặp nhau muộn phiền, thương hoài ngàn năm.
Chân díu bước mà mắt nhìn vương vướng
Nàng đến gần tôi chỉ dám quay đi
Cả những giờ bên lớp học trường thi
Tà áo khuất thì thầm chưa phải lúc
(Tuổi mười ba)

Tuổi trẻ miền Nam là như thế. Lành mạnh mà không thiếu lãng mạn, tình tứ. Dắt tay nhau mà đi. Làm thơ tình. Gởi gắm nhắn nhe.
Nhưng may thay, mọi người Việt Nam, nhất là thanh niên, giới trẻ, lúc bấy giờ đều có một giấc mơ là làm thế nào để có một miền Nam phát triển và phú cường để đối địch với miền Bắc.
Và mặc dầu còn có những bất cập đủ thứ, tôi vẫn phải nhìn nhận rằng, những năm tháng còn lại, kể từ ngày ấy, mỗi giây phút năm tháng sống, học hành, lớn lên thành người thời đệ nhất Cộng Hòa Việt Nam vẫn là những năm tháng ân sủng cho tuổi trẻ của tôi và những bạn bè cùng trang lứa.
Chúng tôi đã lớn lên từ đó, trở thành người hữu dụng cũng từ đó.
Chúng tôi có bạn đồng hành, đồng trang lứa, có những người lính, người sĩ quan VNCH cùng lớn lên ở đấy, đang xả thân thay cho chúng tôi. Và cho dù cuối cùng để mất miền Nam thì những giá trị tinh thần ấy vẫn còn đó.
Nguyễn Văn Lục

Thứ Bảy, 14 tháng 3, 2015

Dấu Tích Thương Đau


Bích Huyền thực hiện

(Cảm nghĩ sau khi xem PPS “Dấu Tích Thương Đau”,
Hương Kiều Loan thực hiện nhân ngày 30/4/2009)



Khởi đầu bằng những nốt nhạc như giọt nước mắt rơi từng giọt trên phím dương cầm…, rồi tiếng saxo ngân dài như tiếng thở than, mở ra bức ảnh “Chiều Đã Xuống” nơi không gian mùa xuân vùng Hoa Thịnh Đốn, được ghi lại qua ống kính Hương Kiều Loan.
Vâng, chiều đã xuống, dòng sông “Lặng Lẽ” yên bình, lấp lánh chút nắng cuối cùng của một ngày sắp hết. Một người đang chậm rãi “Đếm Bước Thời Gian” trên chặng cuối cuộc đời. Tôi như nghe được cả tiếng gõ nhẹ của chiếc dù chống xuống từng viên gạch dưới chân. Người ấy chậm bước dọc theo hàng cột đá trắng lặng lẽ. Ống kính của Hương Kiều Loan không dừng lại nơi hình ảnh “Cô Độc” ấy mà tiếp tục chiếu thẳng lên cao, lên cao, nơi có những vòng hoa tưởng niệm màu tang đen. “Trên Cao” nữa…,

(“Vòng Tưởng Niệm”)

màu đen ấy hóa thành khối tròn nằm giữa những cột đồng đen tạo thành một quần thể mạnh mẽ và hài hòa với hai cánh phượng hoàng chụm vào nhau “Đâu Cánh”. Và khi “Những Ngôi Sao Đã Tắt” vô tình như “Dòng Thời Gian Trôi” để lại khoảng trời thinh lặng, bức tượng những người lính bắt đầu hiện ra...

Những dáng người ngồi ủ rũ, người ngửa mặt lên trời, người ôm vào lòng xác đồng đội vừa mới hy sinh.
Những người lính, gương mặt họ còn trẻ quá.
Những bông hoa cẩm chướng tươi đẹp màu đỏ thắm của ai đó đặt trên vai, trên tay người chết. Lác đác vài cánh hoa rơi. Bất động. Chỉ có hình ảnh cô bé con xinh xắn, trong trang phục màu đỏ, đầy nét sống động. Hình như cô bé đang chơi với những đóa hoa rơi…

Tất cả được Hương Kiều Loan ghi lại trong tác phẩm “Hoa Màu Máu”.
Bức màn quá khứ được Hương Kiều Loan mở ra…

Anh Phải Sống…!” Rồi…“Thượng Đế Ơi!”, tiếng kêu gào thống thiết, tuyệt vọng. Có ai nghe thấy không? Có ai thấu chăng? Người lính ngước mặt nhìn trời cao mênh mông… Ống kính chuyển sang bàn tay “Mỏi Mệt” của người lính. Những ngón tay đen đủi, im lìm trên bậc thềm đá lạnh lẽo. “Bây Giờ Sao Đây???”, “Không Thể Lùi”, Ta Phải Thắng!” “Nhưng…!!!” “Mất Rồi”, “Mất Hết Rồi!!!...” Chỉ còn đôi chân “Rã Rời…!” của người lính duỗi ra, bất động… Ôi, “Thương Đau” quá!
Người Bỏ Ta Đi” nhưng “Tên Người Bia Đá Khắc Sâu”…

Ống kính của Hương Kiều Loan thật tài tình, bén nhậy. Mọi góc cạnh nắm bắt chỉ trong khoảnh khắc nhưng mối xúc cảm thật mạnh mẽ và đọng lại rất lâu trong ánh mắt, trong trái tim người xem. Lòng tôi như chùng xuống, trái tim như có khối nặng đè lên, nghẹt thở…
Những người lính ấy đã nằm xuống trên giải đất quê hương tôi. Họ đã hy sinh thân mình để bảo vệ mảnh đất miền Nam Việt Nam tự do tươi đẹp. Tên tuổi họ chi chít trên bức tường đá đen. Ôi, “Dấu Tích Thương Đau” một thời… Hương Kiều Loan nắm bắt được hình ảnh phản chiếu người thiếu nữ đang quỳ xuống, gục đầu, chiếc bóng soi mờ ảo qua bức tường. “Đau Thương Đời Đời” chẳng sao quên… Và cái “Dấu Ấn Thương Đau” trên bức tường đá đen ấy ngày lại ngày soi bóng lớp lớp người đến viếng thăm. Như trong một cõi mộng, họ đang tìm nhau….

* * *

Tôi có nhiều dịp đến Washington DC thăm nhiều thắng cảnh của vùng Đông Hoa Kỳ. Mỗi nơi một vẻ đẹp nhưng Đài Tưởng Niệm Quốc Gia, trong đó có Bức Tường Đá Đen tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn–ghi tên hơn 58,000 cựu quân nhân Mỹ hy sinh và mất tích trong cuộc chiến Việt Nam–vẫn làm cho tôi xúc động hơn cả…

Lần đầu tiên tôi đến thăm Bức Tường Đá Đen là vào năm 1992, khi chân ướt chân ráo vừa đến Hoa Kỳ. Hai mẹ con được Hồng Thủy và Minh Trân tặng cho vé máy bay sang dự Đại Hội Trưng Vương Hoa Anh Đào. Vợ chồng Viên-Thủy dẫn tôi và các bạn học cũ đến nơi đây. Tôi còn giữ nhiều hình ảnh hai mẹ con đứng bên những bức tượng.

Ngày ấy nhìn những bức tượng người lính tôi chỉ thấy lòng chùng xuống, thoáng cay cay trong mắt, chứ không có được những ý nghĩ tuyệt vời như trong các tiểu đề Hương Kiều Loan đã đặt tên. Mỗi dòng chữ tuy ngắn nhưng cô đọng và ngôn ngữ thì vô cùng, gợi cho người xem bao nỗi thương cảm và tri ân sâu đậm.
Hình ảnh bức tượng đồng những người lính chiến, những người nữ quân y đứng lặng lẽ trong khung cảnh xao xác lá cây cứ ám ảnh tôi mãi… Tôi cảm thấy lòng u uẩn khi nghĩ đến hàng triệu, hàng triệu cựu chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh trước và sau ngày 30/4/75.

Linh hồn họ bây giờ đi đâu? Về đâu?
Biết bao giờ họ mới có một nơi an nghỉ thực sự?

Hàng năm không ngớt những lượt người đến viếng thăm, tìm hiểu về Bức Tường Đá Đen được dựng lên như một đài tưởng niệm và vinh danh 58,249 binh lính Mỹ đã hy sinh trong cuộc chiến Việt Nam để bảo vệ tiền đồn thế giới tự do. Những người cựu chiến binh ấy cũng như những người lính Việt Nam Cộng Hòa đã chiến đấu hăng say trong một cuộc chiến tuyệt vọng, tuy rạng ngời lý tưởng nhưng đã bị làm cho hoen ố vì những thương lượng trên bàn cờ chính trị nhơ bẩn tại Washington DC.

Thế nhưng những hy sinh của bao người lính ấy vẫn đời đời được tôn vinh!
Người có sáng kiến xây dựng tượng đài là ông Jan Scruggs, một cựu chiến binh đã từng tham chiến tại Việt Nam. Ông luôn suy nghĩ về cuộc chiến tranh này và ông rất mừng khi đọc được cuốn Carred To The Wall của Kristin Ann Hass, một nhà xã hội trường Đại học Michigan. Đây là tác phẩm nói lên lý tưởng cao đẹp của cuộc chiến, làm thay đổi cách nhìn sai lạc về cuộc chiến tranh Việt Nam.

Sau đó ông Jan Scruggs thiết lập được một ngân quỹ xây dựng Tượng Đài. Thời gian ấy, nhiều người Mỹ vẫn còn chán ghét và lên án cuộc chiến tại Việt Nam, nhất là sau thất bại của Mỹ tại đất nước này. Họ chống đối và ngăn cản việc xây dựng tượng đài.

Ông Jan vẫn giữ ý định và đã vượt qua bao khó khăn sóng gió để có được một ngân quỹ. Năm 1981, ông tổ chức cuộc thi vẽ đồ án. Người có đồ án được chọn trong 1,421 đồ án là cô Maya Ying Lin, người Mỹ gốc Trung Hoa, sinh viên kiến trúc Đại học Yale.

Khi đồ án trúng giải được công bố, tác giả bị chống đối mạnh mẽ vì Đài Tưởng Niệm ấy và các Đài Tưởng Niệm Tổng Thống Washington và Lincoln tạo thành hình chữ “V”, mẫu tự viết tắt của chữ Victory (Chiến Thắng), mà nhiều nhà phân tích cho rằng làm hỏng ý nghĩa nơi chốn an nghỉ. Nhiều người đòi cô Maya Ying Lin phải sửa đổi, nhưng cô từ chối. Cuộc tranh luận và vận động kéo dài đến sáu năm, Đài Tưởng Niệm mới được khởi công xây dựng. Kể từ lúc khánh thành (năm 1982) cho đến ngày nay, gần 30 năm qua, mỗi năm có hàng triệu người đến thăm viếng. Bức Tường Đá Đen vẫn là nơi thu hút du khách nhiều nhất. Nhiều người Mỹ ngày trước vẫn tỏ ra thờ ơ khi đến thăm nơi này, nhưng bây giờ thì họ bắt đầu nói rằng, “Chúng tôi đã nhìn thấy chính con người mình qua tượng đài ấy.” 

Lần thứ hai đến nơi đây vào mùa thu, tôi cảm thấy gần gũi, ấm áp hơn vì đã tìm hiểu được quá trình xây dựng khu tượng đài tưởng niệm cuộc chiến trên quê hương mình. Hơn thế nữa, ngày nay nhiều thành phố ở khắp các tiểu bang Hoa Kỳ đều có rất nhiều đài tưởng niệm cuộc chiến Việt Nam. Tượng Đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ ở thành phố Westminster tại Little Saigon, trung tâm của người Việt tỵ nạn, là một trong những tượng đài được nhiều người biết đến và thường xuyên viếng thăm.

Các đài tưởng niệm cựu chiến binh Việt Nam và Hoa Kỳ trong cuộc chiến Việt Nam cũng như Đài Tưởng Niệm Nạn Nhân Chế Độ Cộng Sản tại DC vinh danh hơn một trăm triệu nạn nhân của chế độ cộng sản trên toàn thế giới, cho thấy người dân Hoa Kỳ luôn ghi nhớ và tôn vinh sự hy sinh cao cả của các chiến sĩ và những người đã không ngừng đấu tranh, hy sinh vì lý tưởng tự do…


* * *

Mùa thu khung cảnh nơi đây như đẹp hơn. Hàng cây như thay màu áo mới, không gian như rực rỡ hơn, bao phủ bức tường tưởng niệm tựa như những bông hoa mà thiên nhiên ban tặng. Như những tấm huy chương lấp lánh cài lên ngực áo của những người lính mà tên tuổi được khắc ghi trên Bức Tường Đá Đen. Chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến tranh chính nghĩa, anh hùng, tuy vẫn còn dư âm chua xót ngậm ngùi của một thời đã qua.

Dạo quanh khu Tưởng Niệm, tôi có cảm tưởng đang bước vào nơi ghi dấu một huyền thoại như thực như mơ. Chiến tranh Việt Nam, một thiên anh hùng ca bất tận!…

Hãy khép mắt… khép mắt thật khẽ
Có thấy chúng ta rơi vào giấc ngủ sâu vào những giấc mơ
Hương hoàng lan lẫn mái tóc người yêu

Những câu thơ ấy của Thanh Tâm Tuyền, từ bài thơ “Khai từ của một bản anh hùng ca”.

Ôi, khép mắt lại, khẽ thôi…, ta sẽ thấy gì? Chỉ thấy những ác mộng… Chỉ thấy cánh rừng cháy, người chết phơi thân xác tan tành, những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa “hàng hàng lớp lớp chưa về”, đứng bất động trong mưa, nghiêm chào lá quốc kỳ lần cuối… Rồi chia tay. Nhiều người đã chọn cái chết.

Pháo lấp Khe Sanh, cắt Đường Chín
Như hung tin không kịp báo về
Gió Hạ Lào cuốn cờ tưởng niệm
Đá Trường Sơn đứng sững như mê
(Khoa Hữu)

Một thiên anh hùng ca tuyệt đẹp, trong đó những người hy sinh vì Tổ quốc, vì lý tưởng tự do bất tử với thời gian.

Bỗng dưng tôi chợt mơ ước, có một ngày trở về quê hương để tìm đến những nơi chôn cất thân xác những người đã nằm xuống trước và sau cuộc chiến. Thắp một nén nhang trên mỗi nấm mộ, nhổ sạch cỏ dại, lau bụi tấm mộ bia, viết trên những nấm mộ ấy hai chữ “Biết ơn”…
Đừng để cho…

Người lính trận bỏ tình đi đâu mất
Bỏ trăm năm khói tụ mây thành
Lòng nghĩa trang tiếc thương đã nhạt
Cả vòm trời như áo nửa manh

Đất ấy của ta, ta còn hiểu
Đồng đội của ta, ta còn đau
Giấy mực đời chép ra ví thiếu
Lấy da này viết để tạ nhau
(Khoa Hữu)

Xin cảm ơn Hương Kiều Loan với PPS “Dấu Tích Thương Đau” ghi lại thật đậm nét những “dấu tích” không bao giờ xóa nhòa trong tâm tưởng bao người.
Ước mong ống kính Hương Kiều Loan sẽ có một ngày trở về quê hương. Tôi tin chắc rằng Hương Kiều Loan sẽ lại có thêm những tác phẩm tuyệt vời…

* Những chữ in nghiêng đặt trong ngoặc kép là các “tiểu đề”
trong PPS “Dấu Tích Thương Đau”.

* Xin vào links bên dưới để xem PPS “Dấu Tích Thương Đau”:

[link=http://honque.com/HQ053/DauTichThuongDau_HKLoan.html]http://honque.com/HQ053/D..chThuongDau_HKLoan.html[/link]

Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2015

Tấm Thẻ Bài


 Tấm Thẻ Bài  

image
 
Hoa Kỳ – 1970, 20 tháng Tư, Tổng thống Nixon tuyên bố sẽ rút 150.000 quân trong 12 tháng sắp tới giảm tổng số quân nhân Mỹ tại Việt Nam xuống 284.000 người. Phong trào phản chiến tiếp tục ở Mỹ.

image
 
Ngày 4 tháng Năm, sinh viên tại đại học Kent State bị Vệ binh Quốc gia bắn trong cuộc biểu tình. Ngày 9 tháng Năm, khoảng 80.000 người và 10 dân biểu quốc hội đã tham dự cuộc biểu tình phản chiến tại công viên Ellipse hay President’s Park South trước Nhà Trắng ở Washington, DC.

image
 
Chiến trường Việt Nam – Ngày 13 tháng Năm năm 1970, toán quân của Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 1 Bộ binh, Lữ đoàn 11 Bộ Binh thuộc Sư đoàn Hoa Kỳ đang vượt qua cánh đồng vừa gặt, bất chợt súng nổ vang trời. Từ những lùm cây xung quanh, đạn và lựu đạn bủa xuống cánh đồng Việt Nam, nhắm thẳng vào toán quân Mỹ. Tiếng người bị thương kêu gào lẫn trong tiếng đạn, khói súng mịt mù. 

image
Người lính buồn ở mặt trận A Shau (1970, Việt Nam).
 
Anh, người lính cứu thương của Đại đội Tổng hành dinh, không vũ trang, vai mang túi thuốc, bổ nhào xuống mặt đất, lần theo tiếng rên la của đồng đội đã trúng thương cách đó cả 100 mét. Vẫn trên đường tìm đến bạn, một viên đạn địch đã xuyên da thịt anh. Không ngừng, dưới lằn đạn địch đang đan trên đầu, anh lại tiếp tục bò và chạy đến nơi, bó thương cho đồng đội. Đạn vẫn bay, súng vẫn nổ, và lại tiếng kêu trúng thương của một đồng đội khác; anh lại tiếp tục bò đi tìm bạn, một viên đạn khác lại tìm được thân thể anh; không ngưng nghỉ, dò theo tiếng kêu cứu, anh vẫn bò, kéo túi thuốc và khi chỉ còn 10 thước cách người bạn đang chờ thì đạn địch quân đã chấm dứt đời anh.

image
 
Anh là David F. Winder, binh nhất y tá không vũ trang của Đại đội chỉ huy, đã quên mình, dũng cảm hy sinh cứu đồng đội tại chiến trường miền Nam Việt Nam. Chính phủ Hoa Kỳ đã truy tặng cho anh Huy chương cao quý nhất của quân đội, Medal of Honor – Huy chương Danh dự. Năm đó anh 23 tuổi. 

Tháng Năm, 1970, David viết thư về Mỹ hẹn ngày sẽ gọi điện thăm hỏi gia đình. Đó là lá thư cuối cùng và từ đấy David không còn gọi điện về thăm nhà được nữa.

Mai trở về chiều hoang trốn nắng
Poncho buồn liệm kín hồn anh (*)
I will return on a radiant afternoon, avoiding the sun,
Wrapped tightly in a poncho which covers all my life. (**)

image
  David F. Winder
 
Sinh tại Edinboro, Pennsylvania, lớn lên ở Ohio, David chết tại chiến trường Việt Nam và an nghỉ ngàn thu tại nghĩa trang Mansfield, quận Richland, Ohio, nước Mỹ. 

***

Tháng 10, 2008 – 38 năm sau, ở Mount Airy, Philadelphia, một người đàn ông 60 tuổi, miệng ngậm píp, dáng điệu băn khoăn nhìn qua khung cửa như đang nóng lòng chờ đợi ai về...
 
Sài Gòn, tháng Sáu 2008 – Jess DeVaney, cựu quân nhân Thủy Quân Lục chiến, và khoảng hơn mười cựu chiến binh và người tình nguyện khác, thuộc tổ chức cựu quân nhân Tour Hòa Bình, trong hai tuần công tác đã mua lại được khoảng 200 tấm thẻ bài của những người hào hiệp hoặc ở các khu bán hàng kỷ niệm cho du khách đến Việt Nam.

image
 
Tour of Peace, trụ sở ở Tucson, Arizona, đã hoạt động 10 năm qua trong mục đích hàn gắn lại vết thương từ thời chiến tranh bằng cách trở lại các mặt trận cũ ở Việt Nam làm công tác từ thiện như xây giếng, lọc nước, phát tập vở bút viết cho học trò,… Đồng thời Tour of Peace cũng đi tìm lại vật dụng cũ của những người lính Mỹ ngày xưa đem về giao lại cho thân nhân và gia đình của họ. Nhóm Tour of Peace đã đem về lại Hoa Kỳ được 1940 tấm thẻ bài và đã tìm được và trao lại cho 580 gia đình tử sĩ Hoa Kỳ. 
Trong những thẻ bài đó, một tấm đã cong với vết rạn nứt in những hàng chữ số

image
“Winder David F. 
Số quân E 292 44 4402,
Máu A Cộng,..”

Sau vài tháng tìm kiếm khắp nơi, Tour of Peace đã tìm được người thân của binh nhất David Winder.
Joe Winder, người đàn ông ở Philadelphia, chính là thằng em thân thiết đã ở cùng phòng với David suốt thời niên thiếu. Joe không ngờ có ngày sẽ nhận được kỷ vật của người anh thương mến.

image
Cha Mẹ của David F. Winder
 
Thứ Ba, ngày 9 tháng 12, 2008 – Mount Airy, Philadelphia, người đàn ông 60 tuổi mở hộp nhung đen, cầm tấm thẻ bài rạn nứt, xoa nhẹ ngón tay trên hàng chữ David Winder F. và bật khóc.
Joe sẽ đeo tấm thẻ bài bên cạnh tim ông suốt khoảng đời còn lại.

image
Thẻ bài của Winder David F. trong tay người em, Joe Winder. 
 
Việt Nam – tháng 12, 2008, sau 33 năm ngưng tiếng súng, vẫn còn là một quốc gia yếu, nghèo, không dân chủ, kém văn minh. Trong 85 triệu con người đang sống ở đó và hơn 3 triệu người mang dòng máu Việt Nam đang ở rải rác khắp nơi từ Mỹ sang Âu sang Úc còn có rất nhiều người em, người con, người vợ, … đang mong đợi có ngày được như Joe Winder, được nhìn lại kỷ vật của người yêu, được về ngồi bên mộ cũ, được thắp nén nhang vọng tưởng người thương,… 

image
 
Hàng trăm ngàn người lính Việt Nam đã đổ máu, gục ngã cho quê hương nhưng mồ họ vẫn chưa yên, mả của họ vẫn lạnh tanh không hương khói. Tại sao? 

Những người lãnh đạo Cộng sản Việt Nam – không phải chỉ những người hôm nay – từ lâu rồi, từ bản chất, họ là những người không có lương tri, không có đến một iota lương tâm, đạo đức. Ngày nay, họ chỉ là những con buôn khoác áo Mác Lê rách nát – lúc thì họ buôn xương lính Mỹ khi thì họ buôn thân xác phụ nữ Việt Nam…

image
 

Ngàn sau người viết sử sách Việt Nam biết và sẽ công minh ghi rõ cáo trạng của người đã tuyên bố “Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn,…” và đồng đảng bất lương của hắn.