Thứ Ba, 22 tháng 11, 2011

Tạ Ơn


Tạ Ơn


ra mà xem, dấu yêu ơi
mặt trời trong tuyết, tuyệt vời sáng nay
long lanh từng sợi nắng đầy
nối trời với đất trong ngày Tạ Ơn

*

Tạ Ơn đời xóa căm hờn
gieo hoa nhân ái ngát vườn nhân sinh
Tạ Ơn cha mẹ sinh thành
nuôi con lớn giữa ngọn ngành quê hương
Tạ Ơn người gởi yêu thương
trong dòng ân nghĩa trên đường tình đi
Tạ Ơn dòng thác lương tri
vẫn nồng nhịp chảy giữa nghi vấn đời
Tạ Ơn bằng hữu quanh tôi
chung chia vinh nhục buồn vui cõi người
Tạ Ơn đất, Tạ Ơn trời
cho tôi còn đứng giữa đời hôm nay

xuyên qua hạt tuyết hồng bay
gởi lời chân tín trong ngày Tạ Ơn!

Cao Nguyên

Chủ Nhật, 13 tháng 11, 2011

Tà Áo Tím

Về Nguồn




rủ em trẩy bước về nguồn
hong lên cho rực thắm hồng tình quê
cầu tre rung nhịp đi về
võng khuya kẽo kẹt vỗ về đời con

thời gian ủ chín tuổi buồn
ụ rơm gốc rạ thả hồn vịn tay
sông tình ngửi vị trầu cay
giục em đỏ má nhớ ngày hợp hôn

vai ngoan quang gánh bào mòn
trên da còn ửng vết bồng cháu con
bến xưa giặt áo đá mòn
đèn dầu đỏ ngọn nhà còn đợi ai

duyên em thắm vạt áo dài
thương con mắt ngắm nhớ hoài tháng năm
ghẹo em giữa hội trăng rằm
tơ hồng đỏ nụ trăm năm chúng mình

vẫn là Nước đẹp Non xinh
cho quay quắt nhớ bóng hình Việt Nam
tặng em tình khúc tơ tằm
ươm thân óng ả con Rồng cháu Tiên!
Cao Nguyên

Nghe nhạc:

Áo Dài trong Thơ và Nhạc



Chiều nào áo tím nhiều quá / lòng thấy rộn ràng nhớ người...

Giọng hát trầm ấm, dìu dặt của Duy Trác cất lên đâu đó trong một ngày đầu thu gợi nhớ hình ảnh và nơi chốn thân quen trước “cổng trường áo tím” những chiều tan học. Áo tím túa ra như đàn bướm, áo tím thướt tha dọc theo những “lối đi dưới lá” trên lề đường Phan Thanh Giản, trên những đường phố Saigon ngập nắng. Những tà áo nhẹ bay trong gió từ lâu lắm đã đi vào thi ca, làm rung động lòng người và là nguồn cảm hứng vô tận của những người làm thơ, viết nhạc. Tà áo nên thơ ấy, dưới đôi mắt ngắm nhìn của người nghệ sĩ, là bức tranh sinh động với nhiều đường nét, nhiều dáng vẻ, thể hiện qua từng lời thơ ý nhạc:
Dưới mắt Phạm Đình Chương là “Áo bay mở, khép nghìn tâm sự...” (Mộng dưới hoa)
Dưới mắt Vũ Thành là “Áo dài bay ngờm ngợp cả khung trời...” (Mùa kỷ niệm)
Dưới mắt Hoàng Dương là “Áo mầu tung gió chơi vơi...” (Hướng về Hà Nội)
Dưới mắt Trịnh Công Sơn là “Áo xưa lồng lộng đã xô dạt trời chiều...” (Tình nhớ)
Những vạt áo dài, từ lâu lắm, đã lất phất trong những trang thơ tiền chiến. Từ…
“Đôi tà áo lụa bay trong nắng” (Áo lụa, Bàng Bá Lân) đến…
“Nắng thơ dệt sáng trên tà áo
lá nhỏ mừng vui phất cửa ngoài” (Áo trắng, Huy Cận)
Áo dài cũng len cả vào những câu lục bát trữ tình của Nguyễn Bính:
“Hồn anh như bông cỏ may
một chiều cả gió bám đầy áo em” (Bông cỏ may)
Và len cả vào dòng thơ hào hùng và lãng mạn của Quang Dũng:
“Em đi áo mỏng buông hờn tủi
dòng lệ thơ ngây có dạt dào” (Đôi bờ)
Áo dài còn là giấc mơ thanh bình của những làng quê hiền hòa trong tình ca quê hương của Phạm Duy:
Nằm mơ, mơ thấy trăm họ tốt tươi / mơ thấy bên lề cuộc đời / áo dài đùa trong tiếng cười… (Quê nghèo)
Áo dài lướt thướt như vạt áo của nàng Xuân trong thơ Trần Mộng Tú:
“Tôi gói xuân vào hai vạt áo
ngước nhìn mây trắng dạ mang mang” (Mẫu Đơn)
Áo dài bồng bềnh như dải trăng thu huyền ảo trong thơ Nghiêu Minh:
“Dấu thu kinh tự còn mê
Em mang tà áo bốn bề là trăng” (Thu vô lượng)
Kỷ niệm êm đềm về một tà áo, một đôi mắt huyền được Tô Vũ ghi lại bằng nét nhạc lâng lâng:
Em đến thăm anh / người em gái
Tà áo hương nồng / mắt huyền trìu mến sưởi ấm lòng anh… (Em đến thăm anh một chiều mưa)
“Ta ước mơ một chiều thêu nắng...”, nỗi “ước mơ” của chàng nhạc sĩ họ Tô ấy được vẽ lại trong những câu lục bát Trần Dạ Từ. Trong phút giây chờ đợi bước chân người tình khe khẽ đến bên hiên nhà, chàng tưởng chừng nghe được cả tiếng gió lay động vạt áo dài và tiếng lá nhẹ rơi bên thềm:
“Môi cười vết máu chưa se
cành hoa gạo cũ nằm nghe nắng hiền
Anh nằm nghe bước em lên
ngoài song lá động, trên thềm áo bay” (Khi nàng đến)
Áo bay làm gió lộng cả đường đi, làm… lay động cả trái tim chàng nhạc sĩ Tuấn Khanh:
Mỗi lần em về là gió lộng đường đi / Anh nhìn em bồi hồi trông theo tà áo… (Từ đó khôn nguôi)
Áo bay làm nhớ nhung, như nỗi nhớ da diết một mầu áo, một đôi môi thắm trong nhạc Từ Công Phụng:
Chiều nay nhớ em rồi / và nhớ áo em đẹp trời thơ / môi tràn đầy ước mơ… (Bây giờ tháng mấy)
Áo bay làm ngơ ngẩn, như chàng Huy Cận thuở mới lớn, trước cổng trường nữ sinh:
“Một hôm trận gió tình yêu lại
đứng ngẩn trông vời áo tiểu thư” (Học sinh)
Áo bay mất làm “cậu học trò” rụt rè Nguyên Sa phải hối tiếc vì một lời yêu chưa kịp nói:
“Nàng đến gần tôi chỉ dám... quay đi
Tà áo khuất, thì thầm: ‘Chưa phải lúc’” (Tuổi mười ba)
Áo bay trong nắng sân trường làm anh chàng làm thơ Kim Tuấn phải bâng khuâng:
“Áo chiều bay trong nắng
sân trường ai bâng khuâng” (Thu ở xa người)
Áo bay làm chàng thi sĩ đa tình Nguyễn Tất Nhiên phải thẫn thờ, dõi mắt nhìn theo mãi một tà áo vu quy:
“Đò qua sông chuyến đầu ngày
người qua sông mặc áo dài buông eo” (Chuyến đò Cửu Long)
Áo bay mịt mù theo gió theo mây, như cánh chim đã bay mất, như tình đã vụt bay trong thơ Như Thương:
“Thôi thì anh, cánh chim bay
Em tà áo mỏng theo mây nghìn trùng” (Vàng thu)
Áo trắng trinh nguyên tuổi học trò, áo trắng của “một thời áo trắng”, từng làm ngất ngây trái tim bao chàng trai, để đêm đêm trong giấc ngủ chập chờn còn trông thấy “áo ai bay trắng cả giấc mơ”.2
Áo trắng như dòng suối mát trong thơ Huy Cận:
“Dịu dàng áo trắng trong như suối
tỏa phát đôi hồn cánh mộng bay” (Áo trắng)
Áo trắng như lụa trắng trong thơ Hoàng Anh Tuấn:
“Áo em lụa trắng sông Hương
qua đò Thừa Phủ nhớ thương rạt rào” (Về chân trời tím)
Và trong thơ Nguyễn Tất Nhiên:
“Đài các chân ngà ai bước khẽ
quyện theo tà lụa cả phương đông” (Tháng Giêng, chim)
Và trong thơ Kim Tuấn:
“Em về tà áo lụa
bay ngập ngừng trong anh” (Thu ở xa người)
Và cả trong thơ Nguyên Sa:
“Guốc cao, gót nhỏ, mây vào gót
áo lụa trăng mềm bay xuống thơ” (Tám phố Saigon)
Áo trắng như gió, như mây, để “nhà thơ của tình yêu” phải bâng khuâng:
“Có phải em mang trên áo bay
hai phần gió thổi, một phần mây?
Hay là em gói mây trong áo
rồi thở cho làn áo trắng bay?” (Tương tư)
Áo trắng của nhà thơ còn là dải sương mù lướt thướt trên bến sông Seine giữa kinh thành hoa lệ Paris, gợi nhớ một vạt áo dài mềm mại nơi chốn xa quê nhà:
“Anh về giữa một dòng sông trắng
là áo sương mù hay áo em” (Paris có gì lạ không em?)
Áo trắng của Hoàng Thi Thơ là bướm trắng, là hoa trắng, là mây trắng…
Ngày nào em đến áo em mầu trinh / áo xinh là xinh
Áo em trong trời buồn / là gió / là bướm / là hoa / là mây chiều tà… (Hình ảnh người em không đợi)
Áo trắng một màu trắng thanh khiết trong nhạc Nguyễn Vũ:
Áo trắng em bay như cánh thiên thần… (Bài thánh ca buồn)
Áo trắng nhẹ bay trong chiều giáo đường trong nhạc Lê Trọng Nguyễn:
Tà áo trinh nguyên tung bay / nụ cười thân ái… (Chiều bên giáo đường)
Áo trắng một màu trắng xóa làm hoa cả mắt nhà thơ Hàn Mặc Tử:
“Áo em trắng quá nhìn không ra” (Đây thôn Vĩ Dạ)
Áo trắng như bài thơ trên những nhịp cầu chênh vênh đón bước ai qua trong thơ Y Dịch:
“Áo em trắng cả bài thơ
Cầu cong giữa nhịp chân chờ bước ai” (Tiễn đưa)
Áo trắng níu chân người trên đường phố dập dìu trong nhạc Phan Ni Tấn:
Nghe xôn xao thị thành / áo ai trắng bay mù lòng đường / làm rối bước anh về cõi thơ... (Sinh nhật của cây đàn)
Áo trắng không còn bay trên những đường phố cũ trong nhạc Phạm Anh Dũng:
Xa xôi ngàn khơi đâu tà áo trắng / Duy Tân im lìm phố vắng / thương cây lá hoang tàn… (Nhớ Saigon)
Áo trắng xôn xao mùa tựu trường trong thơ Đoàn Vị Thượng:
“Sáng nay áo trắng tựu trường
gót chân cuống quýt cả hương cúc vàng” (Ánh mắt tựu trường)
Áo trắng lượn lờ như đôi cánh trắng trong thơ Luân Hoán:
“Tà áo trắng xoè như đôi cánh lượn
trải dịu dàng trên cỏ mượt mà xanh” (Trong sân trường bữa ấy)
Áo trắng trên đường lá me bay và ánh mắt trông theo trong thơ Trần Huy Sao:
“Đường em về vàng rụng lá me trưa
anh ngơ ngẩn vời theo màu áo trắng” (Áo trắng học trò)
Áo trắng ngày xưa nay trôi dạt về đâu, để lại nỗi tiếc nhớ trong thơ Ngàn Sau:
“Tôi về Ban-mê-thuột chiều mưa
em ơi áo trắng bây giờ ở đâu?” (Nhớ Ban Mê)
Bao nhiêu là áo trắng trên sân trường kỷ niệm!…
Mỗi người đều cần có một mái trường để luyến tiếc, để nhớ về... Nhớ về ngôi trường cũ là nhớ về những người thầy, người bạn, nhớ về những lớp học, những giờ ra chơi, những tà áo mầu, áo trắng mềm mại và những tháng năm tươi đẹp nhất của một đời người.

Áo bay như bướm lượn, áo bay như đàn bướm muôn mầu muôn sắc trong khu vườn mùa xuân. Áo bay nhiều quá, để chàng nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ làm... thơ:
Hôm nay sao áo bay nhiều thế! / Tôi tưởng ngàn cánh bướm khoe mầu… (Tà áo cưới)
Áo mầu của Phạm Duy lất phất trong gió chiều như lòng người... phất phơ:
Xin cho em một chiếc áo mầu / cho em đi nhẹ trong nắng chiều
Một chiều nhiều người theo / ở ngoài đường trên phố / và lòng người như áo phất phơ… (Tuổi ngọc)
Nhớ về một mầu áo là nhớ về những đường phố quen tên, nhớ áo ai bay trong chiều trên những con đường ngập xác lá vàng, như nỗi nhớ ngút ngàn của Trịnh Công Sơn:
Nhớ Saigon những chiều lộng gió / lá hát như mưa suốt con đường đi
Có mặt đường vàng hoa như gấm / Có không gian mầu áo bay lên… (Em còn nhớ hay em đã quên)
Những tà áo muôn mầu muôn vẻ vẫn khoe sắc thắm trong những trang thơ và nhạc. Áo vàng trong thơ Nguyên Sa có khi là bông cúc vàng:
“Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc” (Tuổi mười ba)
Có khi là nắng thu vàng:
“Có phải mùa xuân sắp sửa về
hay là gió lạnh lúc đêm khuya?
hay là em chọn sai mầu áo
để nắng thu vàng giữa lối đi?” (Tương tư)
Áo vàng như cánh mai vàng trong nhạc Trần Thiện Thanh. Người lính trẻ thấy sắc hoa rừng, mơ về mầu áo năm xưa:
Những hôm vừa xong phiên gác chiều ven rừng kín hoa mai vàng
chợt nhớ tới sắc áo năm nào em đến thăm gác nhỏ… (Đồn vắng chiều xuân)
Người lính chiến trong nhạc Phạm Đình Chương cũng bâng khuâng vì một sắc hoa, một mầu áo, một đôi mắt người xưa:
Ngày hành quân anh đi về cánh rừng thưa / thấy sắc hoa tươi nên mơ mầu áo năm xưa
Kỷ niệm đầu len len trở về tâm tư / Có mắt ai xanh thắm trong mộng mơ… (Màu kỷ niệm)
Tà áo màu xác pháo để lại nỗi buồn lắng đọng trong thơ Nguyễn Tất Nhiên:
“Người qua sông mặc áo hường
Nắng dương gian, nắng buồn hơn trước nhiều” (Chuyến đò Cửu Long)

Áo mầu tím, mầu của “định mệnh”, của mộng mơ, của nhớ nhung và chia cách. Chuyện tình “ngàn thu áo tím” của cô bé trót yêu màu tím, được Hoàng Trọng, “nhạc sĩ của mầu tím”, kể lại:
Ngày xưa xa xôi em rất yêu mầu tím...
Chiều xuống áo tím thường thướt tha / bước trên đường thắm hoa / ngắm mây trời lướt xa…
Rồi khi vừa biết yêu là khi chia tay với mầu tím, chia tay với tình đầu:
Ngàn thu mưa rơi trên áo em mầu tím
Ngàn thu đau thương vương áo em mầu tím… (Ngàn thu áo tím)
Trong mắt Vũ Thành, “nhà thơ của mầu tím”, khi mùa thu buông áo xuống một phương trời, mầu mây tím trông như mầu áo người mình yêu để lòng chàng gợn lên nỗi buồn trăn trở:
“Áo em tím cả phương này
anh nghe thành phố đêm nay trở buồn” (Áo tím)
Vạt áo dài mầu tím hoa sim, trong thơ Phạm Thiên Thư, chỉ là thoáng lay động, vừa ngập ngừng e ấp vừa nao nức gọi mời:
“Áo em vạt tím ngàn sim
nửa nao nức gọi, nửa im lặng chờ
Yêu nhau từ độ bao giờ
gặp đây giả bộ hững hờ khói bay” (Động hoa vàng)
Rồi áo tím qua cầu, mang theo cả mùa thu, để lại nỗi trống vắng mênh mang trong lòng nhà thơ Trang Châu:
“Thế giới của anh không có chân trời
không có mùa xuân lấy đâu hoa bướm
không có bàn tay cho bàn tay hò hẹn
áo tím qua cầu nên cũng hết mùa thu” (Thế giới của anh)
Có những gặp gỡ rất tình cờ, bất chợt, như gặp gỡ một tà áo tím, cũng đủ để lòng chàng nhạc sĩ Hoàng Nguyên mãi vấn vương theo mầu áo:
Một chiều lang thang bên dòng Hương giang / tôi gặp một tà áo tím / nhẹ thấp thoáng trong nắng vương…
Rồi lòng bâng khuâng theo mầu áo ấy… (Tà áo tím)

“Nhạc sĩ của mầu xanh”, danh hiệu ấy có lẽ thuộc về hai chàng nghệ sĩ Đoàn Chuẩn–Từ Linh chứ chẳng ai khác hơn:
Với bao tà áo xanh đây mùa thu… (Gửi gió cho mây ngàn bay)
Câu hát nghe như bàn tay kéo nhẹ tấm màn cửa mở ra khung trời bát ngát mùa thu, bát ngát màu xanh.
Trong những dòng kẻ nhạc của hai chàng nghệ sĩ đa tình ấy vẫn luôn luôn thấp thoáng một “tà áo xanh” và một “màu xanh ái ân”:
Tà áo xanh nào về với giấc mơ / Mầu áo xanh là mầu anh trót yêu… (Thu quyến rũ)
“Trót”, như một định mệnh, buộc chặt người viết câu hát ấy với mầu xanh kia.
Hẹn một ngày nao khi mầu xanh lên tà áo… (Cánh hoa duyên kiếp)
Câu hát nghe như câu hẹn ước, như lời thề nguyền sắt son.
Khi nào em đến với anh / xin đừng quên chiếc áo xanh… (Tà áo xanh)
Còn lời dặn dò nào ân cần, thiết tha hơn thế nữa!
Nhớ về một mầu áo là “nhớ những giây phút êm đềm / nắng loang trên sân trường một chiều nào...” 4 Màu áo xanh trong thơ Nguyên Sa là màu cây cỏ xanh tươi trên sân trường phượng vỹ:
“Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường” (Tuổi mười ba)
Màu áo xanh trong nhạc Y Vũ & Nhật Ngân gợi nhớ một mái tóc, một tà áo thấm đẫm nước mưa:
Chiều xưa mưa rơi âm thầm / để thấm ướt chiếc áo xanh / và đẫm ướt mái tóc em… (Tôi đưa em sang sông)
Tà áo mầu xanh thắm của một “tiếng hát học trò” gieo vào lòng hai chàng nhạc sĩ Nguyễn Hiền, Minh Kỳ bao “niềm thương nhớ đầy vơi”:
Thuở ấy không gian chìm lắng trong mơ / Tà áo em xanh / mầu mắt ngây thơ… (Tiếng hát học trò)
Thiếu nữ vừa biết yêu trong nhạc Trần Thiện Thanh cũng bồi hồi khoác vào người chiếc áo mầu xanh da trời trong lần hò hẹn đầu tiên:
Biết anh thích mầu trời / em đã bồi hồi chọn mầu áo xanh… (Bảy ngày đợi mong)
Tà áo dài trong nhạc Nguyễn Văn Đông có màu xanh của rừng thông Đà Lạt một mùa nào Giáng Sinh:
Tà áo năm xưa xanh màu thông Đà Lạt… (Màu xanh Noel)
Áo xanh mộng mị còn bay cả vào trong thơ “trung niên thy sỹ” Bùi Giáng:
“Biển dâu sực tỉnh giang hà
còn sơ nguyên mộng sau tà áo xanh” (Áo xanh)
Áo xanh mộng mị của một thời quên lãng trong thơ Đinh Hùng:
“Trong vườn quên lãng áo ai xanh” (Dạ hội)

* * *

Làm sao kể hết được câu chuyện về những vạt áo dài dịu dàng và thướt tha, những vạt áo dài lộng gió trong thơ và nhạc. Tà áo dài mềm mại đã nhẹ nhàng êm ái đến với cuộc đời, nhẹ nhàng êm ái đi vào lòng người...
Bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu, dù ở chốn quê nhà gần gũi, hay ở phương trời nào xa thẳm, chiếc áo dài cũng mang theo bầu trời quê hương, cũng mang về mùa xuân ấm áp trong lòng người Việt tha hương. Chiếc áo dài còn là biểu tượng thân quen để người Việt nhận ra nhau trên bước đường lưu lạc trong cuộc sống nổi trôi nơi xứ lạ quê người.
Thấy một vạt áo dài, thấy quê hương xa xăm mà gần gũi.
Qua bao mùa tang thương dâu bể, qua bao nhiêu vật đổi sao dời, chiếc áo dài truyền thống, chiếc áo dài duyên dáng và trữ tình của người phụ nữ Việt Nam vẫn luôn luôn là hình ảnh khó phai mờ và còn đọng lại mãi trong lòng người.

Lê Hữu

1 Áo trắng, thơ Huy Cận
2 Phượng hồng, nhạc Vũ Hoàng & Đỗ Trung Quân
3 Hướng về Hà Nội, nhạc Hoàng Dương
4 Từ giã thơ ngây, nhạc Nguyễn Hiền & Minh Kỳ

Thứ Ba, 25 tháng 10, 2011

Phong tục Việt Nam xưa và nay

LỜI GIỚI THIỆU

Chúng tôi rất hân hạnh được gởi đến quý độc giả, thầy cô giáo và phụ huynh học sinh
đôi lời giới thiệu về cuốn sách Phong Tục Việt Nam Xưa và Nay, Tập I của nhiều tác giả, do
Câu Lạc Bộ Hùng Sử Việt xuất bản. Trong bối cảnh lịch sử của người Việt tị nạn cộng sản
sống tha hương, sự ra đời của cuốn sách về văn hoá này mang một ý nghĩa thật to lớn. Bên
cạnh hoạt đ ộng không mệt mỏi của các nhà giáo dục có tâm huyết trong cộng đồng người
Việt hải ngoại là dạy tiếng Việt và văn hoá Việt cho các em ở những trường Việt ngữ, các
hoạt động khác như xuất bản sách báo, truyền thông, văn nghệ, nghệ thuật, v.v. cũng đã
hỗ trợ mạnh mẽ trong việc góp phần truyền bá và bảo tồn ngôn ngữ và văn hoá Việt trong
thế hệ trẻ Việt Nam đang nối tiếp cha anh nơi xứ người.

Cuốn Phong Tục Việt Nam Xưa và Nay, Tập I, độc đáo ở chỗ đã cùng người đọc đi từ
những phong tục từ ngàn xưa của người Việt trong nước đến những phong tục mới nảy
sinh trong các cộng đồng người Việt hải ngoại. Cuốn sách về văn hoá này không những có
thể dùng để giáo dục con em của chúng ta về những giá trị tinh thần của dân tộc Việt, mà
còn để chính chúng ta là thế hệ đi trước có dịp học hỏi thêm về văn hoá nước nhà. Vì kho
tàng văn hoá Việt qua nhiều ngàn năm quá to lớn, chúng ta sẽ tìm thấy trong cuốn sách này
những điều chưa biết, hay một số chi tiết có thể giúp chúng ta giải toả những thắc mắc, sửa
đổi những nhầm lẫn trong kiến thức văn hoá của mình. Đây là một công trình khảo cứu khá
công phu do nhiều tác giả hợp soạn nên có nhiều văn phong và cách trình bày vấn đề khác
nhau, tạo nên một nét độc đáo cho tác phẩm. Cuốn sách có nội dung phong phú, cách giải
thích mạch lạc, ví dụ rõ ràng. Đặc biệt, phần so sánh, đối chiếu giữa phong tục Việt Nam và
những phong tục tương đương của Âu Tây, cũng như việc đối chiếu ngữ vựng giữa tiếng
Việt và tiếng Anh làm cho người đọc có thể hiểu rõ hơn về một số vấn đề nêu ra trong sách.

Sự đóng góp về văn hoá của cuốn sách này, cũng như của những công trình văn hoá
hay nghệ thuật khác trong cộng đồng người Việt hải ngoại, sẽ mang lại một hiệu quả tích
cực trong cuộc sống của tất cả chúng ta. Hiểu thêm được văn hoá của dân tộc, chúng ta sẽ
cảm thấy tự tin và tự hào về nguồn gốc, nhưng đồng thời cũng nảy sinh lòng tôn trọng văn
hoá của người dân bản xứ nơi chúng ta sinh sống, cũng như văn hoá của những cộng đồng
di dân khác đang cùng chung sống với cộng đồng Việt.

Thế giới chúng ta đang sống đang dần thu hẹp lại như một ngôi làng nhỏ, đó là nhờ
những phương tiện kỹ thuật và truyền thông tân kỳ giúp thu ngắn khoảng cách về địa lý.
Tuy nhiên, sự thông hiểu về văn hoá của chính mình cũng như sự hiểu biết và tôn trọng văn
hoá của những dân tộc khác trên thế giới mới chính là yếu tố giúp thu ngắn khoảng cách
giữa những trái tim của tất cả mọi người cùng chung sống trên địa cầu.

California, 15 tháng 9, 2011
GS Trần Chấn Trí
University of California, Irvine

FOREWORD

It gives me great pleasure to write a foreword to this book—and recommend it to
readers, teachers, and parents—Phong Tục Việt Nam Xưa và Nay, Tập I (Vietnamese
Customs Then and Now, Volume I), written by multiple authors and published by The
Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation. In the historical background
of the Vietnamese political refugees living abroad, the publication of this cultural book is
indeed of great significance. Alongside the untiring activity of many a zealous educator in
the Vietnamese communities in teaching the Vietnamese language and culture to children in
language schools, other activities in publishing, communication, performing arts, fine arts,
etc. have provided valuable assistance in contributing to disseminate and preserve our
language and culture among the younger generation in their succession of the older
generation living in foreign lands.

Phong tục Việt Nam Xưa và Nay, Vol. I, is unique in that it accompanies the reader from
the thousand-year-old customs of the Vietnamese people in their country to the newly
formed customs among the Vietnamese communities living abroad. Not only can this cultural
book be utilized to teach our offspring about the spiritual values of the Vietnamese people, it
is also for us—the foregoing generation—to learn more about our culture. Because our
thousand-year-old cultural treasure is so vast, we shall find in this book many things that we
did not know about, as well as numerous details that can help us either to clarify some
doubts or to rectify a few misunderstandings in our cultural knowledge. This elaborate work,
completed by several authors, offers various styles and forms of presentation, thus creating
a unique feel to the book. It has rich contents, coherent and clear explanations, and
concrete examples. In particular, the comparison and contrast between the Vietnamese
customs and the similar customs of the Western world, as well as those between Vietnamese
and English glossaries do help the reader understand better a great number of issues
raised in the book.

The contribution of the book in terms of culture, hand in hand with other cultural and
artistic works in the Vietnamese communities abroad, will bring about a positive effect in our
lives. By better understanding our own culture, we will become more confident and feel
proud of our origins. At the same time, we can also learn to respect the cultures of the local
people and other immigrant communities that are coexisting with ours.

The world we are living in is gradually becoming as small as a village, thanks to the
modern technologies and means of communication that help shorten geographical
distances. Nevertheless, it is the understanding of one’s own culture, combined with our
respect for those of other peoples, that serves as an element to help reduce the distance
between the hearts of all people living together on our planet.

Tri C. Tran, Ph.D.
University of California, Irvine
September 15, 2011

Đêm của biển đầy, biển rộng…

Kính gửi thầy Song Thuận, cô Bích Huyền, chú Xuân Chung, đài VHN, quý thành viên Hùng Sử Việt và các anh chị trong các hội đoàn góp mặt trong đại nhạc hội Hùng Sử Việt VIII:

Đêm nay, sau khi hòa cùng mọi tâm hồn của chương trình và ban tổ chức suốt chiều và tại Emerald Bay với tình thân của mọi người, cháu không ngủ được ạ! Cơn tỉnh táo cần thiết cho chuỗi dài cảm xúc cháu mượn vay và có được trong suốt một quá trình, hay nói đúng hơn là “công cuộc” đầy hoài bão của Hùng Sử Việt trong 11 năm qua và 8 kỳ đại nhạc hội. Chiều qua, chỉ là những bước chập chững đầu tiên của chúng cháu – mà chợt hiểu rằng: Trước đó và sau đó, là một quá trình dài, bền bỉ và dày công…

Cháu chạy ùa ra biển Seal Beach để tìm về lòng bao dung - hệt tựa lòng Mẹ.

Cháu chân thành cảm ơn thầy Song Thuận, cô Bích Huyền và MC Uyển Diễm, chú Xuân Chung và mọi tấm lòng của ban tổ chức đã cho cháu dịp trở về với cội nguồn một cách rõ nét sau hơn 20 năm xa. Tất nhiên trong hơn 20 năm đó, cháu cũng tìm về đó hoặc đây những mảng, những đoạn chấm phá qua âm nhạc, qua sách báo, internet và những câu chuyện kể! Nhưng chính Hùng Sử Việt và những tấm lòng quấn quyện với tiêu chí Hùng Sử Việt đưa ra, mới kích thích sự “quay về” với cội nguồn, với lịch sử, với nhân vật, địa danh một cách rõ ràng và khoa học nhất! Những emails ân chần chia sẻ, những bản nhạc, thi ca và những đoàn kết giữa người và người trong sinh hoạt Hùng Sử Việt đã cho cháu …tìm về và nhận ra một điều khá muộn màng: Đó mới là trách nhiệm đích thực và nhân bản nhất của bất cứ người Con đất Việt nào, bất luận đang sinh sống nơi đâu.

Hùng Sử Việt đã nhắc nhở chúng cháu điều đó – nhắc nhở một cách chính xác, chắc nịch! Hùng Sử Việt - là "cây Quế giữa rừng" của tâm hồn thế hệ chúng cháu ạ!

Những tự hào dân tộc, những chi tiết đã được êm ả dìu dắt qua Thầy Song Thuận, Cô Bích Huyền, ban tổ chức .v.v…Chúng cháu, thế hệ sau (góp mặt trong chương trình lần này) thật may mắn khi được thừa hưởng và dạy bảo (đôi khi chỉ qua ánh mắt). Con đường ấy thật phẳng lặng và dễ dàng! Chiều qua, Uyển Diễm và cháu chỉ làm công việc giản đơn còn lại là nối kết các tiết mục với nhau sao cho nhịp nhàng. Chương trình thành công là nhờ vào sự dìu dắt đó, tình đoàn kết đó của bất cứ ai được hòa vào! Cháu rất tự hào cho một sản phẩm chung mà chính cháu cũng được hòa vào.

Hạnh phúc nhất là thời gian được nhìn ngắm mọi đoàn thể hăng say tập dợt …Hạnh phúc không nằm ở cuối đoạn đường (sự thành công, vui vầy chiều qua) – mà là tinh thần mọi người đặt để khi còn ấp ủ, tập tành và lan tỏa! Không lan tỏa sao được khi không chỉ một, không chỉ hai mà là ba thế hệ cùng gặp gỡ nhau trong các buổi dợt, trang phục, viết lách, đạo cụ, trình diễn như thế! Ai nhìn trông cũng sáng thêm, nhân văn thêm khi họ cùng nhau làm nên những tiết mục trong 18 tiết mục ấy! Đã chứng kiến những Bố Mẹ cầm tay con cái, Ông Bà cầm tay con cháu giảng giải cho chúng thêm từng li ti của một “Hùng Sử Việt” khi chúng ngơ ngác chưa hiểu – thiêng liêng quá cái khúc đoạn đường Brookhurst chiều qua khi có một buổi trình diễn đầy tính reo rắc, hùng hồn và thương yêu.

Cháu đã từng chứng kiến những tâm hồn lạc loài người Việt sống ở các tiểu bang xa, thành phố chẳng ai để ý tới (ví dụ: Liberal, Kansas) – nơi có National Beef Company – lạnh lẽo (Hạ cũng lạnh mà ngày Đông còn lạnh hơn đến tê lòng). Vì mưu sinh họ phải làm vất vả trong cái lạnh ấy quanh quẩn để mỗi đêm về họ tìm vui qua những bộ phim dài Trung Hoa, Hàn Quốc dài tập! Trong họ, dù chẳng muốn, chất “Hùng Sử Việt” đã đang mai một dần…

Cần lắm những chương trình như Hùng Sử Việt kỳ VIII, qua thể cách đại nhạc hội tại VHN-TV, hay qua sản phẩm DVD như cháu hiểu đang có ý định thực hiện để đan kết mọi người trong khu vực và khắp mọi nơi hướng về nguồn cội và hãnh diện với nguồn cội đầy hào hùng đấy! Sự chắt lọc của Thầy Song Thuận, Cô Bích Huyền và ban tổ chức, cháu tin sẽ đưa ra những sản phẩm giá trị và thuyết phục lắm ạ! Làm sao không, khi sản phẩm này (khác với các sản phẩm kinh doanh, thương mại kia) được thực hiện bởi chính mọi đoàn thể và chinh chúng ta – khi con cháu nhìn vào, chúng phải tự nhận ra cái bổn phận tìm về của chúng!

Rồi chúng ta sẽ ra đi (chỉ một chiều lê thê, co mình trên ghế)…Thế hệ con cháu sẽ ra sao…khi không có một hoặc những “Hùng Sử Việt” như chiều qua…

Cháu ấm lòng và yên tâm khi biết rằng mình đang được sống trong một cộng đồng tử tế!

Kính chúc sức khỏe và bình an …

MC Đại Dương