Thứ Sáu, 18 tháng 7, 2014

TIN SÁCH

GIỚI THIỆU NGUYỆT SAN TIN SÁCH
Kính thưa quý vị,
Chúng tôi mạn phép gửi đến quý vị số ra mắt của Tin Sách, là tập san được thực hiện hàng tháng để giới thiệu các tác phẩm và dịch phẩm giá trị thuộc mọi thể loại (sưu tầm, khảo luận, sáng tác văn học v.v…), với hy vọng sẽ trở thành nhịp cầu nối kết giữa các tác giả/dịch giả cùng bạn đọc khắp nơi, trong ý hướng bảo tồn và phổ biến những giá trị cao đẹp của văn học cũng như đáp ứng nhu cầu tìm hiểu về cuộc sống Việt Nam.
Nguyệt san Tin Sách số 1 đã phát hành vào đầu tháng 5-2014 dưới hai hình thức giấy in và eBook. Nguyệt san Tin Sách số 2 đang chuẩn bị phát hành vào đầu tháng 6-2014. Để download miễn phí bản eBook của Tin Sách, xin mời quý vị vào trang mạng Nhà Việt Nam (www.vnlac.org) và Tiếng Quê Hương(www.tiengquehuong.wordpress.com). Nếu muốn nhận bản giấy in của Tin Sáchgửi qua đường bưu điện đến tận nhà của quý vị, xin liên lạc với chúng tôi qua email tiengquehuongbookclub@gmail.com để biết thêm chi tiết về thể thức mua dài hạn, ấn phí và bưu phí.
Quý vị điều hành các nhà xuất bản, cũng như quý vị văn thi sĩ có tác phẩm mới xuất bản, nếu muốn giới thiệu trên nguyệt san Tin Sách, xin vui lòng gửi cho chúng tôi một ấn bản về địa chỉ: TỦ SÁCH TIẾNG QUÊ HƯƠNG – P.O. Box 4653, Falls Church, VA 22044, USA; đồng thời xin liên lạc với chúng tôi qua emailtiengquehuongbookclub@gmail.com để cung cấp thêm chi tiết về tác phẩm.
Chúng tôi rất mong đón nhận sự hỗ trợ của quý vị để giúp cho việc thực hiện và phổ biến Tin Sách ngày càng hoàn thiện, hầu nâng cao hiệu năng đóng góp vào sinh hoạt chung của cộng đồng người Việt hải ngoại.
Trân trọng,
Nhóm chủ trương TIN SÁCH: Uyên Thao – Trần Phong Vũ – Lê Thị Nhị – Đào Trường Phúc – Linh Vang – Hoàng Song Liêm – Hoàng Vi Kha – Nguyễn Thu Thủy – Nguyễn Mạnh Trinh – Dương Hoàng Dung – Trịnh Bình An

Mời đọc Tin Sách Số 1, 2, 3 trên các trang web:

Thứ Tư, 16 tháng 7, 2014

Giáo Dục Thời Việt Nam Cộng Hòa


Nhìn lại Giáo dục thời VNCH 
Triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng hòa là nhân bản, dân tộc, và khai phóng.
Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa nhấn mạnh quyền tự do giáo dục, và quy định "nền giáo dục cơ bản có tính cách cưỡng bách và miễn phí", "nền giáo dục đại học được tự trị", và "những người có khả năng mà không có phương tiện sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn". Hệ thống giáo dục Việt Nam Cộng hòa gồm tiểu học, trung học và đại học, cùng với một mạng lưới các cơ sở giáo dục công lập, dân lập và tư thục ở cả ba bậc học và hệ thống tổ chức quản trị từ trung ương cho tới địa phương.
Mặc dù tồn tại chỉ trong 20 năm, từ 1955 đến 1975, bị ảnh hưởng nặng nề bởi chiến tranh và những bất ổn chính trị thường xảy ra, phần thì ngân sách eo hẹp do phần lớn ngân sách quốc gia phải dành cho quốc phòng và nội vụ (trên 40% ngân sách quốc gia dành cho quốc phòng, khoảng 13% cho nội vụ, chỉ khoảng 7-7,5% cho giáo dục), nền giáo dục Việt Nam Cộng hòa đã phát triển vượt bậc, đáp ứng được nhu cầu gia tăng nhanh chóng của người dân, đào tạo được một lớp người có học vấn và có khả năng chuyên môn đóng góp vào việc xây dựng quốc gia và tạo được sự nghiệp vững chắc ngay cả ở các quốc gia phát triển. Kết quả này có được là nhờ các nhà giáo có ý thức rõ ràng về sứ mạng giáo dục, có ý thức trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp, đã sống cuộc sống khiêm nhường để đóng góp cho nghề nghiệp, nhờ nhiều bậc phụ huynh đã đóng góp công sức cho việc xây dựng nền giáo dục quốc gia, và nhờ những nhà lãnh đạo giáo dục đã có những ý tưởng, sáng kiến, và nỗ lực mang lại sự tiến bộ cho nền giáo dục ở miền Nam Việt Nam.
Đến thời Đệ nhất Cộng hòa thì chương trình Việt mới được áp dụng ở miền Nam để thay thế cho chương trình Pháp. Cũng từ đây, các nhà lãnh đạo giáo dục Việt Nam mới có cơ hội đóng vai trò lãnh đạo thực sự của mình.
Năm học 1973-1974, Việt Nam Cộng hòa có một phần năm (20%) dân số là học sinh và sinh viên đang đi học trong các cơ sở giáo dục. Con số này bao gồm 3.101.560 học sinh tiểu học, 1.091.779 học sinh trung học, và 101.454 sinh viên đại học; số người biết đọc biết viết ước tính khoảng 70% dân số.[4] Đến năm 1975, tổng số sinh viên trong các viện đại học ở miền Nam là khoảng 150.000 người (không tính các sinh viên theo học ở Học viện Quốc gia Hành chánh và ở các trường đại học cộng đồng).
Có lẽ là sự tiếc nuối khi bây giờ nhìn lại nền giáo dục VNCH, đó là sự cống hiến, đóng góp xây dựng hết mình từ chính phủ, phụ huynh, các nhà giáo, học sinh, hình thành nên một nền giáo dục với triết lý nhân bản - dân tộc và khai phóng. Quan trọng hơn hết là không có chuyện định hướng tư tưởng một cách phiến diện, giấu diếm thông tin, và tạo mọi điều kiện để trẻ em được tự do phát triển theo khả năng của mình, đặc biệt là suy nghĩ và tư tưởng.
1. Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là giáo dục nhân bản.
Triết lý nhân bản chủ trương con người có địa vị quan trọng trong thế gian này; lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản; xem con người như một cứu cánh chứ không phải như một phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá nhân, đảng phái, hay tổ chức nào khác.
Triết lý nhân bản chấp nhận có sự khác biệt giữa các cá nhân, nhưng không chấp nhận việc sử dụng sự khác biệt đó để đánh giá conngười, và không chấp nhận sự kỳ thị hay phân biệt giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, chủng tộc… Với triết lý nhân bản, mọi người có giá trị như nhau và đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục.
2. Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là giáo dục dân tộc.
Giáo dục tôn trọng giá trị truyền thống của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp, và quốc gia. Giáo dục phải bảo tồn và phát huy được những tinh hoa hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Dân tộc tính trong văn hóa cần phải được các thế hệ biết đến, bảo tồn và phát huy, để không bị mất đi hay tan biến trong những nền văn hóa khác.
3. Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là giáo dục khai phóng.
Tinh thần dân tộc không nhất thiết phải bảo thủ, không nhất thiết phải đóng cửa. Ngược lại, giáo dục phải mở rộng, tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới.
Từ những nguyên tắc căn bản ở trên, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đề ra những mục tiêu chính sau đây cho nền giáo dục của mình. Những mục tiêu này được đề ra là để nhằm trả lời cho câu hỏi: Sau khi nhận được sự giáo dục, những người đi học sẽ trở nên người như thế nào đối với cá nhân mình, đối với gia đình, quốc gia, xã hội, và nhân loại.

Thứ Hai, 14 tháng 7, 2014

Tháng Tư Còn Đó Nỗi Buồn


Đang giữa Tháng Bảy mà nói chuyện Tháng Tư là không thuận với cảnh. 
Bầu trời Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn chiều cuối tuần thật đẹp. Nắng dịu và gió nhẹ, đủ sức an tâm cho những người khách cao niên trên đường đến dự buổi giới thiệu tác phẩm Black April của tác giả George J. Veith, được tổ chức tại trụ sở Hội Người Việt. 

Black April (*). Lại Tháng Tư Đen giữa lòng Tháng Bảy! Vậy mà cũng thuận lòng người hoan hỉ đón nhận. Có phải mảng quá khứ đau thương của vận nước cưu mang giữa lòng người dân Việt chẳng thể nào dứt khỏi cuộc đời chính họ đã trải qua từ ngưỡng cửa tử thần, đến cửa những trại giam và nông trường lao động khổ sai? 
Không! Không thể nào hằng triệu người dân Việt còn trong nước hay đang lưu vong quên được Tháng Tư Đen tàn khốc đó! Tháng Tư của máu và nước mắt, khi sinh mệnh của đất nước và con người bị bứt tử. Bốn mươi năm đã qua, nhưng tiếng gào thét của sự bức tử còn âm vọng mãi mãi trong tâm trí mọi người. Vết thương tâm linh luôn rướm máu, máu của chính mình, của đồng đội, của đồng bào ruột thịt miền nam Việt Nam. 
Black April của Veith là tập hợp những nguồn máu đó chảy râm ran qua suốt tháng năm dưới hóa thân những giòng lệ đỏ! 

Nếu những trang sử của Việt Nam Cộng Hòa được ghép bởi những di ngôn uất hận. Đời con cháu sau này sẽ hiểu được tinh thần của những chiến binh chiến đấu bảo vệ tự do và dân chủ cho một dân tộc đáng được trân quí như thế nào. Và cũng đáng được truy nguyên những chiến công của họ. 
Mỗi đánh giá về từng đoạn đường của lịch sử một dân tộc, cũng giống như sự đánh giá từng tác phẩm viết về dòng lịch sử đó, cần được phát biểu bằng ngôn ngữ của con tim chân chính được nuôi lớn bởi nguồn sống nhân bản . Mọi chất liệu đấu tranh chống cái ác được phơi bày dưới ánh sáng mặt trời luôn là hiện thực . 

Black April là một sân phơi những chất liệu đó . Qua sóng gió cuộc đời, qua trầm thăng thế cuộc, những chất liệu trung thực này sẽ được đặt trong bảo tàng lương tâm của nhân loại. Mọi tham vọng và ý đồ khuynh đảo quốc gia sẽ phải trả giá bởi chính lương tâm của họ. 

Trở lại với buổi giới thiệu tác phẩm Black April, tại hội trường của Hội Người Việt Cao Niên vùng Hoa Thịnh Đốn, chiều Chúa Nhật 12 tháng 7 năm 2014. Cảm nhận của tôi đầy những bồi hồi . Bồi hồi qua các giải trình từ tác giả và các diễn giả về nội dung những chương quân sử của quân lực Việt Nam Cộng Hòa vào những năm cuối của cuộc chiến đầy những ấn tượng bi thương! Bồi hồi vì sự cảm Kích tinh thần chiến đấu của một tập thể quân đội chỉ biết tiến chứ không lùi bước trước kẻ thù cọng sản xâm lăng. Bồi hồi vì được gặp lại vài vị chỉ huy từ tham mưu đến chiến trường, mà qua những năm quân vụ tôi đã có dịp diện kiến và phục lệnh. Bây giờ tôi được gọi những cấp chỉ huy này là niên trưởng. 

Đặc biệt, với Trung Tướng Lữ Lan, một thời là Tư Lệnh Quân Đoàn II, nơi tôi đã phục vụ lâu nhất và có nhiều kỷ niệm nhất trong suốt thời gian binh nghiệp. Hôm nay được nhìn ông còn sức khỏe khang trang, tôi rất vui. Vui cả những đoạn phim thời sự của thập niên 60 nơi vùng cao nguyên đầy lửa đang khởi hiện trong tiềm thức tôi. Những đoạn phim hùng tráng với những trận thư hùng oanh liệt của những đơn vị dưới quyền ông đối lực với quân đội cọng sản Bắc Việt trên khắp lãnh thổ Vùng 2 Chiến Thuật. 
Những thước phim tài liệu về quân sử Quân Đoàn II/QL. VNCH mãi còn đó . Những quyển sách như Tháng Tư Đen của George J. Veith mãi còn đó. Như những dấu tích đau thương mãi còn đó trong tâm khảm mỗi người dân miền nam Việt Nam suốt thời kỳ chiến tranh bảo vệ quốc gia, chống lại sự xâm lăng của tập đoàn quân cộng sản Việt Nam và các thế lực đồng lõa. 

Người viết sử đừng bao giờ nói dối
Trước trăm nghìn câu hỏi của hồn oan!
 
Tôi đã viết những lời thơ như vậy, để cảnh tỉnh những người mon men vào con đường viết sử với những xảo ngôn, vong bản và xu thời. Khỏi phải ân hận trối trăn khi cuộc đời đi vào cõi đất! 

Sau khi chấm dứt phần giải trình về tác phẩm Black April. Tôi đến mở lời chào niên trưởng Lữ Lan với vài gợi nhớ, ông niên trưởng Lữ Lan và tôi bắt tay với nụ cười thân mến trao nhau cùng những câu tâm tình huynh đệ chi binh. Do yêu cầu, tôi có một tấm hình lưu niệm với ông niên trưởng được thực hiện bởi chính ái nữ của ông – Lữ Anh Thư. Đúng là Lữ Anh Thư, một cái tên mà nhiều người biết đến qua các chương trình Lịch Sử và Xã Hội Học tại các trường học Miền Đông Hoa Kỳ (**) 

Tiếp sau sự diện kiến thân tình với niên trưởng Lữ Lan, tôi đến làm quen với một người Mỹ, ông Merle L. Pribbenow – người bạn đồng hành với Veith - tác giả Black April. Merle nói thông thạo tiếng Việt, nên lời mở đầu của tôi được đón nhận với lòng cởi mở. Tôi cảm ơn Merle về sự thấu hiểu tinh thần chiến đấu của quân dân miền Nam Việt Nam suốt hai mươi năm chiến đấu chống giặc bắc phương . Lời cảm ơn đơn giản với sự cảm thông lẫn nhau, được ghi nhận qua tấm hình chụp chung với nụ cười chưa thỏa của tôi và cái mím môi của Merle. 

Trong dịp này, tôi gởi tặng Lữ Anh Thư, Veith và Merle tập thơ Thao Thức của tôi, với ý muốn được gởi chút tâm tư của một trong hằng triệu chiến binh quân lực Việt Nam Cộng Hòa có mặt trong Tháng Tư Đen. Và hơn thế, là sự mong cầu tâm tư thao thức được thẩm thấu vào tấm lòng tuổi trẻ Việt Mỹ có lưu tình tri thức Việt Nam. 

Nhân đây, xin được cảm ơn giáo sư Nguyễn Ngọc Bich, chị Trương Anh Thụy của Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông. Cảm ơn quí vị trong ban tổ chức đã thực hiện cuộc hội ngộ khó quên với cả chữ nghĩa và nhân vật trên những trang sử liệu và trong buổi giới thiệu Black April – The Fall Of South VietNam! 

Trân trọng, 
Cao Nguyên 
Washington.DC – July 12, 2014 



Tham Khảo: 

(*) Tác Phẩm Black April: 




http://www.amazon.com/Black-April-South-Vietnam-1973-75/dp/1594035725 

(**) Phỏng Vấn Lữ Anh Thư Về Virginia School Board 
https://archive.org/details/PhongVanLuAnhThuVeVirginiaSchoolBoardPhan1Low

Thứ Bảy, 12 tháng 7, 2014

Văn Minh Da Vàng



Văn Minh Da Vàng 

khi những ngón tay da vàng
nhón chiếc kẹo chocolate màu đen
trên bàn tiệc của người da trắng
ánh sáng văn minh tràn vào Phương Đông
thế kỷ hai mươi viết lời nhân bản
bằng máu hồng trên bán đảo Đông Dương

khi những bàn tay da vàng
gom những đồng dollar màu xanh
trên cánh đồng tư bản bỏ vào túi riêng
ánh sáng văn minh vụt tắt
bởi lũ quạ đen che khuất mặt trời
theo bản ngã sinh tồn của loài ác điểu

khi những đóa hoa anh đào
nở thắm trong ký ức người da vàng lưu vong
sự khát khao tự do bùng cháy
cùng lúc tiếng chuông đảnh lễ giao thừa
vang theo lời nguyện cầu quốc thái dân an
nền văn mình phương đông tái hiện
trong tim hằng triệu người dân Việt

khi những bàn tay da vàng hân hoan siết chặc
ngọn lửa nhân quyền đốt cháy mọi nhà tù
xây trong triều đại quyền lực quỉ ám
ánh sáng văn minh tràn qua mọi ngõ ngách
lũ người vong bản lộ diện và sám hối
tòa án lương tri phán quyết:
tất cả những ai phản bội tổ quốc quê hương
sẽ chịu án chung thân trong nỗi đau dân tộc!

Cao Nguyên

Thứ Sáu, 13 tháng 6, 2014

Ông chủ nhà sách Khai Trí Sài Gòn

Người Sài Gòn nên đọc, không phải người Sài Gòn, đọc cho biết!
Tôi có ngươì chị ruột giúp viêc bán sách cho tiệm sách Việt Hương ở số 34 đưòng Lê Lợi. Từ đây đi về hướng chợ Bến Thành có thêm 3 tiệm sách: Thanh Tuan số 56, Phuc Thành số 58 và Khai Trí chiếm 2 căn 60 - 62 . Theo chị tôi kể laị Ông Khai Trí khởi nghiệp bằng 1 chiếc xe đẩy (như xe bán sách ở bến sông Seine bây giờ). Xe bán sách của Ông thường đậu trước cổng Trường Chasseloup Laubat đường Hồng Thập Tự. Tôi nghe kể laị vây thôi chớ đâu ngờ gặp Ông ở trại Z30C Hàm Tân.
Buổi sáng tù đợi đi lao động, nhưng sớm hơn có một ông già lúc nào cũng với bộ quần áo trắng đã ngã qua màu cháo lòng đẩy chiếc xe caỉ tiến chứa phân bắc cuả tù đem đi. Sáng naò cũng vậy, ít ai biết ông là ai. Đó là ông Nguyễn Hùng Trương, chủ nhà sách Khai Trí nổi tiếng ở Sài Gòn trước năm 1975.

Người Sài Gòn gọi ông là "ông Khai Trí" (theo tên nhà sách - nhà xuất bản do ông làm chủ). Hết sức quảng bác nhưng ông lại rất ít nói về mình, nên ít người biết ông chính là tấm gương sống động: từ hai bàn tay trắng trở thành người kinh doanh ngành sách lớn nhất và uy tín nhất miền Nam.

432137_371185592905290_495019525_n.jpg
Ông Khai Trí và nhà biên soạn tự điển Nguyễn Văn Khôn

Ông Khai Trí tên thật là Nguyễn Hùng Trương, sinh năm 1926 tại Thủ Đức. Thuở nhỏ, ông thường nhịn ăn sáng, dùng 2 đồng xu mẹ cho để mua báo đọc. Lên Sài Gòn học trung học ở Petrus Ký, ông được sắm cho chiếc xe đạp cũ để cuối tuần đạp về nhà, đầu tuần trở lên với món tiền đủ để tiêu xài dè sẻn trong tuần. Nhưng cứ mỗi chiều thứ hai là ông tiêu sạch số tiền đó vào sách báo rồi cả tuần nhịn ăn sáng, chỉ uống nước lã cho đỡ đói.

Sách ông mua hầu hết là sách báo nước ngoài, vào thập niên 1940 ông đã gây dựng được một tủ sách có giá trị. Bạn bè đến chơi, thấy ông có nhiều sách hay thường nhờ ông mua giùm. Có lần, chỉ 5 người nhờ nhưng ông mua đến 10 cuốn để được hưởng 30% hoa hồng. Số sách dư ra, ông đem ký gửi ở quán sách. 3 hôm sau, người chủ quán hỏi ông sách loại đó còn không, nếu còn thì đem tới tiếp vì sách gửi trước đã bán hết rồi. Từ đó ông nảy ra ý định mua sách báo ở nước ngoài về gửi bán. Sách ông chọn là loại sách có giá trị, quý hiếm, nhiều người cần mà trong nước không bán. Lúc đầu mua mỗi thứ vài chục cuốn, thấy bán chạy ông mới tăng số lượng lên, có khi cả nghìn cuốn.

Nhờ cố gắng làm việc không quản mệt mỏi, tiết kiệm từng đồng nên đến năm 1952 ông Khai Trí đủ vốn để mở một hiệu sách nhỏ tại 62 đại lộ Bonard (nay là Lê Lợi), đặt tên là Nhà sách Khai Trí (nay là Nhà sách Sài Gòn). Đây là nhà sách đầu tiên ở Việt Nam bán hàng theo kiểu tự chọn, khách có thể đứng đọc tại chỗ hàng giờ rồi đi ra mà không phải mua. Nữ nhân viên bán hàng mặc đồng phục, lúc nào cũng vui vẻ ân cần, trông nom một cách kín đáo...
Những điều này hiện nay được áp dụng ở đa số hiệu sách nhưng vào thời điểm đó thì quá mới mẻ và rất được khách hàng ủng hộ, nhờ vậy mà sau đó nhà sách được mở rộng thêm 2 căn liền kề với nhiều tầng lầu.
Nhà sách Khai Trí còn phụ trách cả việc xuất bản sách với những đầu sách được chọn lựa kỹ càng và phong phú.

Một thú chơi đặc biệt của ông Trương nữa là sưu tầm sách báo (chỉ riêng tờ báo Pháp ngữ Le Monde, ông có từ số đầu tiên cho tới ngày 30/4/1975). Ông còn cùng nhà văn Nhật Tiến chủ trương ra Tuần báo Thiếu Nhi và là soạn giả của nhiều đầu sách có giá trị.
Riêng trong khoảng 10 năm từ 1993 đến 2003, ông đã tuyển chọn và biên soạn khoảng 15 cuốn sách: Thơ tình Việt Nam và thế giới chọn lọc, Quê em mến yêu, Làm con nên nhớ, Chánh tả cho người miền Nam, Huế mến yêu, Những bài thơ hay trong văn chương Việt Nam...
Nhà văn Nguyễn Thụy Long (tác giả của cuốn tiểu thuyết nổi tiếng "Loan mắt nhung," một cuốn tiểu thuyết mà sau này giới nghiên cứu miền Bắc sau 1975 cũng hết lời ca ngợi) có viết một bài nhan đề "Vĩnh biệt ông Khai Trí," trong đó có nhắc đến hoàn cảnh đau thương của ông Khai Trí sau 1975.

Ông Khai Trí, Nguyễn Hùng Trương, sinh năm 1926 tại Thủ Đức, Gia Định, mất hồi 5 giờ 15 ngày 11 tháng 3 năm 2005, tức ngày mồng 2 tháng 2 năm Ất Dậu, thọ 80 tuổi sau hai tuần nằm bệnh viện. Ông mất đi do sức già lực kiệt, nhiều năm ông cố gắng tranh đấu để xin lại hiệu sách vĩ đại của ông sau khi bị nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa tịch thu, sau đợt cải tạo văn hóa 1976 tại Sài Gòn. Tiệm sách của ông tại đường Lê Lợi mang tên Khai Trí bị nhà nước "quản lý", nay mang tên Phahasa của nhà nước.
Thuở đó, sau khi các sĩ quan chế độ Việt Nam Cộng Hòa bị đi cải tạo trước, đến lượt những văn nghệ sĩ bị bắt, tác phẩm thiêu đốt và họ đều bị coi là kẻ có tội, đương nhiên bị bôi nhọ, kết tội là Biệt Kích Văn Nghệ.

Ông Khai Trí cũng bị coi là tội phạm, liệt vào hàng văn nghệ sĩ và bị bỏ tù, vì người chiến thắng cho ông là người kinh doanh và phát triển cái văn hóa đồi trụy. Những người đã từng sống ở miền Nam trước giải phóng, ai cũng biết đến ông. Gọi là ông Khai Trí mà quên cái tên cúng cơm của ông là Nguyễn Hùng Trương, ông làm được nhiều công việc lợi ích cho văn hóa Việt Nam, cả đời ông đam mê công việc ấy. Và ông quen biết rất nhiều văn nghệ sĩ ở miền Nam , kể cả những văn nghệ sĩ Bắc di cư 1954.
Ông Khai Trí lại ra tay giúp đỡ nhiều anh em văn nghệ sĩ gặp hoàn cảnh khó khăn, mua tác phẩm của họ, tuy chưa in còn để đấy nhưng ông vẫn trả tiền đầy đủ không thiếu một xu. Ngoài ra ông tài trợ cho nhiều tờ báo hồi đó ở Sài Gòn. Tôi không biết nhiều, nhưng tôi biết về tờ báo Sống của Chu Tử, cũng có sự góp sức về mặt tiền bạc.

... Bao nhiêu lần tôi đi qua đường Lê Lợi, tôi nhìn thấy ông Khai Trí buồn bã đứng ở góc đường đó, nhìn sang hiệu sách cũ của mình mang tên mới là Phahasa. Một lần khác, cũng trong bữa giỗ ông Chu Tử, tôi hỏi ông Khai Trí về việc xin lại nhà sách Khai Trí đến đâu rồi?Ông cười chua chát: Phải đến năm 3000 thì may ra...
Ngày ông bị bắt, bị bỏ tù, bao nhiêu bài báo nói xấu ông, kết tội ông còn dấu bao nhiêu kho sách Ngụy, không thành thật khai báo. Chuyện thế thái nhân tình lúc ông gặp hoạn nạn, những kẻ trước đây từng chịu ơn ông, tố cáo ông bao nhiêu là tội kể cả những điều không có để lập công.
Buổi lễ tang ông Khai Trí, tại nhà ông đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, tôi gặp nhiều bạn bè của ông, những người thuộc chế độ Sài Gòn cũ đến thắp cho ông những nén nhang và chia sẻ sự thương tiếc với gia đình ông.

... Tôi nhớ mãi dáng ông Khai Trí đứng nhìn lên hiệu sách cũ của mình và câu nói chán nản của ông, năm 3000 thì người ta trả lại cho ông nhà sách Khai Trí. Sao mà chua chát thế cho ông Khai Trí Nguyễn Hùng Trương, cả một đời chỉ có một đam mê là làm văn hóa, giữ gìn cái hay, cái đẹp cho thế hệ mai sau.

Tiếng Xưa
Nguồn: vietlandnews.net

Thứ Năm, 12 tháng 6, 2014

Con Đường Mang Tên Anh: Việt Dzũng

Photo: Con đường mang tên anh
Việt Dzũng Human Right Memorial Highway

Thượng Viện Tiểu Bang California  đồng thuận vào ngày 1 tháng 5, 2014 vừa qua, đặt tên cho Highway 39 thuộc Orange County là Việt Dzũng Human Right Memorial Highway để tưởng nhớ và vinh danh cho những họat động bảo vệ nhân quyền của một người nhạc sĩ tỵ nạn mang tên Việt Dzũng.

Hiện nay Bộ Giao Thông cùng Nha Lộ Vận Tiểu Bang California đang hòan tất những thủ tục hành chánh cuối cùng để chuẩn bị cho buổi lễ khánh thành bảng tên đường mang tên Việt Dzũng vào một ngày gần đây. Đây là ý nguyện của quý vị dân cử cùng chính quyền tiểu bang California, gia đình không phải đóng góp cũng như vận động hoặc phải làm một công việc gì cả!
 
Nam Lộc

@
 
BILL NUMBER: SCR 85 INTRODUCED
 BILL TEXT
INTRODUCED BY   Senator Correa
                        FEBRUARY 20, 2014
   Relative to the Viet Dzung Human Rights Memorial Highway.
 LEGISLATIVE COUNSEL'S DIGEST

  SCR 85, as introduced, Correa. Viet Dzung Human Rights Memorial
Highway.
   This measure would designate a specified portion of State Highway
Route 39 (Beach Boulevard) in the County of Orange as the Viet Dzung
Human Rights Memorial Highway. The measure would request the
Department of Transportation to determine the cost for appropriate
signs showing this special designation and, upon receiving donations
from nonstate sources covering that cost, to erect those signs.

Việt Dzũng Human Right Memorial Highway

Thượng Viện Tiểu Bang California đồng thuận vào ngày 1 tháng 5, 2014 vừa qua, đặt tên cho Highway 39 thuộc Orange County là Việt Dzũng Human Right Memorial Highway để tưởng nhớ và vinh danh cho những họat động bảo vệ nhân quyền của một người nhạc sĩ tỵ nạn mang tên Việt Dzũng.

Hiện nay Bộ Giao Thông cùng Nha Lộ Vận Tiểu Bang California đang hòan tất những thủ tục hành chánh cuối cùng để chuẩn bị cho buổi lễ khánh thành bảng tên đường mang tên Việt Dzũng vào một ngày gần đây. Đây là ý nguyện của quý vị dân cử cùng chính quyền tiểu bang California, gia đình không phải đóng góp cũng như vận động hoặc phải làm một công việc gì cả!

Nam Lộc

@

BILL NUMBER: SCR 85 INTRODUCED
BILL TEXT
INTRODUCED BY Senator Correa
FEBRUARY 20, 2014
Relative to the Viet Dzung Human Rights Memorial Highway.
LEGISLATIVE COUNSEL'S DIGEST

SCR 85, as introduced, Correa. Viet Dzung Human Rights Memorial
Highway.
This measure would designate a specified portion of State Highway
Route 39 (Beach Boulevard) in the County of Orange as the Viet Dzung
Human Rights Memorial Highway. The measure would request the
Department of Transportation to determine the cost for appropriate
signs showing this special designation and, upon receiving donations
from nonstate sources covering that cost, to erect those signs.


@

WHEREAS, Prior to his death in December 2013, at the age of 55
years, Viet Dzung was a recognized musician, songwriter, emcee,
community leader, and an ardent voice for freedom, human rights, and
democracy, particularly in Vietnam; and
   WHEREAS, Viet Dzung was born in Saigon, Vietnam, on September 8,
1958, to a former member of parliament and a school teacher; and
   WHEREAS, After the end of the Vietnam War, he fled to Singapore
before moving to the United States in 1976 and being reunited with
his family; and
   WHEREAS, Viet Dzung's father served honorably as a South
Vietnamese military police officer and suffered at the hands of a
communist government as a prisoner in a concentration camp for seven
years, and his mother struggled every day to support her family in
postwar Vietnam; and
   WHEREAS, Drawing strength from his family's refugee experience,
Viet Dzung was a champion involved in and leading the Vietnamese
American community to honor the Vietnamese culture and to celebrate,
defend, and press for freedoms both here and in Vietnam; and
   WHEREAS, Viet Dzung was instrumental as an organizer and emcee for
the annual Black April Commemoration at the Vietnam War Memorial in
the City of Westminster to honor United States and South Vietnamese
veterans and the soldiers who sacrificed their lives for freedom
during the Vietnam War; and
   WHEREAS, Viet Dzung reached out to and involved thousands of
Vietnamese Americans, including performers, singers, students,
business owners, religious leaders, and nonprofit leaders, as a daily
voice on Radio Bolsa every morning providing news and public service
announcements to the largest Vietnamese American community in the
United States; and
   WHEREAS, Viet Dzung, whose real name was Nguyen Ngoc Hung Dung,
was respected in Little Saigon and worldwide for his dedication to
the Vietnamese refugee community and his commitment to fighting for
human rights, religious freedom, and democracy in Vietnam; and
   WHEREAS, Thousands of people have been inspired by Viet Dzung's
activism, music, and art throughout his meaningful life; and
   WHEREAS, Viet Dzung's life serves as an example of how one person
can have a positive impact on those around him and his community;
now, therefore, be it
   Resolved by the Senate of the State of California, the Assembly
thereof concurring, That the Legislature hereby designates the
portion of State Highway Route 39 (Beach Boulevard) between State
Highway Route 405 and Talbert Avenue in the County of Orange as the
Viet Dzung Human Rights Memorial Highway; and be it further
   Resolved, That the Department of Transportation is requested to
determine the cost of appropriate signs, consistent with the signing
requirements for the state highway system, showing this special
designation and, upon receiving donations from nonstate sources
sufficient to cover the cost, to erect those signs; and be it further

   Resolved, That the Secretary of the Senate transmit copies of this
resolution to the Department of Transportation and to the author for
appropriate distribution.               

Thạch Đầu's photo.