Thứ Năm, 8 tháng 1, 2015

Sửa Soạn Cho Ba Ngày Tết



Chiều cuối Đông về trên phố ảo
Tiễn biệt người nước mắt thật cay! 


Chào chị Minh Thanh, tôi nghĩ là chị vừa qua khỏi phố, để về nhà lo toan cho những ngày Tết đến. Với hương khói cúng Ông Bà, với mứt quà cho gia đình. Một cái Tết ở quê nhà nhìn từ xa vẫn bộn bề nỗi nhớ. Và chị đã viết về những điều đáng nhớ ấy trong bài: SỬA SOẠN CHO BA NGÀY TẾT. 

"Một cái Tết nữa lại về, sáng nay nắng xuân chan hòa, và tôi như thấy lại hình ảnh mẹ hiền lui cui trong bếp, với nồi mứt, xoay qua thì bà đã đi ra xem xét mâm cải phơi ngoài sân..." 
Đó là câu kết của bài viết, và tôi không nghĩ là chị bỏ lại nắng Xuân hiền hòa để ra đi về nơi miên viễn, trút bỏ phận người. Tôi đánh lừa tôi thôi, giống như khi tôi đọc thơ Bùi Giáng, tôi như thấy đang chuyện trò với ông ta trước cửa trường Đại Học Vạn Hạnh bên chân cầu Trương minh Giảng. Hay khi nghe Duy Khánh hát "Xuân này con không về", tôi nghĩ tôi còn ở nơi tiền đồn heo hút ấy!. Thật ra, ai đi cũng đã đi rồi. Còn chăng chỉ là cái tình trụ lại trong tâm của những ân tình. Như chị bây giờ ra đi, ngoài những người trong gia đình thân tộc, chị còn rất nhiều những người bạn chân tình trên phố đời và trên phố ảo.
Riêng trên phố ảo, ngoài Đặc Trưng, Gạch Nối Online... tôi không biết còn bao con phố có người vừa nhắc đến chị với sự thương tiếc một người chị, người bạn và người em cảm mến nhau mà đến với những tấm lòng trong ân tình chữ nghĩa.
Chỉ còn 20 ngày nữa là đến Tết Việt Nam, vậy mà chị đã không còn dịp lo cho gia đình những gì cần lo cho 3 ngày Tết. Biết thế, từ Tết năm kia, chị đã viết sẵn những điều cần sửa soạn cho 3 ngày Tết.
Tôi đem bài viết đó giữ lại ở đây, vừa để tưởng nhớ ngày chị ra đi, vừa để nhắc tôi và những người bạn của chị về một cái Tết quê nhà, mãi mãi không quên, vì truyền thống, vì tấm lòng của những người con Việt lưu vong.
Chúc chị ra đi thanh thản về cõi phúc vĩnh hằng.

VA 1/4/2009 
Cao Nguyên 



 
 
SỬA SOẠN CHO BA NGÀY TẾT. 

TRẦN VIẾT MINH THANH.

Tết đối với một người Việt tha hương mang nhiều gợi nhớ, nhớ đêm giao thừa, pháo nổ đi đùng, nhớ khói nhang trên bàn thờ nghi ngút, nhớ vẻ trịnh trọng của cha mẹ, ông bà đứng thấp nhang khấn vái, nhớ đòn bánh chưng, bánh tét, phẩu dưa hành, nồi thịt kho, nồi canh hầm, nhớ sáng mồng Một được lì xì, nhớ cảnh gia đình hàng xóm, cả vợ chồng con cái đèo nhau trên xe honda, ai cũng quần áo mới toanh, khác thường ngày, nhớ lần chơi bầu cua, cá cọp trên hè phố bị lột hết tiền ... và nhiều nhiều nữa ... Nhưng có lẽ chúng ta nhớ nhất là không khí trước tết, từ những cửa hàng tràn ngập hoa quả, bánh mứt, đến vẻ rộn rịp, đông đúc của phố phường, chợ búa, cả thành phố tưng bừng đón xuân sang. Giờ đây tại hải ngoại, chúng ta cũng lần lượt có các thức ăn ngày Tết, gần như không thiếu thức gì, nhưng cái rộn ràng, nhộn nhịp, sửa soạn cho ba ngày Tết, có lẽ cái mà người Việt tha hương thiếu. Xin mời độc giả đi lại từ đầu (chớ đi vội về sau), của quá khứ ngày tết năm nào, bắt đầu từ tháng chạp, khi các sạp báo, tiệm sách bắt đầu bày bán báo xuân, và đài phát thanh đã ngân nga: "Anh cho em mùa xuân, nụ hoa vàng mới nở ...."

Nhà cửa

Trước tết cả tháng, thường hai vị chủ gia đình bàn bạc với nhau là có nên làm đẹp ngôi nhà không, có nghĩa là quét vôi lại mặt tiền nhà. Cũng tuỳ túi tiền cho phép, cứ độ vài năm ngôi nhà được thay lớp sơn mới, thường là vào dịp Xuân về. Tục lệ ngày xưa dùng vôi để trừ tà ma, vì vậy quét vôi nhà vào dịp tết không những để làm đẹp cho nhà, mà còn giữ một phong tục xưa nữa. Nếu trong xóm có một nhà quét vôi, thì hầu như mấy nhà chung quanh cũng theo đó sơn phết lại nhà mình, vì nom thấy nhà hàng xóm với lớp vôi mới trông sáng và khang trang hẳn ra.

Chuyện quét vôi làm gợi nhớ người viết một kỷ niệm trong xóm. Năm ấy có hai cu cậu choi choi trong xóm bị quỳ vị cái vụ quét vôi nhà. Số là nhà hai cu cậu này sát nhau, cả hai nhà cũng vừa mới quét vôi xong, hai cậu nghịch, xịt nước vào nhà nhau. Quét vôi sợ nhất trời mưa, vì lớp vôi chưa khô, tường sẽ loang lỗ khó coi vô cùng! Đàng này hai cậu xịt nước thì còn quá hơn trời mưa, vì có chỗ đậm, chỗ nhạt, chỗ lem, chỗ lết, coi rất khủng khiếp. Tối đó cả xóm nghe tiếng la rầm rầm của hai ông bố đi làm về, và sáng ra thấy hai cậu phá nhất xóm, quỳ trước hiên nhà, trong lúc hai ông thợ sơn đang kiên nhẫn phết lại hai ngôi nhà. Lũ con nít chúng tôi đợi hai ông bố đi làm, bèn lượn ngang nhà thè lưỡi trêu hai cậu.

Mứt

Tới thăm nhà ai cũng có hạt dưa đỏ và mấy thẩu mứt để đưa câu chuyện. Mứt tượng trưng cho sự ngọt ngào, vì thế mứt là một món phải có ngày đầu năm, không nhà nào thiếu khay đựng mứt xoay xoay, hoặc hai ba phẩu mứt để dọn khách. Các bà nội trợ khéo tay bỏ rất nhiều thì giờ vào mứt, thật sự là để phục vụ lũ con nít trong nhà hơn là khách khứa tới nhà. Nhiều loại mứt được chuộng vì cái tên của nói, nghe rất hên cho năm mới, mứt thơm chẳng hạn, mọi chuyện thơm tho đẹp đẽ, mứt dừa, tiền bạc vào “dừa dặn”..., mứt mãn cầu, cầu cho mọi chuyện suông sẻ, mứt đậu xanh - đậu và màu xanh tươi mát, cho nhà có học trò đi thi, được thi đỗ, quả hồng - màu hồng cũng như màu đỏ là màu hên.

Thật là một niềm thú vị được xem mẹ làm mứt. Có loại mứt làm giản dị nhưng có loại phải chuẩn bị công phu! Mẹ tôi hay làm mứt gừng, mứt thơm, mứt rối, mứt dừa, mứt hạt sen, mứt đu đủ, mứt kim quất, mứt cà chua, mứt cà rốt ... Tôi thèm các mứt mà nhà không thường làm, như mứt mãn cầu, xoài, me, chùm ruột...v.v., các món mứt miền Nam, mẹ tôi không rành. Mứt thơm rất ngọt, vì thơm đã ngọt sẳn rồi, mẹ tôi hay làm loại ướt, tức mứt thơm dẻo, chứ không phải như mứt thơm khô bán ngoài tiệm. Mứt cà chua, bà cũng làm loại ướt, cà chua ra màu đỏ chót nên trông bắt mắt vô cùng, nhưng lúc ăn hơi phiền phứt, phải cho vào đĩa, còn lũ con nít, chỉ thích mở phẩu, nhót miếng mứt vào miệng thôi. Mứt dừa dễ làm nhất. Dừa cạo ra, cắt từng lát mỏng, và chỉ việc bỏ đường vào, xào tới xào lui, cho đến khô, thì được. Dừa thuộc loại cứng nên không sợ gãy, thành ra tôi chuyên môn được mẹ giao cho song mứt dừa, tay làm nhưng mắt láo liêng nhìn sang mẹ đang làm món mứt công phu khác, chốc chốc lại bị nhắc chừng: “Coi, không thôi cháy!". Cứ năm phút, con bé lại dừng tay hỏi mẹ: “Mẹ, như ri được chưa?" .

Mừt gừng làm rất công phu, một loại mứt mẹ tôi làm đến mức tuyệt hảo. Tại hải ngoại, tôi chỉ được biết một, hai bà cụ người Huế còn làm được mứt gừng đúng cách "thanh tao" của đất Thần Kinh. Gừng phải lựa củ lớn, xắt lát lớn và mỏng, ngâm trong nước chanh, sau đó vớt ra phơi khô ngoài nắng thì gừng mới trắng. Khi gừng khô ráo thì bỏ gừng vào nồi luộc, rồi xả nước để cho gừng bớt cay, sau đó mới bỏ đường vào rim. Rim mứt, động từ diễn tả cách nấu mứt với lửa thật nhỏ, không thì mứt cháy . Rim mứt gừng nói lên sự nhẫn nại của bà nội trợ, từ từ đẩy gừng lên hai bên thành của nồi, chính giữa tạo thành một cái giếng bé trong có nước đường, và cứ thế múc nước đường rưới lên các lát gừng chồng chất hai bên thành. Khi nước đường bắt đầu cạn, cầm cả thau xóc lên, cho gừng rời ra, và khô đều . Đó là cách mẹ tôi làm mứt gừng. Còn có cách khác, thì khi trông gừng gần khô, vội vàng đổ gừng ra khay, và nhanh tay gỡ từng lát gừng ra, trải thẳng để gừng đừng bị cong . Lát mứt gừng vì mỏng nên khi ăn có vị cay vừa phải, ngọt ngọt, thanh thanh. Lát gừng dầy quá, ăn rất nồng, không ngon. Ăn phải cắn từng miếng nhỏ, với tách trà sen, mới đúng cách. Tuyệt vời lắm!

Mứt kim quất cũng là loại mứt ướt, nếu làm cho khéo thì ra quả vàng ngậy, ngọt cộng thêm vị chát đặc biệt của quất, các cụ chuộng lắm, vì còn thông cổ nữa! Mứt sen cũng được mẹ tôi trân quý, vì sen phải nhờ người gởi từ Huế vô mới được loại sen mềm, khi ngào đường sẽ không bị cứng. Mứt sen để cúng bàn thờ Phật trước khi thỉnh xuống ăn. Mứt rối là mứt mà lũ con nít chúng tôi khoái nhất vì dễ ăn. Mọi thứ phải được cắt nhỏ, nào là cà rốt, gừng, kim quất, thơm ... hòa với đường ướt ướt, vị ngọt lẫn chua, cay, mọi thứ hoà lẫn với nhau, nên có cái tên mứt rối, có những nơi khác gọi là mứt dẻo .. Năm nào mẹ tôi cũng phải dấu bớt đi, không thì lũ chúng tôi thanh toán xong trước ngày Tết.

Nấu bánh chưng

Trong văn chương, nồi bánh chưng được tả là nấu vào đêm ba mươi, người trong nhà quay quần chung quanh nồi bánh chưng, và nghe kể chuyện xưa, đợi đón giao thừa, thật là một cảnh thú vị! Trong thực tế, ít ai nấu bánh chưng trong đêm ba mươi. Bánh thường được nấu trước ít nhất là ba, bốn ngày trước, không thì một tuần hoặc mười ngày vì còn phải “đi sêu tết” bà con, bạn bè và các quan trên trong hãng nữa. Trừ các tiệm nấu bánh chưng sớm, vì phục vụ rất nhiều khách hàng, các bà nội trợ tránh nấu bánh sớm, sợ tới ngày Tết bánh hơi cũ, không được ngon.

Mấy ngày trước ngày dự định nấu bánh, các bà nội trợ đi chợ lựa mua lạt, nếp, đậu xanh, lá chuối, thịt heo. Một ngày trước khi gói bánh, mọi thứ phải được chuẩn bị cẩn thận. Lạt và lá chuối phải được ngâm nước, sáng sớm mai, lạt mới mềm và dễ vót. Lạt dùng để cột bánh. Lá chuối phải tước theo cọng của lá, thành những mảnh lá chuối lớn nhỏ, miếng nhỏ dùng để xếp vào lớp trong, chồng xéo lên nhau, miếng lớn dùng để gói ra ngoài. Đậu xanh, nếp ngâm đêm qua, phải được đổ ra cho ráo nước. Người Bắc thường nấu đậu xanh, giã nhỏ rồi mới gói chung với bánh. Theo cách của mệ nội của mẹ tôi, đậu chỉ cần ngâm qua đêm, mệ nói, nấu như vậy giữ mới lâu, khó thiêu. Có nhà người Nam còn ngâm nếp với nước dừa, đòn bánh chưng béo và thơm mùi nước dừa. Thịt heo xắt từng miếng dài có mỡ, nạc, dày vừa phải. Có nhà ngâm thịt với nước mắm, có nhà chỉ ngâm muối, tiêu, hành thôi.

Tôi còn nhớ như in hình ảnh mẹ tôi và các chị người làm ngồi gói bánh trên phản lớn trong phòng giữa của nhà. Chung quanh họ nào là những rá đựng nếp trắng, đậu vàng, nào là chậu thịt heo hồng tươi với từng khúc mỡ trắng, rồi lá chuối xanh, dây lạt dài một sải tay ... Thật là một cảnh vui mắt, làm nao nức lũ trẻ chúng tôi! Người thì tuốt lạt, kẻ thì chùi lá, chất thành chồng, cho tiện tay người gói bánh. Thường người gói bánh dùng khuôn để bánh thành hình vuông, trông mới đẹp mắt . Đòn bánh tét thì phải dài và tròn trịa. Bánh gói xong, buộc bằng lạt vài vòng cho bánh khỏi bung. Bánh được nấu trong một nồi lớn, cao và to xấp ba, bốn nồi thường ngày dùng nấu xúp. Nồi bánh đặt trong vườn nhà trên cái lò có ba viên đá chụm lại, củi lửa về đêm tí tách thật vui mắt. Ban đêm, trời hơi lành lạnh, cả nhà thay phiên nhau ra canh nồi bánh, xem chừng nước vơi, đổ đầy thêm nước vào, chụm thêm củi, cho bánh chín, đều. Lũ trẻ chúng tôi nhất định không chịu đi ngủ, ngồi chong mắt nghe các cô chú kể chuyện cổ tích, rồi xay qua chuyện ma, đợi tới giờ vớt bánh ra. Đứa nào đi ngủ trước thì mất cái thú xem vớt bánh.

Hoa

Ngày Tết phải có hoa, cây, nhà trông mới vui mắt . Bàn thờ Phật thường có bình hoa Huệ, bàn thờ ông bà là hoa glaieul (Lai Ơn đỏ), ngoài hiên nhà được trang hoàng với cặp cúc đại đóa, cây kim quất, trái vàng nho nhỏ thật xinh, trên bàn ăn là hoa thủy tiên cánh trắng, nhụy vàng, hương tỏa nhẹ nhàng, hay cây lan hồ điệp tím trang nhã. Nơi huy hoàng đẹp đẽ nhất của căn phòng khách phải được ngự trị bởi chậu mai vàng rực rỡ, hay cây đào màu hồng phấn nhẹ nhàng. Tôi nhớ có năm ba tôi được ông bạn biếu một cành đào từ Đà Lạt về, cành cây dáng thật thanh nhã, màu hồng phơn phớt. Từ dạo đó tôi yêu dáng dấp cây đào, tuy hoa anh đào không rực rỡ bằng hoa mai nhưng lại mang vẻ đẹp đẹp nhè nhẹ, tựa như dáng tố nữ mảnh khảnh, thanh tú, sang cả. Chợ hoa cũng là một nơi được nhiều viếng nhất, các bác bỏ rất nhiều thời giờ để lựa một cành mai, cành đào về chưng diện nhà cửa, còn các cô các cậu chỉ có việc đi lo ngắm hoa và ngắm nhau. Không nơi nào rực rỡ nhiều màu sắc bằng chợ hoa.

Dưa món

Dưa món phải được sửa soạn từ cả tháng trước. Làm một phẩu dưa món ngon rất tốn công và cần sự khéo léo của người nội trợ. Nấu nước mắm ngâm dưa là một công trình! Nước mắm không được sánh, đặc quá, mà cũng không được lỏng, dưa món mới để lâu được. Ngoài ra người nội trợ còn phải canh ánh nắng mặt trời. Vào tháng chạp ta, trời hay âm u, xam xám, ít nắng, mà dưa món cần phải được phơi nắng, khô queo mới dễ thấm, thành ra mọi thứ phải được cắt, tỉa sơm sớm, để còn phơi cho kịp chàng nắng. Phẩu dưa món thường có cà-rốt, củ cải trắng, su hào xanh, vỏ dưa leo với một tí thịt trắng, ớt đỏ, củ kiệu ... Tất cả được cắt lát mỏng, nhưng không được quá mỏng, tỉa hoa cho đẹp, cũng là để dễ thấm nước mắm, sau đó trải ra phơi nắng trên những cái mẹt hay mâm. Có khi phải phơi hai ngày để nó thật teo khô, rồi mới đổ nước mắm nấu vào. Các thứ dưa từ từ nở dần ra, chen chúc trong một cái phẩu. Một phẩu dưa món ngon, nhìn là đã thấy ngon mắt rồi. Nước mắm trong vắt, chen lẫn với nhau nào là củ cải trắng, cà rốt đỏ, dưa xanh, mấy quả ớt nho nhỏ, đỏ xanh, cắn vào một miếng tận hưởng chất dòn dòn, mằn mặn, ngọt ngọt. Dưa món dùng để ăn với bánh chưng, bánh tét.

Các bà nội trợ còn làm các món dưa chua khác, như cải bẹ xanh chua, củ kiệu, hành hương. Ôi nhớ làm sao thẩu hành hương màu hồng, ngâm dấm, qua bàn tay khéo léo của mẹ, ăn mới dòn, chua chua, ngọt ngọt, ngon biết bao ... Cái vị đặc biệt đó mấy chục năm về trước, nằm trong trí nhớ, trên đầu lưỡi, mà tới bây giờ người viết chưa được thưởng thức lại ...

Báo xuân

À, à, báo xuân ... Không phải tục lệ từ ngàn năm, nhưng cũng là một dấu hiệu của xuân sang, thời miền Nam rộn ràng với muôn hoa đua nở trong làng báo. Từ khi người viết lớn lên, và biết đọc, mỗi khi báo xuân muôn màu sắc xuất hiện trên các sạp báo, trong các cửa tiệm sách, thì đó là một trong những hình ảnh nhắc nhở xuân đã về, dù ngoài trời nắng chang chang, không có mưa phùn bay bay. Tờ báo xuân ngày nào thường lớn hơn tờ tuần báo thường ngày, đẹp rực rỡ với hình cây mai, có treo túi lì xì màu đỏ, với phong pháo dài, ngòi đang cháy, có em bé bận áo dài, khăn đóng, có cụ đồ già ngồi viết câu đối, hay có hình nữ tài tử Thẩm Thúy Hằng xinh như mộng, tươi như hoa, hay nữ tài tử Kiều Chinh, các tài tử cải lương Thanh Nga, Bạch Tuyết, và sau này là ca sĩ Thanh Lan ...Mua báo xuân đọc là cái thú của những ngày trước tết, vì báo thường có nhiều bài vở lý thú hơn, những câu chuyện đặc biệt cho con giáp của năm đó. Các anh chị trung học lại lo làm báo học trò, thi đua viết lách, vì vậy đang tuổi học trò chờ đợi đọc báo xuân, là một thú vị của những ngày trước Tết.

Cúng ông Táo

23 tháng chạp đưa ông Táo về Trời. Cúng ông Táo là tục lệ xưa lắc, người ta còn giữ như là một tục lệ cho vui, không mấy ai tin là ông Táo về mách lẻo chuyện góc bếp cho Thiên Đình nữa. Cúng ông Táo chỉ cần nhang, đèn, hoa quả và để gần bếp. Có nhà cúng với cá chép nữa, nhưng thời đại sau này tục lệ được giảm bớt. Chỉ có những người nội trợ mới phải cúng thôi .

Cỗ Cúng rước Ông Bà về

Ngày ba mươi Tết đường phố vắng lặng. Người nào phải đi làm cũng ráng về sớm. Tới 12 giờ trưa, phần đông các tiệm đều đóng cửa để lo cho mâm cúng ông bà, cũng như buổi ăn tất niên. Ngoài đường im vắng, nhưng trong nhà thì không khí rất bận rộn. Chủ gia đình lo xếp bàn thờ, chùi lư hương, chân đèn, kê bàn, cắm hoa vào bình, sửa soạn bàn thờ cúng ông bà. Trong bếp mới thật là rộn rịp. Người lo luộc thịt, làm canh giò hầm nấu bóng, người lo bằm thịt, ráy cua, lột vỏ tôm làm chả giò, bé con thì phải lo làm rau sống ăn với chả giò. Hoặc chực sẵn trong bếp để được sai vặt! Món ăn ngày Tết thường có giò thủ, vịt hầm thuốc bắc, thịt đông ăn với dưa giá, thịt luộc ăn với tôm chua, giò chả, gà luộc, gà bóp rau răm, hay gà cà ri... v.v.... Không thể thiếu cá, hoặc hấp, chiên hay kho, thịt heo kho tàu ... ê hề. Làm nhiều thế, vì còn để dành ăn trong ba ngày Tết nữa. Mấy ngày đầu năm các bà nội trợ phủi tay đi thăm bà con, bạn bè, chơi tam cúc, tứ sắc. Tới mồng ba thì cúng đưa ông bà, lại rộn rịp nhưng không bằng cúng cỗ tối ba mươi. Thời chưa có tủ lạnh, tôi nhớ làm nhiều món kho vì để được lâu. Chả giò, canh hầm, cá thì ăn ngay hôm ba mươi.

Cúng Giao Thừa, Đi chùa Hái Lộc...

Thường thì vào giờ giao thừa bố mẹ tôi thắp nhang đèn, nấu trà cúng ông bà, và có dành sẳn một mâm trái cây để cúng Trời Đất. Nhà không có tục lệ tự xông đất mình, hễ ngày mồng một ai tới nhà trước là người đó xông đất nhà. Nhiều người còn đi chùa hái lộc, nơi tụ hộp đông đảo người, rất vui.

Xuân Tha Huơng

Từ ngày dọn về Cali, chúng tôi tổ chức Tết rộn rịp hơn thời ở tiểu bang lạnh lẽo. Tuy vậy Tết tha hương những năm đầu cũng khó quên. Những gia đình Việt Nam trong thành phố cùng các sinh viên, đều có tổ chức Tết. Các sinh viên lo mượn chỗ, lo trang hoàng với băng “Cung Chúc Tân Xuân”, mượn tranh Tết về treo, làm câu đối giả. Các gia đình chung nhau đem bánh chưng và các thức ăn Việt Nam tới, không khí thật là đầm ấm. Có năm trời ở ngoài phủ một màn tuyết trắng xóa. (Tết thường vào tháng Hai, và tháng Hai thật ra là tháng lạnh nhất trong năm). Các bà, các cô sinh viên choàng lên mình một cái áo coat thật dầy, nhưng khi bỏ cái áo ra là những tà áo dài, đơn sơ nhưng rất đẹp. Tự nhiên có không khí Tết ngay! Cái áo dài nhét vội khi chạy loạn, thế mà hay! Mấy năm sau, có người chịu khó gởi về Cali may chiếc áo dài mới, mặc vào ngày Tết thật là có ý nghĩa. Tự nhiên nhìn chiếc áo dài, mọi người thấy phấn khởi và vui hơn. Những năm đó, mẹ tôi làm bánh chưng gói bằng giấy bạc, bỏ food color cho ra màu xanh. Nấu một lần 2, 3 cái trong cái nồi lớn, nhưng nấu lửa ga nên lửa đều mau chín hơn lửa củi. Tặng ai một cái bánh chưng thôi là họ quý vô cùng!

Các anh chị sinh viên rủ nhau làm bánh chưng, cũng vui đáo để. Người này thúc người nọ, gọi các bác hỏi, vì cứ làm xong là quên ngay, mà năm nào cũng hỏi thành ra cũng hơi ngại. Rồi rủ nhau làm văn nghệ, đàn hát suốt đêm, mặc ngoài trời tuyết rơi phủ lạnh lùng, và bài thi chồng chất.

Tại quận Cam, mỗi độ xuân về, cứ tới viếng phố người Việt là lại thấy không khí Tết . Các chợ hoa càng ngày càng nhiều và lớn hơn. Bánh mứt, bánh chưng ê hề ... Trong chợ vang vang bài hát đón mừng xuân ... Tại các tư gia người Việt thì có lẽ không có không khí rộn rịp như bên nhà, nhưng dù bận rộn bao nhiêu, các bà mẹ vẫn không quên lo cho cái tết đầu năm, cho con cháu hưởng chút không khí ngày tết ....

Dù ở tiểu bang xa xôi hẻo lánh, hoặc ở gần khu đông đảo người Việt, mẹ tôi không bao giờ quên ngày tết, bà loay hoay phơi cải, cà rốt làm dưa món, lại đi mua nếp, đậu, nấu bánh, mua quà biếu bạn bè, người thân, đã từng giúp mình năm qua, loay hoay từ gói chả giò đến nồi canh hầm... nấu cỗ cúng ông bà ... Hình ảnh đó đã in sâu vào trong trí tôi, để rồi khi có gia đình, khi không còn mẹ nữa, tôi cũng theo lệ, chạy đôn, chạy đáo mua hoa, mua thức ăn về nấu cỗ. Năm nào cũng vậy, đứng nơi cửa hàng bà Rồng Vàng, hay tại chợ Việt Nam, tôi cũng dừng tay, trầm ngâm mất mấy phút, ngắm các bà, các cô, các ông nữa đứng lựa hoa, lựa các loại mứt, các đòn bánh chưng. Đó là hình ảnh xuân về, và tôi cảm thấy mình thật may mắn, được là một phần của quang cảnh đông đảo trong khu phố người Việt.

Từ những góp nhặt kỷ niệm của thời thơ ấu, những chi tiết mình tưởng quên không ngờ ào ạt trở về ... Một vài chi tiết về làm mứt, làm dưa món phải gọi hỏi bác suôi gia của ba mẹ tôi, người Huế, năm nào cũng được bác gọi qua ăn Tất niên, hưởng lại hương vị Tết. Tôi đang ngẩm nghĩ chắc phải học bác món vịt hầm, năm ngoái bác làm tuyệt hảo, phải học làm món mứt gừng kiểu Huế, từng lát mỏng cay cay ngọt ngọt, để mai một rất uổng ....

Một cái Tết nữa lại về, sáng nay nắng xuân chan hòa, và tôi như thấy lại hình ảnh mẹ hiền lui cui trong bếp, với nồi mứt, xoay qua thì bà đã đi ra xem xét mâm cải phơi ngoài sân...

Trần Viết Minh Thanh. 

Thứ Tư, 7 tháng 1, 2015

Ban nhạc Tiếng Tơ Đồng



Duyên Văn Nghệ với Gia Đình Nhạc Sĩ Hoàng Trọng 

Nhân ngày Giỗ thứ 10 sắp tới của Nhạc Sĩ Hoàng Trọng, tôi nghĩ đến việc hoàn thành một trang nhạc đặc biệt trên website Cỏ Thơm www.cothommagazine.com để tưởng nhớ đến một trong những nhạc sĩ tài hoa hàng đầu của Tân Nhạc Việt Nam. Dòng nhạc của Ông được nhiều thính giả yêu mến và tài nghệ của Ông được nhiều ca nhạc sĩ nhà nghề cùng thời khâm phục. Ông là một trong những người giỏi về hòa âm và là một nhạc trưởng có tài điều khiển các dàn nhạc thính phòng và hợp xướng trước 1975. Ban Nhạc Tiếng Tơ Đồng, do Ông sáng lập và điều khiển nổi tiếng một thời, theo ý riêng của tôi, có thể nói "chưa có đối thủ". Từ thuở trung học cho đến bây giờ, tôi vẫn trân quý những bản nhạc không những giai điệu hay, dễ nhớ mà lời cũng thắm thiết như: Bên Bờ Đại Dương, Bạn Lòng, Dừng Bước Giang Hồ, Một Thuở Yêu Đàn, Mộng Lành, Mộng Ban Đầu, Mộng Đẹp Ngày Xanh, Ngàn Thu Áo Tím, Người Tình Không Chân Dung, Nhạc Sầu Tương Tư, Nhớ Về Đà Lạt, Tiễn Bước Sang Ngang, Tôi Vẫn Yêu Hoa Màu Tím ...

Mời xem tiếp: 
http://cothommagazine.com/?option=com_content&task=view&id=604&Itemid=47 

Bến Xuân



Đón Xuân

Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2015

Ngày Xuân đọc Đào Hoa Thi của Nguyễn Trãi




Đào Hoa Thi là một bài thơ độc đáo của Nguyễn Trãi (1380-144), làm theo lối "thủ vĩ liên hoàn" (lấy mấy chữ cuối của đoạn trên đem lặp lại ở đoạn dưới), được in trong Quốc Âm Thi Tập (bài 227 đến 232).

Trong bài này tác giả trình bày những cách hiểu khác nhau về Việt ngữ thời Nguyễn Trãi và về tư tưởng của Ông.

Tình như một bức phong còn kín
Gió nơi đâu, gượng mở xem

(Nguyễn Trãi)


Đọc bản PDF

Tình như một bức phong còn kín
Gió nơi đâu, gượng mở xem

(Nguyễn Trãi)

Năm nào cũng vậy, khi những giọt tuyết cuối cùng vừa tan, khi khí xuân còn chưa thành hình hẳn mà chỉ mới phảng phất trên những cành cây trước sân, khi trong đất nghe như có tiếng cựa mình của những cội cây đang ở độ sung mãn nhất, chỉ còn chờ đủ ngày là bung ra hàng loạt những nụ tươi non đầu đời, tôi lại giở bài ĐÀO HOA THI của Nguyễn Trãi ra đọc. Tính đến nay là năm thứ mười. Chín lần kia, tôi đọc bài thơ như một bản nhạc không lời, làm như tôi sợ nếu tôi bắt đầu suy tư về phần nghĩa thì tôi sẽ đánh mất bài thơ vĩnh viễn như làm tuột khỏi tay cái tách trà mà tôi yêu quí nhất vậy. Với tôi, Đào Hoa Thi đã đủ đẹp ở phần nhạc tính của nó, cái phần nằm ở dưới ngôn từ và ở trong tâm thức của nhà thơ, cái phần làm cho bài thơ khỏi rơi vào sự miêu tả một cái gì cụ thể, hay kể lể tâm sự một điều gì, mà chỉ là những nét chấm phá mơ hồ, bay bổng, nhẹ tênh, gợi lên những cái ngoài tầm mắt, ngoài suy tư, ngoài ý niệm, mênh mông và vô cùng.

Nhưng năm nay, cưỡng không nổi sự tò mò về một số từ cổ mà ngay chính các học giả cũng còn chưa thống nhất cách đọc và hiểu, tôi bắt đầu giở trên kệ xuống những cuốn sách đã bị bỏ quên từ mấy năm nay. Thật ra, sách viết về Quốc Âm Thi Tập (QÂTT) của Nguyễn Trãi không có là bao nhiêu. Bản Nôm thì tôi có bản Phúc Khê (mùa thu năm Tự Đức Mậu Thìn 18681) do Giáo sư Lê Văn Đặng gửi cho, đem so với bản in trong Nguyễn Trãi Toàn Tập Tân Biên (do Mai Quốc Liên chủ biên, NXB Văn Học, 2001, gọi tắt là bản MQL) thì không thấy có chữ nào khác. Bản này Giáo sư Đặng scan lại từ một quyển sách tiếng Pháp ở thư viện Suzzallo (University of Washington, WA), nhưng tiếc là vì đã quá lâu, Giáo sư chưa nhớ ra tên sách. Về phần phiên âm thì có bản Đào Duy Anh, Nguyễn Đình Hòa & Lê Văn Đặng, Mai Quốc Liên. Bản MQL có khảo dị phần phiên âm của Trần Văn Giáp, Vũ Văn Kính. Còn thì tôi phải lục lọi trong những tác phẩm cổ và tự/từ điển cổ. Nhưng, sau khi đã đối chiếu các bản phiên âm khác nhau và tìm tòi suy nghĩ thêm mất mấy ngày, tôi vẫn không thấy ra được điều gì mới ngoài những điều đã biết trước đây…

(Ghi chú 1: Đây là chỗ đáng thương của nền văn học cổ Việt Nam. Nhiều tác phẩm được viết từ TK XIII, XV mà hiện nay giới
nghiên cứu chỉ có trong tay bản chép tay hay bản khắc gỗ của TK XVII, XVIII, vì bản chính đã bị lửa chiến tranh thiêu đốt, hoặc bị thất lạc, hoặc bị tiêu hủy. Riêng với QATT, những gì Nguyễn Trãi viết ra đã tuyệt tích. Hai mươi lăm năm sau ngày ông bị tru di tam tộc, vua Lê Thánh Tông mới minh oan cho ông và sai Trần Khắc Kiệm sưu tầm di cảo thơ văn của ông, in vào bộ Ức Trai Thi Tập vào năm 1480 (công việc sưu tập này mất mười năm). Nhưng sách đó sau cũng bị thất lạc nốt, chỉ còn lại một ít thơ văn rải rác trong các bộ sách khác, như Toàn Việt Thi Lục của Lê Quý Đôn và Hoàng Việt Thi Văn Tuyển của Bùi Huy Bích. Mãi đến đời nhà Nguyễn, tức là hơn 400 năm sau, Dương Bá Cung, người cùng làng với Nguyễn Trãi, mới đi từ Bắc vào Nam thu thập, dò hỏi, biên chép và cho in thành bản Phúc Khê 1868. Đây là bản mà hiện nay chúng ta có được.)


…Cho đến khi tôi có được bản phiên âm và chú giải của Giáo sư Lê Hữu Mục, một món quà bất ngờ mà Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ưu ái gửi cho tôi khi biết tôi đang đọc lại Đào Hoa Thi.

Tôi hồi hộp mở cái nơ màu gold mà Gs Ninh đã thắt vào bản phiên âm của Gs Mục, một cử chỉ biểu lộ lòng trân trọng của Cụ đối với tác phẩm của Nguyễn Trãi. Đó là một bản thảo viết tay đã lâu, giấy đã ngả vàng, chữ viết ngay hàng thẳng lối, đậm nét và rõ ràng. Tôi được biết Gs
Mục đã bỏ ra hơn ba mươi năm ròng đọc QÂTT và đã phiên âm, chú giải toàn bộ tác phẩm này, với khoảng 400 trang viết tay, nhưng bản thảo đó chưa hề được in thành sách.

Tôi đọc một hơi những những trang giấy có bút tích của Gs Mục, và cảm giác khi đọc xong là một nỗi hân hoan vui sướng vừa được qua một cuộc phiêu lưu chữ nghĩa kì thú và thi vị. Dưới đây, tôi xin được khảo dị những bản phiên âm khác nhau, đặc biệt là bản LHM, mà mặc dầu tác giả hết sức mong mỏi, đến nay vẫn chưa được trình làng, trước là để quí độc giả thưởng lãm một bài thơ hay của một tâm hồn lớn như Nguyễn Trãi, sau là để giới thiệu với học giới bản phiên âm của một nhà Nôm học có uy tín về các tác phẩm của Ức Trai, trong khi chờ đợi toàn bộ
công trình của ông có đủ duyên để ra đời.

Đào Hoa Thi gồm sáu đoạn, làm theo lối “thủ vĩ liên hoàn”, nghĩa là lấy mấy chữ cuối của đoạn trên đem lặp lại ở đoạn dưới. Sáu đoạn đều viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt, nhưng đều sử dụng những vần chính khác nhau. Đoạn đầu dùng vần trắc, bốn đoạn giữa dùng vần bằng, và
lại kết thúc với vần trắc ở đoạn cuối, như một bản nhạc rondo. Toàn bài thơ như một điệu luân vũ — mỗi điệu vũ là sự tiếp nối của điệu vũ trước. Trong QÂTT, sáu đoạn này được đánh số bài từ 227 đến 232.


ĐÀO HOA THI
227. Một đóa đào hoa khéo tốt tươi
Cách xuân mởn mởn thấy xuân cười
Ðông phong ắt có tình hay nữa
Kiến tiện mùi hương dễ động người

228. Ðộng người, hoa khéo tỏ tinh thần
Ít bởi vì hoa, ít bởi xuân
Dỉ sứ chim xanh đành choạc lối
Bù chì đã có khí hồng quân

229. Khí hồng quân hỡi, xá chời qua
Chớ phụ xuân này, chớ phụ hoa
Hoa có ý thì xuân có ý
Ðâu đâu cũng một khí dương hòa

230. Khí dương hòa há có tây ai
Nừng một hoa này nhẫn mọi loài
Toan kể chỉn còn ba tháng nữa
Cập xuân mựa để má đào phai

231. Má đào phai hết bởi xuân qua
Nếu lại đơm thì liền luống hoa
Yến thửa Dao Trì đà có hẹn
Chớ cho Phương Sóc đến lân la

232. Phương Sóc lân la đã hở cơ
Ba phen trộm được, há tình cờ
Có ai ướm hỏi Tây Vương Mẫu
Tin khá tin thì ngờ khá ngờ

Xin được thưa ngay rằng bản phiên âm trên đây là dựa vào bản LHM, trừ những từ tô đậm, là những từ mà tôi xin được mạn phép đọc khác, mặc dầu chỉ là một kẻ hậu học và luôn coi Gs Mục là một bậc thầy trong Nôm học. Vả lại, nói cho cùng, những chỗ đọc khác này
cũng không có gì gọi là “to tát” cho lắm, mà chỉ là ý kiến cá nhân. 

Bản LHM đọc như sau:

Bài 227, câu 2: Cách xuân mởn mởn thể xuân cười (LHM)
Bài 228, câu 1: Động người, hoa khéo hởn tinh thần (LHM)
Bài 228, câu 2: Ắt bởi vì hoa, ắt bởi xuân (LHM)
Bài 229, câu 2. Chớ phũ xuân này, chớ phũ hoa (LHM)
Bài 231, câu 2. Nếu lại đơm thì, lên luống hoa (LHM)

Và còn đôi ba chỗ cách đọc tuy giống nhưng cách hiểu hơi khác. Chi tiết xin được trình bày rõ dưới đây...

(Xin xem trọn bài trong bản PDF.

Trần Uyên Thi

Nguồn: http://www.trangnhahoaihuong.com/phpWebSite/index.php 

Mùa Xuân Bên Ấy


 

Mưa đầu truông xuống đầu nguồn
Mùa xuân tấm tức bên triền mây trôi
(Bùi Giáng) 
  
Ðêm đã sâu hơn giờ thường…hình như cái đêm trước ngày lên đường thường sâu hoắm như thế…vì giấc ngủ không an… thấp thỏm màu đen lún xuống quầng thâm của mắt như chìm vào vũng lầy bùn non của cơn lụt vừa qua…Giấc ngủ chập chờn quẩn quanh, lãng đãng những ý tưởng gần xa không rõ nét… 
  
Những lúc như thế tai thường lắng nghe và nhận rõ tất cả những tiếng động trong đêm. Ðêm mùa đông, trời không gió, con phố Bạch Ðằng bên hữu ngạn sông Hương như rỗng ở hai đầu, im vắng lân la trên đường, nghe như dừng lại chần chờ trước mỗi ngưỡng cửa những căn nhà ngủ say, rồi lẩn vào trong bóng cây hột mác bên bờ sông, thăm thẳm như bị hút vào khoảng không chới với trên sông …Cơn im lặng trải ra đột ngột vào lúc quá khuya, bởi vì tiếng động hàng xóm chung quanh nơi khu phố này lịch kịch từ sáng cho đến tối đã ngừng hẳn, nó cho biết đêm đã rất sâu…như đang rình giờ sáng, ngày mai đi…rời Huế… 
  
Thì đi, không nên dây dưa như những lần trước, dứt khoát mà đi, đừng có nhớ nhung lôi thôi kiểu Huế, nhớ này nhớ nọ mất công, lòng dặn lòng như thế, nằm nghiêng cánh gối, như chuẩn bị một thế hờ hững với mọi ngổn ngang có thể có vài giờ sau… 
Rồi bỗng…- có hẹn không mà lại đúng hẹn đến thế không ngờ ? - lách tách trên mái ngói những tiếng dài ngắn không đều, nhặt khoan mà vội vả như muốn đến trước cơn gió thốc chạy theo, âm vang nhỏ nhẻ trong giây lát mơ hồ như tiếng phân trần không muốn làm rộn giấc ngủ của con người, rồi thoáng sau không chút kiêng dè, mưa ào ạt sạt sào trên mái ngói : 
  
Mưa! Mưa Huế thường đến như thế giữa giấc ngủ nửa đêm, nửa ồn ào đánh thức nửa vỗ về cơn mộng triệu đang say. Ai ngủ mê thì chỉ cần trở mình, nghe thú vị êm ấm trong chăn đến cùng với tiếng mau sầm sập, còn ai đang thao thức thì đành ôm mưa vào lòng ngao ngán chờ ngày sáng ra. 
  
Mưa! mưa về giữa khuya là đề tài muôn thuở của Huế…mà quả tình mưa đêm của Huế da diết lạ thường. Tiếng mưa trên mái ngói nhà Huế âm vang cũng khác mưa Sài gòn, mưa Hà nội, mưa Muenchen. Dù mưa chợt về mà như đã hẹn từ lâu, dù mưa vừa rơi trên mái mà nghe như đã cổ độ nghìn xưa, dù mưa đến bằng tiếng chân xa lạ, mà nghe quen thân như trăm năm bến cũ, dù mưa bay qua biển rộng bao la mà nghe gần gủi lá chuối lá cau bên hiên cũ một thời… Và cứ thế mà mưa…mà mưa…mà mưa… như mưa Huế, cho đến một lúc nào không hay, trong chiếc võng phù du chơi vơi đầu này cuối nọ ấy, hồn người bỗng dưng như bị „mắc mưa“…vùng vẫy trong lưới mưa, chìm lĩm trong tiếng mưa, khó thoát. 
  
A cái cơn mưa Huế ấy, đố ai mà gỡ được cho ra…khi đã mắc vào, nhỏ nhẹ thiết tha mà tinh quái gớm! Cứ không hẹn mà đến thật đúng giờ…cái giờ ngắc ngoải sắp lên đường xa Huế đó… thế là mưa xuống đúng thì, cứ như một lời níu áo cầm chân…và vu vơ kể lể xa gần, thủ thỉ nào là nào là, năm nay xuân sắp đến rồi, lạnh cũng qua đi, răng không ở lại đón xuân quê hương một lần, tết Huế thân thương như áo xanh áo đỏ một thời…Nì, đã hơn mươi năm không ăn tết, không nhớ nồi bánh chưng bên bếp lửa hay răng, mà bỏ đi đành đi đoạn…Răng không ở lại thêm, chỉ còn mươi ngày nữa là đến Tết mà bỏ Huế mà đi … 
  
Rõ thật lôi thôi cơn mưa Huế nằn nì bên gối của kẻ sắp lên đường! lần này thì phải dứt khoát, mưa thì mặc mưa, mai lên đường, mà con mắt ráo hoảnh, mà tim lạnh tanh, mà chân quả quyết, mà tay vẫy nhanh… hãy bỏ cái thói nghe mưa não nề, để đi là đi… Này cơn mưa, ta úp mặt vào gối nhé và ngủ đi cái tôi Huế thường hay nhão nhẹt trong mưa ! với tấm lòng dửng dưng…ngoài kia có mưa chi nữa, thì mặc trời mưa… 
  
Lên xe khởi hành với chút lạnh sửng trong lòng. Mưa cũng đã tạnh từ sáng sớm. Khí trời còn đục ngầu hơi nước, nhưng chân mây đã nhuốm được chút ánh hồng của mặt trời ngái ngủ trên Cồn hến xa xa. Mùa đông Huế chắt chiu một chút duyên trên những lá bàng vàng đỏ loáng thoáng trên đường đi. Phượng xanh mướt xơ rơ trên đường trước khi qua cầu Trường Tiền. Sông Hương lất phất trong sương mù. 
  
Xe băng qua con đường thuở trước là cánh đồng lúa de „ngài ngự“ dẫn đến chợ An Cựu rồi qua sông An Cựu. Bánh xe  lạch cạch lăn trên đường trốc ổ gà. Ðường đi Phủ bài lần nào cũng hun hút, gần mà như xa, cây hai bên đường bất động, kiên nhẫn chờ cơn nắng dậy muộn để cựa mình.  Khi xe quành khỏi khúc quẹo giàng xay, mặt trời đã le lói chiếu xuyên qua màn hơi nước màu lam nhạt, tôi đã tưởng mình thoát nợ mưa, để rộng lòng xa Huế mà không buồn. 
  
Nhưng sự lạnh lùng không lâu hơn cái khúc quẹo, nó  vỡ òa sau khúc quẹo Giàng xay, chưa xa nơi ánh phản chiếu của vũng nước mưa còn đọng lại trên đường, nơi đó có một mảnh trời thấp thoáng mây xanh vừa hé, bóng vài ngọn lá của đọt sầu đông còn hiếm hoi sót lại bên vệ đường lấp lánh trong nước. Xe chạy không nhanh còn đủ vài giây để thấy những hòn cuội lăn lóc xung quanh vũng nước, khoanh tròn nét một con mắt long lanh. Con mắt nhìn theo khi xe đã qua một đỗi đường, con mắt ấy tuồng như vướng ánh sáng của một chút bầu trời vẩn đục ở trong. 
  
Quái thật! cả cái thành phố Huế, cả nhà cửa sông núi, cả khối người thân đã không đủ sức níu lại, cả một cơn mưa đêm như thác đổ lần đầu tiên mất hết ma lực kiềm tỏa người đi, chưa đủ làm núng lòng. Thế mà cái vũng nước có bầu trời thu nhỏ như đôi mắt nhìn theo ấy, bỗng như chạy dồn, đuổi theo sau lưng, ào ạt hơn một cơn sóng ập đến bất ngờ không phòng thủ, lôi tôi chìm lĩm trong vũng nước mưa tình cờ thấy bên vệ đường  mà chiếc xe thúc bánh vừa vượt qua. 
  
Trong một giây thôi, bầu trời Huế bỗng trở về với tôi, òa vỡ. Không phải bầu trời mùa đông thiên la địa võng to tát hôm nay trong chuyến ra phi trường này, mà một bầu trời rất nhỏ, không lớn hơn vũng nước bên đường, một bầu trời „focus“ đăm đăm, trong võng mô của đôi mắt vừa nhắm lại của tôi. 
  
Ðó là bầu trời nhỏ bé của Tết năm xưa, một cô bé con ở vùng quê Thiên Mụ ngồi mong ngày tết, nỗi mong ngóng duy nhất trong năm sau nỗi chờ mẹ đi chợ về. Chưa hết tết này đã chờ tết khác, càng gần ngày tết bao nhiêu, ngày tháng càng chậm chạp bấy nhiêu, và những ngày cuối tháng chạp sao thì giờ đi chậm đến chừng ấy, mấy tờ lịch giở hoài, mấy ngón tay đếm hoài mà Tết vẫn chưa về…Bộ áo mới mân mê trước đó một tuần nhưng chưa được mặc, áo thơm mùi vải MỚi lạ kỳ, hăng hăng nồng nàn thúc dục niềm ước mơ được giữ nó lâu hơn một giờ, sau bao lần tròng vào ướm thử, rồi miễn cưỡng bị mẹ hay chị trịnh trọng lấy đi, cất vào tủ chờ đến ngày mồng một Tết. 
  
Hình như từ khi bộ áo tết được may xong, ngày mồng một Tết trở nên điểm chờ đợi thiêng liêng. Nó</I> đi từng bước dài bằng thế kỷ. Tất cả đều trở nên sự mong chờ kỳ lạ cái ngày đầu tiên của năm mới. Tưởng như nó </I>còn mới y nguyên, chưa được khui ra, còn niêm kín trong phong bì „lì xì“ màu đỏ mà bà nội và mẹ đã cẩn thận xếp nó trong tráp dành cho ngày đầu năm. Nó</I> như một giấc mơ gặp ông Bụt hứa cho“ ngày mồng một tết“ làm quà, nên nó là tia hi vọng không ngờ. Nó</I> bí mật chưa về như mặt trời bên kia sườn núi chưa lên vào buổi sáng mai. Nó</I> tranh sáng tranh tối như mấy nải chuối xanh „dzú“ trong thạp gạo chờ ngày chín tới đơm quả bồng. Nó</I> riu riu như đường cát đang sôi trong mấy chảo mứt me, mứt gừng, mứt bí đao trên lò bếp đất sắp hàng trong sân trong, để từ từ lớp „áo“ đường được choàng thêm„áo nắng“ mùa đông trong veo trước ngày khai xuân.  Nó</I> chưa chín như nồi xôi mụ Nậy đang hông dưới bếp vào ngày đưa ông táo về trời. Nó</I> chưa nhuyễn như bột nếp đang được mẹ nhào với măng để làm bánh măng đặc biệt của gia đình. Nó</I> còn sống nhăn như đám bánh lá bánh nậm của bác Hai gói lá dong đang chờ hấp trong nồi hấp. Nó</I> như nồi bánh chưng bánh tét nấu hoài chưa chín, đến nỗi mi mắt cô bé không còn dương lên được nữa trong ánh lửa chập chờn, nằm dụi trong lòng o Liểu, phải được o Liễu cõng vào giường. 
  
Tất cả mong chờ, tất cả câu hỏi đều chỉ được đáp lại bằng tiếng „chưa…“</I> của mẹ; ngày mồng một tết vẫn còn là ngày „chưa…tới“ , và nỗi mong đợi càng nao nao – một thứ nao lòng thoát ra chạy nhẹ trên da, rờn rờn như khi ghé mắt vào ống kính vạn hoa (kaleidoskop), viễn ảnh chập chờn những tín hiệu reo vui làm thót nhẹ con tim, thúc đẩy ghé nhìn thêm tí nữa. Cái ngày chưa đến ấy của năm mới làm tăng nỗi bồn chồn, háo hức trẻ thơ một cách vô thức. Náo nhiệt hơn ngày thường là những buổi anh em đuổi nhau chạy khắp vườn bà nội, từ „tập vồng vông tay nào không tay nào có“ đến trò chơi ú tim, phải sục sạo „nó“</I> khắp nơi, đoán cho ra những điều „chưa“ tới</I> ấy, trong nắm tay kia „chưa“ </I>mở ra, trong khóm lá trong vườn dấu kín gương mặt đang trốn thời gian đợi phút giây „chưa“ mặc khải</I>, chưa „chộ mệ“ tìm ra. 
  
Ngay chính khu vườn vào thời điểm trước Tết cũng vang vọng tiếng „chưa…“</I> lửng lờ trong không gian những sáng bước ra vườn. Cây hải đường tháng ngày đón gió sông Hương từ bến nhà theo ngõ hút sâu đến tấm bình phong, thường chịu đựng giỏi những cơn gió đông bơ sờ, căng những ngọn lá mạnh viền gai màu xanh sậm trên thân cây trổ những đồi mồi nâu bạc như những vết sẹo thời gian, thân cây hải đường gầy và cổ kính so với những búp non tươi tắn đang nhú trên đầu cành. Cả toàn thân như một bó hoa được sắp xếp cành lá đều đặn cắm vào đất trước tấm bình phong bằng đá cẩn mảnh sành hoa văn chữ phước, như một biểu tượng hiếu khách kín đáo của gia đình. Nụ hải đường vào những ngày trước tết trong vườn nội vùng Linh Mụ còn mím đôi môi hồng tươi như chưa muốn nói điều gì, mà cũng chưa dám nói vì bốn cánh cứng màu nâu xanh bóng của đài hoa quấn chặt lấy nụ hồng, ngăn những cánh hoa chớ vội vàng bật hé những bí mật của ngày đầu năm sắp đến. 
  
Cây hồng bên bể cạn trước nhà thờ thường rụng lá cuối mùa đông, cành khẳng khiu thế mà sây trái „lộc trời cho“, như bà nội mỗi buổi sáng đứng ở hiên thường tán thán với cử chỉ tri ơn trời đất, ôn mệ. Những quả hồng như dấu hiệu phúc ấm gia tộc còn treo lủng lẳng đợi đến ngày đơm quả phẩm cúng tổ tiên. Chúng gợi nhớ những cánh quạt „hồng ngâm“ mềm được cô Thị tỉa khéo bày cùng với mứt bánh trên khay cẩn mời khách trong những ngày đầu năm. Những khay quả mứt bánh Huế vào ngày tết của thời xưa ấy được trưng bày đẹp như những bài thơ mà hoa trái trong vườn trao tặng cho con người sống trong mảnh vườn ấy. 
  
Hãy vít nhánh hoa đào bên chái đông để xem đào đã nở hay chưa. Khóm đào hoa thường trụi lá trước khi xuân đến. Từ xa những cành đào ửng màu nâu hồng mảnh khảnh vướng sương đan vào nhau như những đám mây hồng lam sà trên vồng đất mới xới còn ẩm hơi đất bồi nồng nàn. Những nụ đào núp trong đài lá màu xanh non, rúc vào nách cành gầy guộc thường cho cảm giác, giấc mơ hoa này triền miên, chỉ như một hứa hẹn không hơn. 
Rồi khóm thanh trà, rồi khóm chè  vườn trước, rồi nhóm cây ổi bên hông nhà đông, cây cam quật bên tây, cây chùm kết, cây tràng bì, cây hồng quân, cây nhãn, cây bứa, cây thị tận tít vườn sau, cây vải cổ thụ hai ngưòi ôm không hết bên phải của sân chính trước nhà thờ, chúng lẳng lặng như đang toan tính điều chi huyền mật, đến nỗi trong giấc ngủ ban ngày, mộng mị mê sảng bật ra những chồi non màu xanh mềm mướt giữa những lá già xanh lục. Tưởng như những thứ mộng triệu đâu đâu. Nhưng hãy chờ đi, chỉ vài hôm nữa trong hương xuân, từ xa, trên vòm cây xanh non ấy, trông như có hàng nghìn con bướm xanh bay đến mở hội đón ngày xuân sắp đến… 
  
Nhiều khi lạc giữa vùng cây trong trò chơi trốn tìm, gặp cây khế hứa „cho vàng đem túi ba gang mà đựng“ nên ngồi mê mải nghe hương khế lịm người trên cây, gặp cây mít chi chít đơm bông và trái cùng một lúc như „trâu đực biết đẻ“, tẩn mẩn hái thử trái mít non chấm muối chát ngầm, làm tăng nỗi thèm thuồng vị ngọt của mấy chục món mứt bánh sắp sửa làm mê đầu lưỡi vào ngày đầu năm. Có lần đang ngồi nấp trong bụi tre, bỗng rờn rợn những mẫu chuyện bị „ma thu“ trong bụi cây dứa, trong bụi chuối, trong lùm chè tàu được kể quanh ngọn đèn dầu những đêm trừ tịch… 
  
Ðể sáng hôm sau thấy thương nhiều hơn khóm hoa trà hiền lành trong sân nhỏ trước „nhà ở“ bên cạnh nhà thờ họ, có lu nước mưa cho khách rửa chân trước khi bước vào nhà. Ðứng chung với trà mi còn „ngậm trăng“, những búp thược dược, mẫu đơn, cúc vạn thọ bỗng trở nên nhu mì ít lời. Những cánh hoa chưa mở, ngậm vành môi chúm chím, như lẩm nhẩm học thuộc lời chúc thọ năm mới mà bọn trẻ con sắp lạy thưa vào ngày mồng một tết và sau đó được bà, mẹ và các bác lì xì: „năm cũ bước sang năm mới, con xin mừng tuổi mệ nội, kính chúc mệ nội sống lâu trăm tuổi cho con được nhờ, năm cũ bước sang năm mới, con xin mừng tuổi hai bác…“. Từng lời từng lời đừng quên, đừng ậm à khi đứng vòng tay, nhớ học thuộc trong đêm ba mươi, trước khi ngủ thiếp đó nghe.  Và tình bạn với hoa bỗng trở nên thân thiết hơn bao giờ, khi khí trời bắt đầu ấm hơn trên những đọt lá chuối màu xanh ngọc thạch, báo hiệu ngày tết thật gần kề. 
  
Ấy là lúc theo bà ra trước ngỏ thăm chừng hai cây mai cổ thụ quí nhất trong vườn. Cây mai thường là bí nhiệm cuối cùng chưa mở hết, như là bước hoàn thành nghi lễ đón chào năm mới của gia đình. Thân mai gầy, nhánh cũng trơ xương, vậy mà những lộc non chỗi lên đầy sức lực, rờ vào thấy mũi nhọn của hoa đâm lún cả thịt lòng bàn tay. Sau lượt trẩy hết lá già, búp hoa từ chồi bắn ra nhanh như những ngôi sao băng, chi chít đầy cành còn hiếm lá. Nhưng hoa chưa được nở vội vào ngày trước tết, hoa phải để dành tất cả những gì „MỚi“ như „MAI“, những gì CHƯA đến như là một ý niệm đang thành hình, như hoa mai vẫn là „mai“ của tiết trời hi vọng. Cuộc đi thăm mai có thể ví như một cuộc hành thiền không chủ ý , khơi động trong tâm non nớt chút nhạy cảm về một thứ đạo vị tương lai, từ đó, những tháng năm sau có thể hiểu được danh hiệu „mùa xuân Di lặc“ không gì khác ngoài Phật tâm của mùa xuân như thiện niệm sáng tạo toàn hảo. 
  
Vô hình chung những giây phút nhìn hoa cùng với những dặn dò, mân mê ân cần cho riêng hoa hầu như đã gây mầm linh cảm thấu rõ „cốt cách“ mùa xuân của Huế, không phải là một „phú xuân“ vật chất ô trọc kích thích ham muốn mà phải là „mai cốt cách“ của một đạo tâm „nghèo tham lam“ nhưng „giàu sáng tạo“ cho một thể tính thanh cao. 
Phải là MAI và có lẽ chỉ có hoa MAI - nụ hoa đã chắt lọc tất cả tinh hoa của mặt trời đông phương trong bốn mùa dồn lại, lượm hết mọi giọt nắng cuối mùa đông - mới có thể trao cho đất trời và con người Huế màu vàng lộng lẫy tinh khôi trong mùa xuân mới.  Cành hoa như khổ hạnh biết đủ, không hút thừa một chút tinh túy nào của đất, nên gầy mà thanh, chứa đầy nội tâm nhân hậu, cần cù suốt năm, khổ công tôi luyện tâm thành của chính nó cho hoa, cho nên cánh hoa rực rỡ mà đầy vẻ đoan trang, ý tứ. Nhánh mai trở nên tinh thần ngày tết, như một truyền thống nếp nhà Huế, cho nên mai già cỗi như tình quê hương mà „mới“ như ngày mồng một tết và mới mãi cho tương lai… 
  
Buổi thăm hoa chọn cành trang hoàng ngày Tết thường kéo theo những bước đủng đỉnh bên khóm hoa sói với cành lá xanh rờn. Chưa kịp nghoảnh mặt đi, đã nghe có hương thơm thanh thanh trên búi tóc cúi xuống của bà, nhìn lại là niềm thích thú không lời được ngắm vẻ đẹp kín đáo của đoá hoa sói trắng dung dị vừa được hái đem cắm xiêng trên mái tóc và ấn tượng dài lâu về nét thanh nhã của người phụ nữ Huế còn âm ba mãi trong những cảm hứng thiện mỹ về sau. Hình như hoa sói chỉ nở cho những nét đẹp kín đáo và u nhã, cho nên chén trà ướp soái trong buổi cuối đông khi được nâng lên môi chưa kịp uống đã nghe lòng dịu lại những đợi chờ nôn nóng, hương hoa theo với nước trà chuốc trên lưỡi nhẹ nhàng mà thanh thoát như tiếng ngâm thơ Thiền trong giờ độc ẩm. 
  
Bà nội thích hương soái nên mỗi lần ra vườn thường không quên hái một „bụm“ hoa đem vào ướp trà. Nhắc đến hương soái mà không nói đến hoa mộc đang chờ bên kia hàng dậu thì tội cũng gần bằng tình phụ cố nhân. Hoa mộc thơm đặc biệt hương vườn quê, nên thật xứng với tên „mộc“, đơn sơ, lắm khi quá mộc mạc đến tưởng như là hoa không còn đó. 
  
Không ồn ào, không sàm sở, hương hoa lẩn trong vườn như màu trắng không biết gọi tên mình. Có khi sau nhiều ngày mưa gió bão bùng, tưởng hoa đã bỏ đi không bao giờ trở lại ngõ cũ, thế mà bước chân ai vừa dạo qua hàng dậu giờ hé nắng, bỗng nghe như có hơi thở thoảng bên tai, ngảnh mặt lại, hương mộc đã kề bên, trong thoáng giây tim như ngừng lại để lắng nghe rồi nhận ra ngay mùi hương quen thuộc như hương đã ở đó tự bao giờ. Không ràng buộc, không níu kéo, hương mộc đem đến rất  gần những bước chân xa, và chén nước trà ướp thoảng hương mộc tưởng là dung dị quê mùa nhưng thật là sâu lắng bền bỉ như tiếng ngân của nốt nhạc sau cùng còn đọng lại trong tâm.    
  
Thế rồi bước đi bỗng gấp vì nhà bếp rộn rịp đàng kia góc vườn: đám lá dong vào dịp Tết thường phải cúi mình chịu phạt vì nhát dao của các anh trai đang giúp mụ Nậy cắt lá gói bánh chưng bánh tét đêm ba mươi. Cảnh tượng trông phũ phàng tàn bạo, cả góc vườn xơ xác như đầu tóc ai bị phạt xém một góc, tội tình, nhưng lá dong sinh ra hầu như chỉ để được làm lá gói bánh chưng, bánh nậm, bánh lá. Bánh chưng gói lá dong trong lót lá chuối khi mở ra, hột nếp lấy màu xanh của lá trông bắt mắt và bắt thèm, nếu gói bằng thứ lá khác, bánh chưng bánh nậm mất đi hết vị đậm đà có duyên. Có lẽ vì thế mà lá dong ngoan ngoản để mọi người cắt hái vô điều kiện và việc cắt lá trở nên vui nhộn. Ðó là những giờ náo động trong khu vườn thân yêu, tiếng cười nói, tiếng chân sục sạo trong vườn, làm cho những cây đu đủ hoảng sợ nhớ lại những ngày bị làm „dưa món“. Trước ngày gói bánh chưng độ mươi bữa, bà nội đã  cho sửa soạn làm dưa món với đu đủ, củ cải, cà rốt, su hào, củ kiệu. Thịt trái đu đủ chưa chín, hườm huờm, còn độ cứng là chất liệu tốt nhất để các cô các bác các chị tỉa gọt những hoa ngọc lan, hoa cúc, hoa thị, hoa hồng, „trổ khéo“ theo ngón tay tài hoa và óc thẩm mỹ. „Làm khéo“là bổn phận trau dồi đức hạnh của những tiểu thư trẻ trong gia đình, và cũng là nỗi say mê của những nàng con gái của Mạ, cháu gái của Mệ, lắm khi pha lẫn chút chi cuồng tín về công dung của người phụ nữ Huế.
  
Nhưng Huế xưa đã từng đẹp như thế nơi dĩa dưa món mặn mà thanh lịch ngày Tết bên cạnh diã bánh chưng bánh tét lành mạnh no lâu, đẹp như một bức thêu hoa, ở đó thiên nhiên và tiểu xảo con người đi về gần nhau trong gang tấc. 
  
Có lẽ không có năm canh nào của một đêm qua đi một cách phi lý như năm canh của đêm ba mươi. Cả năm dài đằng đẳng là như thế, công trình đợi chờ, mong mỏi, háo hức của một đứa bé không biết lấy gì mà đo cho vừa cho đúng, ấy thế mà cái đêm gần kề nhất ngày mong đợi, cái đêm cuối cùng của năm, để Tết trở thành NGÀY TẾt thật sự, thường là đêm hụt hẩng, bị bỏ qua, bị ngủ quên, dù trước đó lòng tự nhủ lòng  phải ráng thức cho đến Giao Thừa, để biết mặt mũi của Giao thừa, mà nào biết được! 
  
Chỉ biết đêm ba mươi Tết trời tối đen hơn mực, một phần vì ánh lửa bập bùng nấu bánh chưng dưới gốc cây vải cổ thụ, ánh sáng dồn vào một góc vườn nên góc kia lại càng tối hơn, mọi người quây quần chung quanh bếp lửa, ấm cúng và vui vầy đến nỗi chẳng ai muốn rời chỗ ngồi, cũng không dám đi ra, nghe như ông ba mươi đang rình lẩn quất đâu đây. Ðêm ba mươi thường cho những đứa trẻ như tôi hồi ấy cảm giác tiếc nuối không được ngồi nghe hết những câu chuyện „ông ba mươi“, pha lẫn với cảm giác rợn người khi nhìn làn khói nghi ngút biến mất trong hư vô đen ngòm. Cả khu vườn như một sân khấu bị tắt đèn tối om, chuẩn bị cho một màn ảo thuật mới,  nhưng người chờ đợi nồng nàn nhất giây phút ảo hóa lại thường ngủ quên với tưởng tượng mơ hồ, có lẽ đêm ba mươi đã dấu trong tấm áo đen chiếc đũa thần vô hình huyền diệu nhất có thể trong khoảnh khắc biến không thành có, biến hôm qua thành ngày mai… Âm vang giao thừa chỉ còn vọng trong mơ tiếng chuông trống bát nhã đổ về từ chùa Linh Mụ, chùa Từ Ân, chùa ôn Nghệ chào đón giờ phút đầu tiên của một năm hòa với tiếng pháo „tống cựu nghinh xuân“ sau buổi lễ tổ tiên rước ông bà về ăn Tết với gia đình. 
  
Thật lạ lùng, nếu so lòng mong mỏi ngày tết với những điều xảy ra trong ngày tết, thì thấy hầu như mình ôm hai bàn tay không, một nửa kia của trò „tập vồng vông“. Nhưng ngoài những thứ ít ỏi đếm trên đầu ngón tay như áo mới, mứt gừng, hoa mai, hoa đào, tiền lì xì, hột dưa đỏ, đánh bài tới, đổ xâm hường bói „trạng“ và „ăn chơi tháng giêng“, còn có một đền đáp tấm lòng mong mỏi ấy bao năm vẫn vang vọng khó quên: không khí cảm động huyền diệu của ngày đầu năm. Có thể tiếng lắc cắc cắn hột dưa đỏ một ngày nào đó bặt đi mất hút, hột dưa vì mấy cái răng sệu sạo đành rơi trong quên lãng, cũng như những vị  cay chua mặn ngọt của ngũ quan đã phôi pha theo ngày tháng, nhưng nỗi xúc cảm không khí Tết thật khó phai mờ, theo đến tận cùng đời người, dù không khí ấy chỉ là …không khí. 
Sau những ngày rộn ràng, sáng mồng một tết thường bắt đầu với nỗi bỡ ngỡ về sự tĩnh lặng bất ngờ trãi ra trong không gian, tưởng như tất cả nhân gian đều ngưng thần soi mặt vào nước sông Hương cũng đang dừng lại không trôi trong khoảnh khắc mới nhất của năm bắt đầu. Không khí trở nên khác hẳn. Hôm qua người đi hầu như va nhau côm cốp, khiêng bàn kéo ghế, sửa soạn bàn thờ với các bộ tam sự, ngũ sự nặng tay, chưng hoa, bày quả phẩm rối rít. Qua một đêm, sáng ngày mồng một tết, bỗng dưng mọi người đi lại nhẹ nhàng như những chiếc bóng, cử chỉ khác hẳn không tíu tít ồn ào, không ai nói lớn tiếng với ai mà chỉ âm thầm trang điểm, người lớn thì chải tóc vấn khăn và thay áo, chỉ riêng lũ trẻ lúng ta lúng túng với những áo những quần chưa quen mặc. 
  
Giờ mặc áo mới thật khó quên, hình như chỉ từ giây phút được mặc áo mới, năm mới đối với đứa trẻ mới bắt đầu, nỗi mong đợi Tết mới được vừa vặn sít sao dù tay áo có dài, vạt áo có dư ra để „trừ hao cả năm chóng lớn bơ vừa“ như mẹ vừa mặc áo vừa thủ thỉ. Chỉ khi áo mặc xong, năm mới thật sự là mới từ giờ phút ấy. 
  
Và giây phút trang nghiêm bắt đầu, khi mọi người trong đại gia đình chỉnh tề khăn áo đến mừng thọ bà nội. Khó quên nỗi hồi hộp trào dâng tình cảm mâu thuẫn của mỗi người thân được biểu lộ trong giờ chúc tết, khi cả nhà sụp lạy mừng bà sống lâu, có tiếng cười nơi vết lăn của giọt nước mắt trên má, và có cánh tay áo chùi nước mắt trong khi miệng nhoẻn cười. Vào dịp này hình như người lớn tuổi bỗng thành trẻ con, mít ướt, còn trẻ con lại thành người lớn…hơn. Bác trưởng tộc trong chiếc áo rộng xanh, đầu bịt khăn đóng, vừa mới cất lời khai mạc buổi mừng tuổi với  hai chữ  trịnh trọng „thưa mệ“ bỗng nhiên nghẹn ngào, nói không ra lời, nước mắt ràn rụa. Cô Thị đứng sau  nước mắt chạy quanh theo vành môi đang mở nụ cười. Rồi các bác, các o, các mụ vừa hít hà vừa ẩn mặt bằng cách đẩy những đứa bé lên trước mặt bà, nói lời chúc tụng. Và tiếng cuời sau đó không còn đẳm nước mắt theo với tiếng trẻ thơ làu làu thuộc bài mừng tuổi. 
  
Khó quên cảnh nhà ngày mồng một tết ấy, ánh nến lung linh trong ba gian nhà thờ, khói trầm nghi ngút, hoa mai vàng trang trọng, những quả bồng bánh cúng ngũ sắc, những tranh chúc tết, câu đối Tết và dáng ngồi thanh gầy của bà nội, như một cành mai bên cạnh cành mai vừa nở trong vườn hôm qua. Vào ngày tết, bà nội cũng như mẹ và các bác, các cô đều đem những bộ áo cất lâu năm trong tủ ra mặc, những chiếc áo may bằng vải the thêu chữ thọ chữ phước, hoa cúc hay chim phượng được lót bằng vải lụa đỏ hay xanh rực rỡ, quần trắng mớ ba mớ bảy. Bà nội thường mặc áo cặp hai màu, áo ngoài màu vàng hổ hoàng, áo trong màu xanh da trời hay màu xanh lục thủy, áo may bằng vải the hay lụa vân dệt tay công phu, đầu chít khăn  nhiểu màu vàng cam hay để tóc bối có cài trâm, thanh lịch và đẹp như một bức tranh cổ. Bà nội thường nói „chi thì chi, nghèo thì nghèo, ba bữa tết áo quần nên lành lặn, nhà cửa nên quét dọn tươm tất, vườn tượt vun xới đẹp đẽ, và nên làm „đẹp lòng“ nhau, ngày tết nhất định bà không chỉ vẻ con cháu nghiêm khắc một tiếng nào bắt đầu sáng mồng một tết“…  
  
Cung cách đón tết Huế gần như một cuộc hành đạo nếp sống Huế, trong đó mỹ cảm và tâm cảm, đạo làm người trong bước đi „đẹp lòng“ với người với cảnh, là một không hai. Ở đó không có ý niệm phân biệt sang hèn, cao thấp trong so đo vật chất, tranh chấp thế giá.  Ở đó có nhiều tận tình chung nhau niềm tin lạc quan về thời gian, về đổi thay, về chuyển hóa, mà năm mới là khởi đầu của hi vọng, ở đó nếu hiểu „lạc đạo“, trong nghĩa „đẹp lòng“ thì „an bần“ không phải là „nghèo tủi“ mà là „biết đủ“ và „biết chia xẻ“,cho nên cũng „đẹp lòng“, cho nên vui đạo. Hình như từ tuổi thơ, linh cảm về „bước đi của đạo“ ấy một nửa đã đến từ „bầu trời“ Linh Mụ một sáng mùa xuân. Không biết có người Huế nào đã gặp khoảnh khắc ấy như tôi đã gặp, sáng mồng một tết chạy ra ngõ chơi, bất ngờ - vì đã chưa một lần chủ ý -  gặp sông núi mùa xuân đài cát dưới bầu trời tết Huế bãng lãng mây bay trên cao. 
  
Núi mùa xuân khoác tấm áo màu xanh mực tàu, màu xanh bát ngát, như vừa mới được tạo hóa   xuất thần ra tay tuyệt xảo, một màu xanh mới lạ, tân kỳ chưa từng nghe ca ngợi trong cổ thi cũng như chưa bao giờ thấy trong các bức cổ họa.  Lung linh trong nắng sớm, tấm áo mùa xuân của núi bỗng trở nên một bài thơ Tết diễm ảo không lời, trong đó đỉnh Kim Phụng hiện ra vừa ung dung tự tại vừa trang trọng bí ẩn nơi khúc quành giòng sông, gần gũi thân thuộc chứ không xa xôi mờ nhạt như trong ngày đông giá. Hình như vẻ thanh tú, trẻ lại thành „non xanh“ của núi mùa xuân đã làm con sông ngẩn ngơ đứng sửng, tưởng như không còn biết mình là giòng sông phải chảy. Nhưng chính trong giây phút „quên mình“ ngẩn ngơ ấy, sông Hương lại đẹp hơn bao giờ. Thủy chung đến tận đáy lòng, sông Hương đem cả bầu trời mùa xuân giao trả lại cho đất với tất cả sự rộng lượng không bến bờ. Nắng xuân u nhã, nhu hòa rãi trên sông một lớp tơ trời nhẹ như một thoáng mộng, gây cho người nhìn cảm giác lâng lâng, cơ hồ trong thoáng chốc tưởng sẽ vụt bay vào trong cõi mông mênh ấy. Mênh mang sông nước, vạn vật như đắm chìm trong tĩnh lặng, trong đơn sơ lồng lộng, từ đó cảm giác thanh bình dội vào tim như một thứ hạnh phúc ân sủng. Một thứ hạnh phúc được nghe tiếng cao xa không lời của núi, được chiêm ngưỡng đường cong vời vợi không tiền bạc không lâu đài của sông, được nhìn „nghèo nàn lộng lẫy“ của bầu trời Linh Mụ trong một sáng đầu xuân. 
  
Hạnh phúc ấy từ đó đọng sâu trong tiềm thức, qua năm tháng đã trở nên những xao xuyến vô hình thôi thúc trở về trong nỗi nhớ, lắm khi chẳng biết vì sao. Vì sao khi trời đổ tuyết nơi viễn xứ, lại tự hỏi mình „mùa xuân bên ấy“ bây giờ ra sao? 
  
Thái Kim Lan 
Muenchen, tết Ất Dậu tháng hai 2005 
Viết trong ký ức„mùa xuân bên ấy“