Nhận được tin buồn trung tướng Lữ Lan vừa ra đi vào cõi vĩnh hằng ngày 28/5/2021 cùng trong thời điểm Tưởng Niệm và Ghi Ơn các chiến binh Mỹ, Việt đã hy sinh vì Tổ Quốc.
Nhận tang chung hay tang riêng, nỗi buồn nào cũng lớn đối với chúng tôi - người lính Việt Nam Cộng Hòa và cũng là một cựu chiến binh Việt - Mỹ
Với tang riêng, khi kính cẩn chào tiễn đưa một niên trưởng ra đi có biết bao kỷ niệm từ ký ức dậy lên trong niềm nhớ, nhất là vị niên trưởng đó đã có một thời là người trực tiếp chỉ huy, thường ngày vẫn gặp nơi phòng họp hành quân của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II trong mấy năm đầu của thập niên 1960.
Rồi xa nhau trong công vụ, xa nhau sau chiến tranh, xa nhau trong thời gian ở tù cộng sản. Mãi đến khi chúng tôi định cư tại tiểu bang Virginia, mới có cơ hội gặp lại vị tư lệnh quý mến. Còn gì cảm động và dễ thương hơn khi ngỏ lời chào niên trưởng với cái bắt tay thân mật.
Sự tưởng nhớ hôm nay sẽ là những tưởng niệm ngày mai với những người thân thương và kính mến đã khuất xa tầm tay, chỉ còn gần trong nỗi nhớ hiện về từ chiến trường xưa hay từ những hiện cảnh vừa qua.
Xin được kính cẩn nghiêm chào Trung Tướng Tư Lệnh, và cũng là vị niên trưởng yêu mến của chúng tôi. Kính chúc niên trưởng thanh thản ra đi và mãi an bình nơi cõi vĩnh hằng.
Người lính năm xưa và là người em của trung tướng.
Nhưng chắc chắn một điều không thể tách rời quá khứ khỏi cuộc đời mình, nhất là quá khứ của một cuộc hành trình đầy chông gai, cuồng lũ và bão lửa. Do bất trắc của thiên nhiên hợp cùng sự cuồng nộ của lòng người dậy lên dòng đời nghiệt ngã!
Quá khứ của một thời như vậy làm sao quên? Biết nhớ là đau thương, nhưng muốn quên là không thể. Quên là tự phản bội với chính mình, phản bội với những người cùng đồng hành trong thời nghiệt ngã đó. Quên là từ chối trách nhiệm của một người dân đối với quốc gia, dân tộc. Thấm thía hơn là mình cố tình đốt cháy căn cước tị nạn, trong đó có cả lời thề và lời xin lỗi. Xin lỗi quê hương đành đoạn rời xa mang theo tâm niệm hi sinh vì tổ quốc. Đồng thời xin lỗi quê hương thứ hai đã cưu mang mình về một lời thề hiến định của một công dân nhập lưu dòng sống mới.
Mai Ba Mươi, bữa nay Hai Chín
ta đếm thời gian câm nín ngược dòng …!
Đúng, ngày mai 30 tháng 4, một điểm mốc thời gian của lịch sử Việt Nam đỏ au nước mắt và máu của bao nhiêu triệu người dân Miền Nam Việt Nam bị xé toạc phận người bởi quân cuồng nô phương Bắc. Một cuộc dìm chết cả đất và người dưới sức mạnh của bạo lực tàn ác. Không chỉ hôm nay, những người chung số phận lưu vong hồi tưởng và mặc niệm ngày lịch sử đau thương đó. Mà mãi mãi những thế hệ tiếp nối cần phải nhớ.
Chính vì những điều không thể quên, mà Tháng Tư vừa đi qua, tâm trí vẫn còn lắng đọng những u buồn trầm uất. Trong bất chợt mỗi đêm về giấc ngủ chưa yên, tình còn thao thức với những chung chia niềm thương đau với đất và người.
Ai đã từng thao thức về nỗi niềm chung khi nghĩ về những tháng năm xưa của 46 năm về trước. Từ cuộc sống của bản thân và gia đình trên một miền đất hiền hòa, an cư và thịnh vượng. Bỗng dưng bị cơn lốc đỏ cộng sản tràn qua gây đổ vỡ mọi an lành có được! Sự ly tán khởi đầu từ vượt đất, vượt biển xa nguồn, chấp nhận cuộc sống lưu vong, để mãi mãi nhìn về quê hương trong niềm đau bất tận!
Tôi và những đồng đội chiến binh Việt Nam Cộng Hòa, sau nhiều năm thi hành trách nhiệm vệ quốc an dân, bị cơn bão hận thù thổi bay đi tứ tán rồi xoáy cuộn vào những trại tù oan nghiệt.
Bao nhiêu năm sống trong các trại tù khổ sai, chúng tôi hiểu thân phận mình như một loài sinh vật bị đọa đày. May thay còn điểm tựa lương tri giữ mình đứng thẳng với sự yểm trợ niềm tin của gia đình và tổ quốc. Để có hôm nay được sống trên vùng đất tự do được gọi là quê hương thứ hai, vẫn mang trong tâm nỗi lòng người Do Thái dựng trong tim một dãi sơn hà.
Chính niềm tin và khí tiết chinh nhân đã thôi thúc những người lính già mà đồng bạn ví như những con ngựa què, lê bước chân mình trên hành trình dang dở để hiến thân cho cuộc sinh tồn dân chủ và tự do của gia đình và tổ quốc. Với may mắn đôi tay còn giữ được cây bút và ngọn cờ vàng ánh màu chủng tộc thiêng liêng. Dĩ nhiên chúng tôi luôn tự nhủ cần kiên trì ý chí, phải vượt qua những trở ngại khách quan như khi thoáng gặp những tấm căn cước tị nạn của ai đó vất bỏ trên đường.
Vẫn biết những mâu thuẫn và va chạm là sự tất yếu trong sinh tồn xã hội, nhưng lòng vẫn thấy băn khoăn khi vết mực vấp vào nghi vấn thường tình. Thoáng nghĩ vu vơ về bản chất con người rồi cũng nhòa đi khi ngọn bút chạm vào những vết thương xưa. Việc cần làm, phải làm, đâu có lớn lao gì so với những anh hùng hy sinh vì tổ quốc.
Viết là nhu cầu của cuộc sống, như hơi thở cần tiếp truyền đủ máu cho con tim còn nhịp khát khao dẫn lực chân tình về với ngày mai có thế hệ cháu con sẵn sàng tiếp nhận. Viết để chuyển tải từ hôm nay đến ngàn sau tâm tư của một người dân mất nước:
Đất không Nước và ta người tàn phế
Vói hai tay không thể chạm Quê Hương!
Hai tay không thể chạm Quê Hương, chỉ còn biết chạm Quê Hương bằng hơi thở nồng nhiệt của mình. Những hơi thở mang niềm hy vọng đốt cháy sự khắc nghiệt của dòng đời, làm tan rã lòng thù hận của “bên thắng cuộc”.
46 năm quá dài và quá đủ để người Miền Bắc thấu hiểu tấm lòng của Đất và Người Miền Nam. Đủ để những người cộng sản hiểu rõ ai giải phóng ai. Và ai thắng ai khi nhìn thấu nỗi lòng nhân dân cả nước! Điều rõ ràng minh bạch là sự điêu tàn của cả Đất và Người trên quê hương do chiến tranh để lại. Tệ hại hơn những vết thương chiến tranh thay vì hàn gắn đã bị chủ nghĩa cuồng nô thù hận xé toạc ra tạo thêm điêu tàn trên quê hương.
Mỗi một gợi ý về niềm đau của đất nước, về nỗi thống khổ của người dân nơi quê nhà là mỗi trở mình thao thức. Gần ba mươi năm chịu cuộc lưu vong, bao nhiêu dòng nghĩ chảy tràn cảm xúc thương đau xuống ngòi bút. Hằng triệu con chữ ngậm ngùi vượt đêm thao thức bày tỏ cùng thế gian nỗi tủi buồn của một chinh nhân, vừa là nạn nhân và chứng nhân của cuộc chiến hai mươi năm khốc liệt.
Đời sống được tẩm liệm giữa những xót xa như thế đó, làm sao mà quên dẫu nhiều lúc nhủ lòng đừng nhớ nhiều sẽ chùng tâm và cạn nguồn sinh lực!
Không thể nào hằng triệu người dân Việt còn trong
nước hay đang lưu vong quên được Tháng Tư Đen tàn
khốc đó!
Tháng Tư của máu và nước mắt, khi sinh mệnh
của đất nước và con người bị bức tử. Bốn mươi năm đã
qua, nhưng tiếng gào thét của sự bức tử còn âm vọng mãi
mãi trong tâm trí mọi người. Vết thương tâm linh luôn
rướm máu, máu của chính mình, của đồng đội, của đồng
bào ruột thịt miền nam Việt Nam.
Black April của Veith là tập hợp những nguồn máu đó chảy
râm ran qua suốt tháng năm dưới hóa thân những dòng lệ
đỏ!
Nếu những trang sử của Việt Nam Cộng Hòa được ghép
bởi những di ngôn uất hận. Đời con cháu sau này sẽ hiểu
được tinh thần của những chiến binh chiến đấu bảo vệ tự do và dân chủ cho một dân tộc đáng được trân quí như
thế nào. Và cũng đáng được truy nguyên những chiến
công của họ.
Mỗi đánh giá về từng đoạn đường của lịch sử một dân tộc,
cũng giống như sự đánh giá từng tác phẩm viết về dòng
lịch sử đó, cần được phát biểu bằng ngôn ngữ của con tim
chân chính được nuôi lớn bởi nguồn sống nhân bản .
Mọi
chất liệu đấu tranh chống cái ác được phơi bày dưới ánh
sáng mặt trời luôn là hiện thực.
Black April là một sân phơi những chất liệu đó. Qua sóng
gió cuộc đời, qua trầm thăng thế cuộc, những chất liệu
trung thực này sẽ được đặt trong bảo tàng lương tâm của
nhân loại. Mọi tham vọng và ý đồ khuynh đảo quốc gia sẽ
phải trả giá bởi chính lương tâm của họ.
Tham dự buổi giới thiệu tác phẩm Black April, tại hội
trường của Hội Người Việt Cao Niên vùng Hoa Thịnh Đốn,
chiều Chúa Nhật 12 tháng 7 năm 2014. Cảm nhận của tôi
đầy những bồi hồi. Bồi hồi qua các giải trình từ tác giả và
các diễn giả về nội dung những chương quân sử của quân
lực Việt Nam Cộng Hòa vào những năm cuối của cuộc
chiến đầy những ấn tượng bi thương!
Bồi hồi vì sự cảm kích tinh thần chiến đấu của một tập thể
quân đội chỉ biết tiến chứ không lùi bước trước kẻ thù
cộng sản xâm lăng. Bồi hồi vì được gặp lại vài vị chỉ huy từ
tham mưu đến chiến trường, mà qua những năm quân vụ
tôi đã có dịp diện kiến và phục lệnh.
Bây giờ tôi được gọi
những cấp chỉ huy này là niên trưởng.
Đặc biệt, với Trung Tướng Lữ Lan, một thời là Tư Lệnh
Quân Đoàn II, nơi tôi đã phục vụ lâu nhất và có nhiều kỷ
niệm nhất trong suốt thời gian binh nghiệp. Hôm nay được
nhìn ông còn sức khỏe khang trang, tôi rất vui. Vui cả những đoạn phim thời sự của thập niên 60 nơi vùng cao
nguyên đầy lửa đang khởi hiện trong tiềm thức tôi. Những
đoạn phim hùng tráng với những trận thư hùng oanh liệt
của những đơn vị dưới quyền ông đối lực với quân đội
cộng sản Bắc Việt trên khắp lãnh thổ Vùng 2 Chiến Thuật.
Những thước phim tài liệu về quân sử Quân Đoàn II/QL.
VNCH mãi còn đó. Những quyển sách như Tháng Tư Đen
của George J. Veith mãi còn đó. Như những dấu tích đau
thương mãi còn đó trong tâm khảm mỗi người dân miền
nam Việt Nam suốt thời kỳ chiến tranh bảo vệ quốc gia,
chống lại sự xâm lăng của tập đoàn quân cộng sản Việt
Nam và các thế lực đồng lõa.
Người viết sử đừng bao giờ nói dối
Trước trăm nghìn câu hỏi của hồn oan!
Tôi đã viết những lời thơ như vậy, để cảnh tỉnh những
người mon men vào con đường viết sử với những xảo
ngôn, vong bản và xu thời. Khỏi phải ân hận trối trăn khi
cuộc đời đi vào cõi đất!
Sau khi chấm dứt phần giải trình về tác phẩm Black April.
Tôi đến mở lời chào niên trưởng Lữ Lan với vài gợi nhớ,
ông niên trưởng Lữ Lan và tôi bắt tay với nụ cười thân
mến trao nhau cùng những câu tâm tình huynh đệ chi
binh.
Tiếp sau sự diện kiến thân tình với niên trưởng Lữ Lan, tôi
đến làm quen với một người Mỹ, ông Merle L. Pribbenow
– người bạn đồng hành với Veith - tác giả Black April. Merle nói thông thạo tiếng Việt, nên lời mở đầu của tôi
được đón nhận với lòng cởi mở. Tôi cảm ơn Merle về sự
thấu hiểu tinh thần chiến đấu của quân dân miền Nam Việt
Nam suốt hai mươi năm chiến đấu chống giặc bắc phương.
Trong dịp này, tôi gởi tặng Veith và Merle tập
thơ Thao Thức của tôi, với ý muốn được gởi chút tâm tư
của một trong hằng triệu chiến binh quân lực Việt Nam
Cộng Hòa có mặt trong Tháng Tư Đen. Và hơn thế, là sự
mong cầu tâm tư thao thức được thẩm thấu vào tấm lòng
tuổi trẻ Việt Mỹ có lưu tình tri thức Việt Nam.
Trân trọng,
Cao Nguyên
Washington.DC – July 12, 2014
@
Chương trình giới thiệu Black April – The Fall Of South
VietNam!
Mời quý vị đọc hồi ký NHÀ TÙ của nhà văn Duyên Anh để hiểu thêm về chính sách tàn ác của Việt Cộng sau ngày cưỡng chiếm Miền Nam Việt Nam (30/4/1975) đối với quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa .
Nhật ký gồm 26 chương, sau khi đọc hết một chương, theo dấu V nhấn vào xem chương kế tiếp ...
" ... Hồi ký của tôi gồm 2 cuốn. Cuốn thứ nhất mang tên NHÀ TÙ. Cuốn thứ hai mang tênTRẠI TẬP TRUNG. Như đã trình bày, nhà tù là một xã hội thu hẹp, nó gần gũi nên nó tự lột trần muôn mặt. Tôi có gắng ghi chép thật trung thực cái muôn mặt đỏ.
Những đồng điệu trong tâm hồn kẻ lãng tử và sự cảm nhận nơi trái tim kẻ chính nhân .. đã cho chúng ta bắt gặp nhau để cùng có dịp suy ngẫm hơn chút nữa những điều đã thấm sâu vào máu huyết và bám chặt trong tâm thức của mình về trách nhiệm và bổn phận với quê hương, giống nòi mình ...
Không biết từ đâu - những ngọn gió ẩn mình trong "Ngọn Triều Âm" riêng một tháng Tư - vết nám không thể tẩy xóa của lịch sử Việt Nam - khởi đầu từ vùng Tây Nguyên dưới chân dãy Trường Sơn và kết thúc ở Sài Gòn - Một kết cuộc bi thương lan tỏa và còn mãi mãi không bao giờ có thể chấm dứt, dù đã sau 35 năm.
Mỗi tháng Tư về, những linh hồn bắt gặp linh hồn trên đỉnh đầu biết bao nhiêu “ngọn triều âm” ? Và, trong những lần chạm tới của hơi thở từ những mồ hoang vào sự linh thiêng và nhiệm mầu của một Đấng siêu nhiên từ bên ngoài và tận cùng Vũ Trụ - tạo nên một tái tạo của khoảnh khắc tràn đầy bi thương uất hận ấy.
Xin được cám ơn cuộc đời và tất cả những gặp gỡ của htmt với những người đã, đang và sẽ lướt qua cuộc đời và chữ nghĩa cõi trần gian hôm nay và mai sau !
Cảm ơn nhà thơ Cao Nguyên với Ngọn Triều Âm Trân Trọng, Hoàng Thy Mai Thảo (Paris) (Tháng Tư, 2010)
@
Ngọn Triều Âm
(mến tặng những tiếng hát như ngọn triều âm trên tháng tư buồn)
khi mặt trời vỡ, chiều rơi xuống ngọn triều âm từ vực thở vút lên phả vào không gian trường ca sóng vỗ ngợi ca rừng nuôi mộ cỏ rêu xanh!
lời khai tử chào tiếng hát em anh đọc trên đỉnh trường sơn mùa tuẫn nạn còn âm vang bi tráng đến bây giờ giữa tháng tư đứng chờ mặc niệm!
*
khi mặt trời tung bình minh lên núi ngọn triều âm xóa rêu phủ mồ hoang anh lại chào em tiếng hát ngày xưa bằng hơi ấm khúc dương cầm của biển
tháng tư về với nụ cười thánh thiện đất trở mình khoe hoa nở lời chim rừng dụi mắt sau triền miên tĩnh mịch nhìn chăm chăm cây lá biếc quanh mình!
cám ơn em, tiếng hát của rừng xưa ngọn triều âm dấu trong mùa sử tích!