Thứ Hai, 20 tháng 2, 2023

Ai Đang Viết Sử Cho Chúng Ta?

 Ai Đang Viết Sử Cho Chúng Ta?

Phỏng Vấn Giáo sư-Trần Nữ Anh Một Trong Hai Chủ Biên

Sách Giáo Khoa “Xây Dựng Một Quốc Gia Cộng Hòa 1920-1963”

LTG: Không chỉ là những danh tướng, các khoa học gia, các bác sĩ, kỹ sư trong các ngành khoa học đã và đang làm dạng danh cộng đồng người Việt Hải Ngoại của chúng ta, các Tiến sĩ, Giáo sư, các nhà nghiên cứu trẻ người Mỹ Gốc Việt trong các ngành nhân văn, đặc biệt là sử học, chính trị học cũng đã và đang làm sáng dần lý tưởng của chúng ta trên những trang sử của người Việt tự do trong gần một thế kỷ qua đã bị bóp méo, bôi đen bởi giới thiên tả và CSVN. Họ đang thay chúng ta để làm công việc khó khăn này, họ đang cần sự hỗ trợ của chúng ta.

Tháng 10 năm 2019, Gs Tường Vũ, trưởng Khoa Chính Trị học và còn là giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Việt Mỹ tại Đại học Oregon đã mời Hội VAHF đến tham dự và thực hiện cuộc triển lãm về chương trình Lịch sử Truyền Khẩu VIDDA (Vietnamese Diasporas Digital Archives) tại Hội Thảo dài hai ngày quy tụ trên 100 các giáo sư Việt Mỹ và từ nhiều quốc gia khác, nghiên cứu sinh, nhà biên khảo và đồng hương quan tâm đến lịch sử người Việt tự do đã và đang được phổ biến và giảng dạy một cách sai sót và xuyên tạc trên báo chí, phim ảnh, sách giáo khoa. Trong dịp này, chúng tôi hân hạnh được gặp gỡ những giáo sư, tiến sĩ, nhà nghiên cứu trẻ người Mỹ Gốc Việt, họ rất trẻ, cả trai lẫn gái xinh đẹp, thông minh, trí thức. Có những người còn trong tuổi 20, 30, 40…Những người trẻ này đã và đang miệt mài tìm kiếm sự thật về lịch sử của cha anh mình.

Với sự hướng dẫn đầy kinh nghiệm của Gs Tường Vũ,  17 người trong số họ trở thành tác giả của hai cuốn sách sử giáo khoa về Lịch sử Người Việt tự do, do  hai nhà xuất bản sách giáo khoa Hawaii University Press và Temple University Press in ấn và Trung tâm Nghiên cứu Việt Mỹ vừa phát hành vào cuốn năm 2022 và đầu năm 2023:

“BUILDING A REPUBLICAN NATION IN VIETNAM, 1920-1963” và

“TOWARD A FRAMEWORK FORVIETNAMESE AMERICAN STUDIES: HISTORY, COMMUNITY, MEMORY”

Trong loạt bài “Ai Đang Viết Sử Cho Chúng Ta?”, chúng tôi đã phỏng vấn Gs Tường Vũ và Gs Alex Thai Võ. Xin xem Linh dưới đây:Báo Người Việt Boston:  https://nguoivietboston.com/?p=27252

Vietbao. com: https://vietbao.com/a314903/ai-dang-viet-su-cho-chung-ta-phong-van-giao-su-alex-thai-vo

Hôm nay chúng tôi rất hân hạnh giới thiệu Tiến sĩ Giáo Sư Trần Nữ Anh, đang giảng dạy môn sử tại Đại học Connecticut, cô là một trong hai chủ biên của sách sử “ Xây Dựng Một Quốc Gia Cộng Hòa tại Việt Nam 1920-1963”

 ( BUILDING A REPUBLICAN NATION IN VIETNAM, 1920-1963) . Xin xem tiểu sử chi tiết của cô qua link được đăng tải trên website của Đại học Connecticut. https://history.uconn.edu/person/nu-anh-tran/

Và xin mời quý độc giả theo dõi cuộc phỏng vấn đầy thú vị dưới đây:

 SINH Ở SÀI GÒN QUA MỸ TỊ NẠN KHI CÒN BÉ

Triều Giang: Xin Gs. cho biết vài dòng tiểu sử?

Gs Trần Nữ Anh: Tôi sanh ở Saigon, tỵ nạn qua Mỹ lúc còn bé. Gia đình tôi định cư ở Seattle, tiểu bang Washington. Tôi học tiến sĩ ở Đại học Berkeley chuyên ngành lịch sử Đông Nam Á, rồi dạy ở Đại học Connecticut (University of Connecticut) từ năm 2014 trở đi. Năm ngoái, tôi xuất bản cuốn sách đầu tay lấy tựa là Disunion: Anticommunist Nationalism and the Making of the Republic of Vietnam (tạm dịch là Quốc Cộng Phân Tranh, Quốc Gia Phân Hoá: Nứt Rạn Trong Việc Hình Thành Chế Độ Việt Nam Cộng Hoà, University of Hawaii Press), viết về chính trị thời Ngô Đình Diệm. Đến cuối năm 2022, cuốn Building a Republican Nation in Vietnam, 1920-1963 (Xây Dựng Một Quốc Gia Cộng Hòa Tại Việt Nam, 1920-1963, University of Hawaii Press) ra mắt độc giả. Cuốn nầy tuyển tập các bài nghiên cứu xu hướng cộng hòa ở Việt Nam.

Triều Giang: Lý do khiến Gs. nhận lời làm đồng chủ biên với Gs. Tường Vũ sách sử: “BUILDING A REPUBLICAN NATION IN VIETNAM, 1920-1963” (Xây Dựng Một Quốc Gia Cộng Hòa Tại Việt Nam, 1920-1963)?

Gs Trần Nữ Anh: Mùa thu năm 2019, anh Vũ Tường mời tôi tham dự hội nghị ở Đại học Oregon về xu hướng cộng hòa ở Việt Nam. Tôi rất thích chủ đề và nhận thấy các bài thuyết trình đều xuất sắc. Nên tôi rất vui lòng nhận lời làm đồng chủ biên. Anh Tường là bậc đàn anh của tôi trong giới học giả, có nhiều kinh nghiệm hơn tôi, nên tôi cho rằng đó là cơ hội học hỏi rất quý.

Triều Giang: Những thuận lợi và thách đố khi viết cuốn sử này? Và thời gian Gs đã phải dành cho việc viết cuốn sách?

Gs Trần Nữ Anh: Thuận lợi đáng kể nhất có lẽ là sự hướng dẫn của anh Tường vì trước đây tôi chưa có kinh nghiệm biên soạn.

 Còn trở ngại lớn nhất là dịch covid. Nạn covid đến đầu mùa xuân năm 2020 trong khi chúng tôi soạn bản thảo và các tác giả mới bắt đầu sửa bài. Chỉ trong vài tuần thư viện các nơi đều ngưng hoạt động, không cho mượn sách. Mà không có sách tài liệu thì làm sao sửa bài được? Các tác giả đều là giáo sư đại học, phải lập tức chuyển sang dạy trên mạng. Ai có con nhỏ phải vừa dạy học, vừa giữ con. Vì dịch covid mà công việc bị chậm trể chút ít.

Tôi không nhớ rõ thời gian dành cho cuốn sách vì công việc không liên tục. Tổng cộng lại thì hình như mất khoảng 6 tháng.

   

image.png image.png

       

Hình trái: Bìa của sách sử đầu tiên. Hình phải: Bìa sách đồng chủ biên với Gs. Vũ Tướng

HÀNG NGÀN TÀI LIỆU GỐC TỪ NHIỀU NGUỒN KHÁC NHAU

Triều Giang: Chúng tôi đọc thấy sách đã tham khảo gần 1,000 tài liệu và những cuốn sách đã xuất bản (808 tài liệu), xin Gs. cho biết những tài liệu này đã được chọn theo tiêu chuẩn nào?

 Gs Trần Nữ Anh: Sách sưu tập các bài nghiên cứu hay nhất về thời điểm 1920-1963 đã được trình bầy trong cuộc hội nghị ở Đại học Oregon. Mỗi tác giả lựa tài liệu theo tiêu chuẩn của môn học của mình, nên tôi chỉ có thể trả lời riêng về bài nghiên cứu của tôi thôi (chương 5).

 Bài của tôi về sự chuyển tiếp năm 1955-1956 từ chế độ Quốc Gia Việt Nam đến chế độ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và các tranh luận giữa chính quyền Ngô Đình Diệm và giới đối lập chính trị. Theo nguyên tắc, nghiên cứu lịch sử phải dùng tại liệu gốc (primary sources), tức tài liệu từ chính thời điểm mình nghiên cứu. Chẳng hạn hồ sơ chính quyền, sách báo xưa, nhật ký, thư từ, hoặc lời tường thuật của nhân chứng (phỏng vấn, hồi ký, v.v.).

 Trước đây, các học giả Tây phương thường dựa theo tài liệu của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ mà viết vắn tắt về sự chuyển tiếp năm 1955-1956. Tài liệu gồm có thư từ và điện tín của Tòa Đại Sứ Mỹ ở Saigon gởi về Hoa Thịnh Đốn kể lại những diễn biến chính trị và các cuộc đối thoại giữa nhân viên ngoại giao Mỹ và chính khách Việt Nam. Hồ sơ đó nay được lưu trữ ở Nha Văn Khố Quốc Gia Hoa Kỳ (National Archives and Records Administration) tại thành phố College Park, tiểu bang Maryland. Tôi cũng dùng hồ sơ của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ như các học giả khác, nhưng tôi lại phối hợp với sử liệu Việt Nam. Trước hết, tôi về Saigon xem hồ sơ của Phủ Thủ Tướng Quốc Gia Việt Nam, Phủ Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa, và Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng. Chính quyền VNCH theo dõi hoạt động của phe đối lập nhưng tin tức có khi không xác thực, nên phải đối chiếu với tài liệu khác. Tôi qua Thư Viện Quốc Gia cũ (nay là Thư Viện Khoa Học Tổng Hợp) xem nhật báo, tuần báo của các chính đảng để hiểu đường lối chính trị của phe đối lập. Chẳng hạn báo Việt Chính và Thời Đại của Việt Nam Phục Quốc Hội (Cao Đài Tây Ninh, Nguyễn Thành Phương, Nguyễn Thành Danh, Hồ Hán Sơn), báo Quốc Gia của Mặt Trận Quốc Gia Kháng Chiến (Cao Đài Liên Minh, Trình Minh Thế, Nhị Lang), báo Quần Chúng của Đảng Dân Xã (Hòa Hảo, Nguyễn Bảo Toàn). Ở miền Nam lúc đó, Đảng Đại Việt và Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ) chưa có cơ quan ngôn luận chính thức ngoài tờ Đuốc Việt của Đại Việt. Tôi đọc thêm báo Cách Mạng Quốc Gia (Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia, phe Ngô Đình Diệm) và Con Đường Chính Nghĩa tuyển tập diễn văn của Ngô Đình Diệm để hiểu tư tưởng và lập luận chính trị của chính quyền. Ngoài ra, tôi xem thêm hồi ký và sách nghiên cứu của các nhân vật lịch sử như Cao Văn Luận, Đoàn Thêm, Huỳnh Văn Lang, Nguyễn Long Thành Nam, Nhị Lang, và Phạm Văn Liễu. Tôi tiếc rằng vì thì giờ giới hạn, tôi không có dịp phỏng vấn các chính khách còn sống hoặc qua Pháp đọc tài liệu.

CỘNG HÒA HAY CỘNG SẢN, AI CÓ TRƯỚC?

Triều Giang: Điều gì khiến Gs. hài lòng về cuốn sách hơn cả? Và điều gì Gs nghĩ rằng sẽ mở ra cho những tranh luận hay bổ túc? Vì sao?

Gs Trần Nữ Anh: Tôi rất hài lòng với đề tài và lập luận cuốn sách. Trước kia, nhiều người ngoại quốc cho rằng chủ nghĩa cộng sản là chủ nghĩa quan trọng nhất trong lịch sử Việt Nam hiện đại, còn chế độ VNCH được tạo nên nhờ bàn tay của Mỹ. Nhưng gần đây, nhiều học giả tranh luận rằng chủ nghĩa cộng hòa (republicanism) đã thịnh hành trong giới trí thức và các tổ chức cách mạng thời Pháp thuộc. Chủ nghĩa cộng hòa là tư tưởng dân chủ qua ảnh hưởng của tư tưởng cách mạng Pháp và chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Dật Tiên và cách mạng Tân Hợi ở Trung Hoa. Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu (sau 1912) đều theo chủ nghĩa cộng hòa. Tự Lực Văn Đoàn và VNQDĐ cũng vậy. Mãi đến thập niên 40, 50 thì chủ nghĩa cộng sản mới từ từ lấn át chủ nghĩa cộng hòa. Cuốn sách của chúng tôi tuyển các bài nghiên cứu về tư tưởng, chính trịnh, và kinh nghiệm xây dựng một quốc gia cộng hòa từ thời thuộc địa đến thời Ngô Đình Diệm. Mục đích chứng minh rằng chính những xu hướng chính trị Việt Nam chứ không phải xu hướng ngoại lai đã đưa đến sự hình thành của xã hội và chế độ VNCH. Tôi mong cuốn sách sẽ khuyến khích các nhà học giả tiếp tục nghiên cứu VNCH và chủ nghĩa cộng hòa.

Triều Giang: Theo ý kiến của Gs. thì cuốn sách sẽ giúp sinh viên, học sinh, các giáo sư dùng để giảng dậy và nghiên cứu ra sao?

Gs Trần Nữ Anh: Tôi mong cuốn sách sẽ giúp các bạn đồng nghiệp soạn bài giảng. Các thầy cô dạy về Việt Nam, Đông Nam Á, chiến tranh Việt Nam, hoặc cộng đồng người Mỹ gốc Việt có thể lựa một hai chương cho sinh viên đọc và bàn cãi. Sinh viên cao học có thể đọc lời giới thiệu của Vũ Tường và tôi và chương thứ nhất của Peter Zinoman để hiểu căn bản về xu hướng cộng hòa trong giòng lịch sử Việt Nam.

TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ VỀ VNCH

Triều Giang: Trong phần kết luận của cuốn sách Gs. và Gs. Tường Vũ đã viết;” Các di sản của Cộng hòa miền Nam vẫn chưa được khám phá đầy đủ. Là những học giả về thời đại, có lẽ đã đến lúc chúng ta nên làm như vậy”,  Gs.sẽ còn tiếp tục nghiên cứu hay viết sách về lịch sử Người Mỹ Gốc Việt trong tương lai không?

 Gs Trần Nữ Anh: Tôi tiếp tục nghiên cứu lịch sử VNCH chứ không phải cộng đồng người Mỹ gốc Việt sau 1975. Nhưng phải hiểu lịch sử VNCH thì mới hiểu được cộng đồng của chúng ta. Những khuynh hướng chính trị, văn hóa, xã hội trong cộng đồng đều bắt nguồn từ trước 1975.

LỊCH SỬ VÀ THỜI SỰ: “MÌNH THUA NHƯNG MÌNH ĐÃ THẮNG”

Triều Giang: Lịch sử và thời sự. Theo sách, Gs. và Gs. Tường Vũ đã giải thích rất rõ về Cộng đồng người Mỹ Gốc Việt là một cộng đồng Người Việt Quốc gia chống công, họ sống và tin tưởng vào tinh thần của chủ nghĩa Cộng hòa. 48 năm qua, tinh thần này thể hiện rất rõ qua những sinh hoạt của họ, nhưng những năm mới đây, có những người, phần đông là mới từ VN sang sau này, hoặc vì di cư theo diện kinh tế, hoặc đi du học rồi tìm cách ở lại hoặc được gia đình bảo lãnh và nhất là nhân viên và gia đình của các tòa đại xứ VN đã đứng ra nhận là cộng đồng người Việt gốc Canada, gốc Úc…gây ra những tranh chấp về danh xưng và tính cách đại diện trước chính quyền sở tại và với các cộng đồng khác, đơn cử là trong dịp Tết Quý Mão vừa qua tại Toronto, Canada và Melbourne, Úc châu đã có hai nhóm người tổ chức hội chợ mừng Xuân và xưng danh là công đồng Người Canada gốt Việt và người Úc Gốc Việt, nhưng họ không treo cớ vàng ba sọc đỏ biểu tượng cho người Việt tị nạn, theo Gs. thì tương lai của cộng đồng người Việt Quốc gia sẽ phải đối diện với những thách thức ra sao và Gs có giải pháp nào để cho cộng đồng người Việt Quốc gia khắp nơi trên thế giới hay không, bởi vì theo tôi được biết các cộng đồng người Việt Quốc gia sống tại các nước nhỏ hơn đã phải đối diện với vấn nạn đã khá lâu?

 Gs Trần Nữ Anh: Những chuyện thời sự ngoài lãnh vực chuyên môn của tôi, nhưng tôi ráng trả lời câu nầy cho Triều Giang vui lòng.

Tôi cho rằng chính trị Việt Nam đã có sự phân hóa giữa chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa quốc gia cộng hòa (republican nationalism) trong những thập niên 20, 30, 40, 50. Sự phân hóa đó đã có hậu quả lâu dài, từ chiến tranh 1954-1975 đến sự đối nghịch giữa chính quyền Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) và người Việt tỵ nạn cộng sản ở hải ngoại sau 1975. Đến nay lại thấy có hai cộng đồng Việt Nam sống song song với nhau ở Mỹ, Canada, Úc, v.v., một bên hướng về CHXHCNVN, bên kia vẫn còn lưu luyến VNCH.

Cộng đồng người Mỹ gốc Việt thường cho rằng chúng ta ở thế yếu vì ta đã thua trận. Nhưng chúng ta lại quên rằng mình đã thành công về mặt khác. Cộng đồng của chúng ta dã duy trì văn hóa VNCH ở hải ngoại trên bốn mươi năm nay, duy trì văn hóa mà không cần sự hướng dẫn của bất cứ chính quyền nào. Chúng ta làm được điều đó vì văn hóa của chúng ta phong phú, có một sức thu hút mãnh liệt. Chúng ta vẫn thích nghe nhạc tiền chiến và nhạc thời VNCH, thích đọc văn chương trước 75. Ngay ở Việt Nam “nhạc vàng” vẫn được ưa chuộng. Nhưng ngược lại ở hải ngoại ít ai tự ý nghe “nhạc đỏ” của Bắc Việt, tự ý đọc văn chương xã hội chủ nghĩa thời chiến. Văn hóa VNCH thu hút đồng bào vì nó phong phú. Mà nó phong phú chính vì nó được phát triển dưới một chế độ có chút tự do dân chủ, dù quyền tự do bị giới hạn, dù nền dân chủ còn trong giai đoạn phôi thai.

Vậy chúng ta hãy cố gắng duy trì và phát huy tất cả những cái đẹp, cái hay của cộng đồng chúng ta thay vì lo đối phó với cộng đồng kia. Người Mỹ gốc Việt nên gìn giữ tiếng nói và truyền thống của dân tộc Việt Nam, học hỏi văn chương và lịch sử của mình, để phát huy văn hóa. Chúng ta nên củng cố dân chủ ở đất Mỹ, bảo vệ dân quyền, tôn trọng quyền tự do của mọi người. Chúng ta phải ủng hộ những chính sách nâng đỡ dân tỵ nạn và dân nghèo vì nhờ những chính sách ấy mà ta mới có ngày hôm nay. Cái đẹp của văn hóa mình có sức mạnh mà không đảng phái nào, chính quyền nào tiêu diệt được. 

SAY MÊ VĂN CHƯƠNG VÀ LỊCH SỬ TỪ BÉ

TrIều Giang: Vì sao Gs. chọn ngành học về lịch sử, nhân văn hay về nhân chủng học? Khi có quyết định này thì gia đình có đồng ý và ủng hộ không?

Gs Trần Nữ Anh: Tôi đã có khuynh hướng theo đuổi những môn nhân văn từ nhỏ. Tôi say mê văn chương, rồi sau đổi qua môn sử. 

Tôi thường hỏi ba mẹ, thầy cô về chiến tranh Việt Nam, nhưng không hài lòng với những câu trả lời. Sách sử trong thư viện cũng không đầy đủ. Năm tôi học lớp 12, thầy dạy sử khen bài của tôi viết về Cuba và khuyến khích tôi hãy trở thành sử gia. Từ đó, tôi quyết chí nghiên cứu lịch sử Việt Nam để giải đáp thắc mắc. Lên đại học, tôi làm công tác xã hội dạy tiếng Anh cho người Việt mới sang. Tôi thấy dạy học thật là hào hứng, nên muốn làm giáo sư.

Gia đình tôi hoàn toàn ủng hộ sự quyết định của tôi. Ba mẹ tôi đều làm báo trước 75, nên rất trọng môn nhân văn, không bao giờ ép các con học bác sĩ, kỹ sư, luật sư, v.v.

NGÀNH SỬ KHÓ HỌC NHƯNG MỤC ĐÍCH THÌ CAO CẢ

 Triều Giang: Cô có điều gì muốn nói với những người trẻ cũng muốn theo ngành nghề nghiên cứu, giảng dạy và viết sử? Những thuận lợi và khó khăn khi theo đuổi ngành nghề này?

 Gs Trần Nữ Anh: Muốn theo ngành nghiên cứu, giảng dạy ở bậc đại học thì rất khó, nhưng tôi cho rằng ngành nầy có mục đích cao cả. Mục đích của việc nghiên cứu là tạo nên kiến thức mới, đóng góp vào kho tàng văn hóa chung của nhân loại. Còn giảng dạy và viết sách là để phổ biến kiến thức. Nói riêng về môn Việt Nam học thì ngành nầy lại thêm ý nghĩa. Tôi muốn viết lịch sử của cộng đồng mình. Người Mỹ gốc Việt thường chỉ trích các lập luận sai lầm về chiến tranh Việt Nam trong sách báo, phim ảnh ngoại quốc. Vậy chúng ta phải cố gắng viết lịch sử của chính mình, đừng giao phó cho kẻ khác. Tôi dạy đại học để phổ biến kiến thức lịch sử trong giới trẻ. Tuy tiểu bang Connecticut không đông dân Việt, những mỗi năm trong lớp học tôi dạy khoảng 5-10 sinh viên người Mỹ gốc Việt. Các em không có ý định nghiên cứu lịch sử nhưng thường nói với tôi rằng nhờ học với tôi mà các em hiểu thêm về kinh nghiệm của cha mẹ, ông bà.

Ngành nầy có nhiều lợi điểm đặc biệt. Tôi có nhiều cơ hội về Việt Nam, thăm bà con, tìm hiểu văn hóa, trau dồi tiếng mẹ đẻ. Trong công việc nghiên cứu, tôi đọc biết bao nhiêu hồi ký, tiểu thuyết, truyện ngắn, tạp chí, báo chí Việt ngữ. Nói thẳng ra là tôi được lãnh lương đọc tài liệu và trau dồi tiếng Việt. Vậy thì lý tưởng quá rồi!

Nhưng muốn trở thành giáo sư đại học thật là vất vả. Học đại học 4 năm, cao học và tiến sỹ từ 6 đến 10 năm, rồi mất thêm vài năm kiếm việc làm… nếu may mắn kiếm được việc. Tôi khuyên những người trẻ muốn theo ngành nghiên cứu, giảng dạy phải kiên trì. Nếu thích môn Việt Nam học thì phải cố gắng học tiếng Việt, nhất là biết nói và đọc, và nên về Việt Nam cho sớm để làm quen với nơi mình nghiên cứu trong tương lai.

Triều Giang: Chân thành cám ơn Gs. đã cho phép chúng tôi phỏng vấn đầy thú vị hôm nay.

Triều Giang



Chủ Nhật, 30 tháng 10, 2022

Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ đến D.C

 Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ đến D.C

Thưa quý trưởng thượng, qúy bằng hữu:
Hôm 25 tháng 10, 2022, bạn Đặng Văn Thụ gọi tôi, anh nói rằng Cha Lễ đã tới nhà anh.  Thật vậy sao? Cha Lễ từ New Zealand qua rồi à? Để tôi qua ngay. Tôi thân cha Lễ, không bởi đi tù trại Cổng Trời với Cha. Không bởi gan dạ, bất khuất vượt ngục như Cha, mà cũng không bởi là một con chiên ngoan đạo đến bên Cha, mà tôi chính hiệu là một anh phật tử thương cha với lý do giản dị, tôi bạn học với anh Thụ từ thuở lớp nhì, anh ruột của Thụ là dân biểu Tiếp, đi tù cùng trại Cổng Trời (Gate to Heaven), anh Tiếp kiên cường, nhân cách và can đảm đã cùng Cha Lễ vượt ngục, nhưng không thoát, bị tên Bùi Đình Thi, một con chiên Công Giáo, cũng bị đi tù làm “ăng ten” cho VC, đã đánh chết dân biểu Tiếp và đánh gần chết Cha Lễ. Sự thật thì bọn Cộng Sản đã đánh gần chết những người tù, và tên Bùi Đình Thi đã tâng công đánh hôi thêm làm thiệt mạng dân biểu Tiếp. Cảm kích tấm lòng gan dạ và đồng chí hướng, Cha Lễ đã nhận ông Tiếp làm anh tinh thần, rửa tội cho ông, vô tình ông Thụ, hơn Cha một tuổi cũng được làm anh tinh thần của cha Lễ. Và thằng tôi được dây máu ăn phần làm quen cha Lễ, một điều làm tôi hãnh diện. Cũng phải nói thêm cha Lễ là một nhà đấu tranh chống Cộng Sản đòi tự do tôn giáo và nhân quyền cho Việt Nam, mà tôi cũng có phần nào đóng góp nên đã có duyên được biết ông....
..Tôi còn nhớ cách đây nhiều năm, lần đầu tiên cha Lễ đến nhà Thụ với những bạn tù, như đại tá chánh án toà án quân sự đặc biệt Nguyễn Cao Quyền, kỹ sư Dương Văn Lợi ... Một ít kỷ niệm xa xưa trong buổi gặp gỡ lần đầu này, xin kể ra đây:
Đại tá Quyền đã tâm sự là Cộng Sản bỏ tù ông, bỏ đói ông đến mờ cả mắt, một buổi chiều ông mệt mỏi, ngồi bên bờ suối, sau một ngày lao động bị Cộng Sản  đày đọa xác thân, ông bỗng thấy, một đàn kiến, công kênh một hột đỗ, đói quá, ông đã lấy một cái que nhỏ, khều những con kiến ra, nhặt hột đỗ bỏ vô miệng mà nhai. Ông Kỹ sư Dương Văn Lợi (DVL), người tù trại Cổng Trời cùng cha Lễ, ông ở trong nhóm quyết tiến 48 người với dân biểu Tiếp, cha Lễ, ông Trần nhật Kim..v.v.. Ông Lợi có tài, có óc tổ chức và đã lập mưu từ ở trong miền Nam mà đánh cắp một chiếc trực thăng của VC ngay tại sân bay Hà Nội. Ông đã bí mật móc nối được hai phi công VNCH bị VC bắt, xử dụng họ để dạy phi công VC lái trực thăng. Theo kế hoạch, hai người “pilot” VNCH sẽ mang bình điện tới nơi trực thăng đậu (VC cẩn thận tới độ, khi trực thăng nằm ụ, thì nó tháo bình điện ra cất vô kho, và cho lính gác trực thăng, mỗi khi bay huấn luyện là có lính Cộng Sản canh chừng trên trực thăng sợ phi công đào thoát).
Rất bất ngờ, hai người “pilot” đã vô hiệu hoá người lính gác Cộng Sản, tước súng. Gắn bình điện, quay máy và cất cánh. Trong khi nhóm ông kỹ sư Lợi, bí mật chuyển đồ ăn, thức uống và nhất là JP4 là loại xăng dùng cho trực thăng, dấu kỹ ở sân vận động, đúng 4 giờ sáng, nhóm người của ông Lợi di chuyển vô sân bay, có dẫn theo hai người tình của hai ông phi công. Toan tính hoàn hảo, khi cái trực thăng rọi đèn pha đáp xuống sân vận động đón người, thì một chuyện thật bất ngờ xảy ra, ngoài tất cả những tính toán của ông Lợi, cái dân miền Bắc, nghèo khổ, không có cầu tiêu trong nhà, vì sống chen chúc, thường dậy rất sớm ra sân vận động bỏ hoang mà phóng uế. Bọn người iả lậu này, bỗng dưng thấy trực thăng nổ phành phạch đáp xuống, và lố nhố những người chuyển đồ, đổ dầu xăng vô trực thăng, họ biết ngay chuyện gì, thế là họ vác quần mà chạy đi báo công an. Bị lộ, nhóm ông Lợi bình tĩnh đổ xăng, chất đồ, chất người xong cất cánh. Hà Nội báo động đỏ, còi hụ hú vang cả thành phố, náo loạn như ngày nào B52 Mỹ còn dội bom. Chiếc trực thăng đã khôn ngoan, bay thật thấp tránh ra đa, và những phi cơ chiến đấu của Cộng Sản đã cất cánh lên tìm kiếm. Nhóm cướp máy bay của ông DVL đã bay qua được lãnh thổ Trung Công. Lúc đó Trung Cộng và Việt Nam đang hận thù chiến tranh, họ không cho dẫn độ, họ lấy cái trực thăng và trả tự do cho nhóm DVL. 
Tôi nhìn ông DVL người miền Nam nhỏ bé, mặt tái mét như người sốt rét kinh niên, thế mà tài ba gan dạ khôn lường, chơi qua mặt cả VC. Không riêng gì ông DVL, hầu hết những người đến chơi nhà Thụ, đều đã ở tù Cộng Sản quá lâu, ai cũng trông thiểu não xanh xao gầy ốm. Riêng ông Cha Lễ thì tôi thấy mặt ông tươi rói, khỏe mạnh, tôi bỗng nghĩ ông không phải cựu tù nhân, vì nhất thời tôi nào đã biết ai là ai, tôi mon men chào Cha và hỏi là Cha từ bên Pháp và hướng dẫn phái đoàn qua đây?. Cha Lễ đã vui vẻ khi biết tôi tìm cách làm quen. Cha bảo tôi, cha cũng là một trong anh em những người bạn tù đến đây, không phải trưởng phái đoàn. 
- Vậy sao trông cha vui vẻ, hồng hào tốt tươi, không giống các bạn của cha? Tôi hỏi.
- Tôi là người đem lại niềm vui, hy vọng cho cuộc sống của anh em bạn tù, mà tôi ảo não u sầu, thì làm sao tạo hy vọng cho đời sống tù đày của họ? Cha trả lời.
Sau đó Cha Lễ có kể cho tôi nghe một chuyện, khi ở tù một khoảng thời gian lâu lắm, cả chục năm, bỗng dưng Cộng Sản kêu mười mấy ông Cha bị đi tù ra, thả hết. Chỉ trừ Cha Lễ là bọn chúng giữ lại. Ông Cường biết không, Cha nói:
- Đêm đó tôi về phòng, tôi khóc như cha tôi chết, tôi buồn thảm, sầu khổ cả đêm, rồi bỗng nhiên, trí tuệ tôi sáng ra, tôi hiểu rằng, tôi không phải vì tiếp tục bị tù đày thêm nữa, mà ý Thiên Chúa muốn tôi ở lại đây, biết bao nhiêu con người còn bị tù đầy gian khổ. Thiên Chúa muốn tôi giúp đỡ họ, từ suy nghĩ đó, tôi bỗng thấy mình vui hẳn lên, vì tôi còn bổn phận mà Đức Chúa đã giao cho tôi phải làm, là xoa dịu nỗi khổ đau cơ hàn của những người tù nhân....Đó là lý do và những kỷ niệm đầu tiên với cha Lễ, cho đến bây giờ, tôi đã thân thiết với Cha Lễ cả mấy chục năm, tôi không còn xưng hô Cha Lễ, hay linh mục, mà tôi gọi ông là Cậu Bảy cho thân tình.
Tôi đến nhà Thụ, trong cái cảnh tranh sáng tranh tối của một buổi chiều nhá nhem. Cha Lễ đang nằm ở sofa thấy tôi, ngồi bật dậy. Tôi giật mình hỏi là cha đang ngủ à. Cha trả lời là không. Đến đây giờ giấc trái chiều nhau, nên tôi hơi mệt nằm nghỉ đợi ông bà Cường đây. Tôi ôm cha nồng nàn mừng rỡ, cuộc hội ngô ngoài sự mong ước của tôi. Sáu năm trước đây, tôi và Thụ đã qua New Zealand thăm Cha Lễ, thấy Cha tuổi tác và nhất là mắc bệnh chóng mặt khi lên tàu bay, thì tôi nghĩ ngày Cha trở lại nước Mỹ sẽ xa vời, nhưng hôm nay người thu hết sức lực qua Mỹ thăm lại bạn bè cố nhân trước khi vĩnh viễn nghỉ hưu và từ giã cuộc đời. Bà Thụ đã làm ba bát mì cho tôi, Thụ và cậu Bảy (Cha Lễ), chúng tôi vừa ăn vừa nói chuyện, trong khi Trâm và chị Thụ ở trong bếp tâm tình to nhỏ. Mục đích cha Lễ đến Mỹ kỳ này ân tình nhiều hơn công việc, cho dù sức khỏe yếu kém, với cậu Bẩy, ân tình  trên hết. Có một số ân nhân bằng hữu ở Cali cậu Bẩy đã ghé qua, rồi chuyện đấu tranh, cậu Bẩy cũng đã gặp một số anh em, đồng chí hướng để bàn bạc công việc cho những ngày sắp tới. Bây giờ qua DC. Cậu Bẩy cần ghé nhà, gia đình của người anh tinh thần của ông là dân biểu Tiếp tức là nhà ông Thụ, việc quan trọng nhất ở đây là phải thăm giáo sư Đào Thị Hợi phu nhân của cố giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, sau đó thăm mộ anh Bích..Thăm anh Trần Nhật Kim, anh Nguyễn Cao Quyền v.. v. Tôi đã bỏ nguyên ngày 26 tháng mười để đưa cậu Bẩy đến tư gia anh Bích gặp chị Hợi, thật tình cờ lại gặp vợ chồng anh Nguyễn Mậu Trinh ở đây, thế là tất cả kéo ra thăm mộ anh Bích, rồi nơi nghĩa trang yên nghỉ của anh Bích, có bào huynh của anh là giáo sư Nguyễn Ngọc Linh, hai mộ cùng nằm gần nhau trên một ngọn đồi. Một công ba việc, Cha Lễ đã đốt nhang cho anh Linh và anh Bích, Cha không quên ghé thăm ngôi mộ của mẹ Trâm, cụ Phùng Thị Nhật đã quá vãng với tuổi đời 104, mẹ Trâm cũng an nghỉ tại đây sau khi đã sống trên cõi đời trần thế, trên cả luật định cuộc đời là 100 năm trong cõi người ta, mà cụ đã vượt lằn ranh tới tuổi 104. Câu chuyện nơi nghĩa trang của cậu Bẩy nói tình cờ nhưng vô tình lại thành một chuyện linh thiêng. Khi ở mộ anh Bích, trời xầm xì từ sáng, bầu trời nặng trĩu với hơi nước, mây đen, nhưng không mưa, cho đến khi cha Lễ đốt' tuần nhang, cúng anh Bích, thì cơn mưa đổ ào, ụp xuống, anh Nguyễn Mậu Trinh nhanh tay dìu cha Lễ ra xe, và cha Lễ kể câu chuyện, Cha viết về anh Bích khi anh vừa nằm xuống, trong cuốn "Nguyễn Ngọc Bích Tấm Lòng Cho Quê Hương" trang244 "Cập Thời Vũ Nguyễn Ngọc Bích"
Cha Lễ rất thích nhân vật đời nhà Tống có 108 anh hùng Lương Sơn Bạc, một  người tên Tống Giang, tự là Tống Công Minh. Người tài đức, nhân hậu, lúc nào cũng sẵn sàng ra tay giúp đỡ mọi người, ông không từ chối ai bao giờ. Để tỏ lòng thương mến biết ơn người đương thời tặng cho ông danh hiệu "Cập Thời Vũ" nghĩa là mưa đúng lúc. từ đó người đời gọi ông Tống Công Minh là Cập Thời Vũ. Và bây giờ cha Lễ dùng điển tích này để gọi anh Bích là "Cập Thừa Vũ Nguyễn Ngọc Bích". Phải chăng vì thích danh hiệu này, khi cha Lễ tới thăm, anh Bích đã xin cho trời mưa ngay, mưa đúng lúc để cảm ơn cha Lễ, người có lòng nghĩa tử là nghĩa tận, đã từ New Zealand, đường xa vạn dặm đến viếng mộ anh. Cha Lễ cũng còn có một trí nhớ phi thường, khi cha ghé mộ mẹ Trâm, đốt nén hương và đã khấn rằng cảm ơn cụ Phùng Thị Nhật, cụ đã cho Cha lễ một kỷ niệm khó quên, là mỗi khi đến D.C, Cụ Nhật đều nấu cho cha ăn món bún ốc, ngon tuyệt vời. Cha nhớ cụ và không quên món ăn ngon đó. Thật đúng với câu ca dao, miếng ngon nhớ lâu!.
 Trên đường trở về, chị Bích nhất định đãi Cha Lễ một bữa cơm trưa, thật may mắn. trong bữa ăn kỷ niệm đó, Cha Lễ đã gặp ngay hai người mà ngài muốn găp là anh Trần Nhật Kim, một người tù ở trại Cổng Trời cùng trong nhóm Quyết Tiến 48 người. Lý do anh Kim, anh Lợi cha Lễ còn sống, khi mà lên tới
Trần Nhật Kim, Chu Lynch, cha Lễ và Đinh Hùng Cường
Cổng Trời mà chưa được lên Trời, vì chiến tranh Trung-Việt. Cộng Sản sợ Trung Cộng tấn công sẽ giải thoát những người tù ở Cổng trời, vì trong đó cũng có những người tù của Trung Cộng. Thế là họ đã xoá trại Cổng Trời, mà di chuyển những người này về trại Nam Hà? Rồi cũng trong bữa ăn trưa, Cha Lễ cũng gặp anh Chu Lynh một nhà văn, một nhà quay phim, từng thành lập hãng phim chung với anh Bích. Thế chỉ trong một buổi sáng, Cha Lễ đã gặp đủ tất cả những người mà cha muốn gặp. Tôi đã đùa, nói với Cha là hôm nay cậu Bảy hên quá, ra ngõ gặp giai, Cha phì cười bảo tôi, ông Cường phải nói cậu Bảy ra ngõ gặp trai (con trai) mới đúng. Chỉ còn một người nữa là hoàn thành sứ mạng của tôi, là đưa cha lên Potomac gặp anh Nguyễn Cao Quyền là cha hả lòng. 
Chúng tôi đến nhà anh Quyền sau buổi trưa, anh Quyền đã tuổi ngoài 90, người thì ốm yếu, nhưng tinh thần còn cực kỳ minh mẫn. Từ ngày anh lui cui đi vô phòng tắm một mình và bị ngã một cú như trời giáng, thế là từ đó, chị Quyền cắm cung anh ở trên gác, không cho xuống dưới nhà, biết tính chị Quyền cẩn thận, vợ chồng tôi và Cha Lễ đều đeo masks trước khi bước lên lầu. Sự xuất hiện bất ngờ của Cha Lễ làm anh Quyền vui mừng quá sức, anh cố gắng ngồi dậy, chuyển sang cái “Arm Chair” nói chuyện với Cha. Lời cha lễ vô cùng cảm động: 
Anh Quyền, tôi từ đường xá xa xôi, với lòng quý mến đặc biệt, tôi đã đến đây thăm anh và nói lời từ biệt, vì rồi đây, sau này anh em mình còn có dịp gặp nhau nữa không ?
Xin anh coi đây như lần chót tôi đến thăm anh. 
Ông Quyền nhăn mặt, ý không muốn chấp nhận lời nói của Cha, nhưng ông cũng tỏ ra vô cùng cảm động, chìa tay ra bắt tay Cha, một cái bắt tay thông cảm sâu xa im lặng của hai người cựu tù nhân làm vợ chồng chúng tôi ngồi đó mà muốn rơi lê

Cha Lễ nhắc lại kỷ niệm xưa, khi mà nhóm tử tù của ông kéo về từ trại Cổng Trời và anh dũng tổ chức một cuộc vượt ngục vô tiền khoáng hậu. Cha Lễ kể chuyện cuộc vượt ngục thất bại vì tính toán sai giờ giấc, từ cái chỗ cầu tiêu đào ra ngoài, quá chật hẹp, chỉ có anh Tiếp và Cha Lễ có thể thay nhau lách vô làm việc thôi, một người chui xuống, cố nậy từng viên gạch, nhưng sau đó, đám gạch thẻ này đã ăn cứng với ciment không biết bao đời, rất vô cùng khó khăn để gỡ ra từng viên, bên phòng này, cha Lễ và anh Tiếp gỡ gạch, bên phòng kia anh Quyền và đám tù nằm im nín thở, hồi hộp nghe từng tiếng động tĩnh bên rồi bỗng nhiên, cả trại tù nghe một tiếng ầm âm vang rất lớn, sau đó im bặt, mọi người không hiểu, cho đến bây giờ, ông Quyền cũng không hiểu chuyện gì về tiếng kêu vang to thế. Cha lễ mới giải thích là cuộc đào gạch phá tường quá chật vật, không đủ thì giờ kiên nhẫn mà moi từng cục gạch, nhìn trời đã gần sáng, không thể chờ đợi thêm nữa, toán tù vượt ngục cùng chung sức bứng nguyên cái cửa mà thoát ra ngoài, bất kể tiếng động. cuộc đào thoát thất bại, đưa tới cái chết của dân biểu Tiếp, và mạng sống của Cha Lễ như mành treo chuông. Câu chuyện lan man đến sau buổi trưa, chúng tôi từ giã anh chị Nguyễn Cao Quyền ra về, hai người bạn tù già nua, bịn rịn rời nhau, chúng tôi bước xuống thang để lại anh Quyền, một mình trong căn buồng trống vắng. Tôi nghĩ tới anh Quyền, tôi nghĩ tới cuộc đời, tôi nghĩ tới nhà Phật. Từ một ông chánh án quyền uy của tòa án đặc biệt, một tiếng gõ búa của anh có thể đem tự do cho con người, mà cũng một tiếng gõ búa của anh cũng lấy đi mạng sống con người, vì toà án đặc biệt này chỉ có hai án lệnh, tự do hay tử hình. Rồi nước mất nhà tan, anh Quyền lại bị VC bỏ tù, và rồi đây, chính cái tuổi già lại một lần nữa giam anh nơi bốn bức tường, sức khoẻ đã lấy đi sự tự do đi lại của anh, cuộc đời chỉ còn lại ngày quanh quẩn bên sự chăm sóc của người vợ hiền. Phải chăng đời là bể khổ? Đời là vô thường (emptiness)?. Còn Cha Lễ, với mái tóc bạc phơ, rồi đây ông cũng sẽ không thoát khỏi luật tạo hoá, nó đặt ra bất di bất dịch, sớm muộn ông cũng phải rơi vào bánh xe định mệnh là sinh, lão, bệnh, tử. Nhưng vốn tự cho mình một thiên chức là cứu khổ và xoa dịu niềm đau cho cuộc đời, ông vẫn lạc quan. Tôi hỏi Cha:” -Một người sống như Cha, lấy đời sống ân tình làm trọng, nhìn việc làm của Cha hôm nay, tôi rất ngưỡng mộ, và là tấm gương sáng cho tôi theo. Nhưng thưa Cha, sau chuyện này sẽ là chuyện gì?  Cha lễ đã trả lời:” 
Con người rồi sẽ chết, nhưng đấu tranh cho tự do, nhân quyền của người Việt Nam sẽ phải còn tiếp tục. Trong mấy năm qua, tôi đã nhờ nhiều người, tìm cách chuyển ngữ cuốn sách “Tôi Phải Sống” qua tiếng Anh để phổ biến, tố cáo tội ác vô cùng dã man của bọn Cộng Sản, bọn chúng đã biến những người tù thành những con vật, đối xử tàn bạo, độc ác vô chừng, Tôi muốn thế giới phải nhìn thấy điều này. Hiện nay cuốn sách “Tôi Phải Sống” đã nằm trong tay một nhà xuất bản bên Anh Quốc. Năm nhân vật then chốt, đã chia nhau đọc cuốn sách của tôi. Sau cùng họ đã họp lại và thống nhất 5 người đều đồng ý là phải in cuốn sách “Tôi Phải Sống” bằng tiếng Anh. Họ đã gửi hợp đồng cho tôi ký, và trong 241 ngày nữa cuốn sách sẽ ra đời. Nhân loại sẽ nhìn thấy bộ mặt kinh tởm của những người Cộng Sản Việt Nam. Từ đó, hy vọng sẽ có một luồng gió mới, thức tỉnh những người trẻ VN đứng lên đòi lấy quyền  sống của mình.
Ngày chủ nhật 30 tháng 10 này, nhà Thụ sẽ làm một bữa cơm thân mật cho bạn bè thân hữu gặp Cha Lễ, trước khi ông lên đường trở về New Zealand, một đất nước thần tiên có bốn triệu dân và 40 triệu con trừu. 
Thân chào.
Đinh Hùng Cường, Ngọc Trâm
(Tường trình từ Hoa Thịnh Đốn)

Thứ Tư, 27 tháng 7, 2022

Duyên tình dang dở (Trúc Mai)

Tác giả: Nguyễn Đình Nghĩa (1 cây sáo thần nổi tiếng của âm nhạc VN) Trình bày: Trúc Mai