Thứ Bảy, 20 tháng 7, 2019

Chúng Tôi Muốn Sống

Ngày Quốc Hận 20-7-1954


Người Việt Quốc Gia phải ôm canh cánh trong lòng hai mối hận: “Quốc Hận Hồng” đánh dấu ngày một nửa Quê Hương phía Bắc vĩ tuyến 17 bị cắt giao cho Đảng Cộng Sản Việt Nam, do Hiệp Định Genève ngày 20-7-1954 và “Quốc Hận Đỏ” ghi nhớ ngày toàn thể dân tộc Việt Nam bị đặt dưới ách thống trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam, do cuộc rút quân của Đồng Minh Hoa Kỳ sau khi ký Hiệp Định Paris 1973, dẫn đến cuộc đầu hàng của chính quyền Dương Văn Minh vào ngày 30-4-1975. (Hình phải:Cầu Bến Hải (Hiền Lương 1954-1975).

Trước năm 1975, miền Nam Việt Nam vẫn kỷ niệm ngày “Quốc Hận Hồng”, nhưng hiện tại, Cộng Đồng người Việt tỵ nạn chỉ còn cử hành ngày “Quốc Hận Đỏ”. Thực tế, Hiệp Định Genève 1954 đã mang những nét chính trị đặc biệt, dọn đường cho Hiệp Định Paris 1973. Nói cách khác, không có ngày Quốc Hận Hồng thì không thể có ngày Quốc Hận Đỏ được.
  
Nỗi nhục chia cắt đất nước

Vào ngày 26-4-1954, 9 quốc gia đã nhóm họp đề bàn về việc khôi phục hòa bình tại Triều Tiên và Đông Dương. Đó là Anh, Mỹ, Liên Xô, Trung Cộng, Pháp, Lào, Campuchia, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) do ông Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn và Quốc Gia Việt Nam do ông Nguyễn Quốc Định, trưởng đoàn, sau đó là Bác sĩ Trần Văn Đỗ.

Trong suốt 9 năm theo đuổi cuộc chiến ở Đông Dương, nước Pháp đã trải qua những ngày khủng hoảng chính trị trầm trọng với 2 đời Tổng Thống và 17 lần thay đổi chính phủ. Có chính phủ mới chỉ lên được vài ngày đã bị lật đổ.


Vào lúc Pháp thua trận Điện Biên Phủ thì chính phủ Laniel từ chức và Mendès France lên thay thế. Ông này đã cam kết với dân chúng Pháp khi lên nhậm chức ngày 17-6-1954: “Nếu trong 4 tuần lễ, tức vào ngày 20/7 tới đây, mà không đạt được một cuộc ngưng bắn tại Đông Dương, tôi sẽ từ chức”.

Hội nghị Genève tái nhóm vào ngày 8-5-1954 và đã trở thành cuộc mặc cả và đi đêm bẩn thỉu giữa Việt Minh và thực dân Pháp.

Với khí thế chiến thắng Điện Biên Phủ, Việt Minh đòi chia đôi Việt Nam kể từ vĩ tuyến 13 (ngang với Tuy Hòa) và đòi chiếm giữ miền Bắc. Nhưng đến sau, với sức ép của Liên Xô và Trung Cộng, Việt Minh chấp thuận đề nghị dời lên vĩ tuyến 17 (tỉnh Quảng Trị).

Đại diện phía Quốc Gia Việt Nam luôn luôn phản đối việc chia cắt đất nước. Ông Nguyễn Quốc Định tuyên bố: “Tôi để cho phái đoàn Việt Minh trách nhiệm đối với lịch sử… Chia đôi, nghĩa là sớm muộn cũng lại có chiến tranh”. Vào đúng ngày ký kết, trưởng phái đoàn Trần Văn Đỗ đã đứng lên phản đối với giọng nghẹn ngào.

Sáng ngày hôm sau, 21-7-1954, Bác sĩ Trần Văn Đỗ đã ra một bản tuyên ngôn với những lời lẽ gay gắt: “Chúng tôi long trọng phản đối việc ký kết hấp tấp thỏa hiệp ngưng chiến do hai cơ quan Tư Lệnh Tối Cao Pháp và Việt Minh mà thôi”, và “yêu cầu Hội nghị ghi nhận một cách chính thức rằng Việt Nam long trọng phản đối cách ký kết Hiệp Định cùng những điều khoản không tôn trọng nguyện vọng sâu xa của nhân dân Việt Nam”.

Sở dĩ phái đoàn Quốc Gia Việt Nam phải chống đối kịch liệt việc chia cắt đất nước, vì thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh, đất nước cũng bị chia đôi bởi dòng sông Gianh và là một vết nhơ trong lịch sử Việt Nam. Nay Việt Minh lại cấu kết với thực dân Pháp phân chia đất nước thì đó chính là niềm uất hận chung cho cả dân tộc.

Đúng 12 giờ đêm ngày 20-7-1954, Hiệp Định vẫn chưa được ký. Mendès France ra lệnh cho đồng hồ trong phòng họp ngưng chạy cho đến khi có bản Hiệp Định. Và thực sự, Pháp và Việt Minh đã phải vội vã ký kết vào lúc 3 giờ 50 sáng ngày 21-7-1954, nhưng lại đề ngày 20-7-1954 với chữ ký của hai viên chức quân sự liên hệ. Đó là Thiếu Tướng Delteil, thay mặt cho Tổng Tư Lệnh Quân Đội Liên Hiệp Pháp ở Đông Dương và Tạ Quang Bửu, Thứ Trưởng Quốc Phòng của VNDCCH.

Nội dung Hiệp Định có những điểm chính như sau:

- Sông Bến Hải, ở vĩ tuyến 17 chia cắt Việt Nam thành hai phần: miền Bắc do VNDCCH kiểm soát. Miền Nam do chính quyền Quốc Gia và khối Liên Hiệp Pháp kiểm soát.
- Hai bên có 300 ngày để di chuyển nhân sự.
- Hai năm sau, tức ngày 20-7-1956 sẽ tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất đất nước.
- Ủy Ban Quốc Tế Giám Sát gồm 3 quốc gia: Ấn Độ (Chủ Tịch), Ba Lan và Canada để giám sát việc thi hành Hiệp Định.
- Cấm phá hủy cơ sở trước khi rút quân, cấm trả thù hoặc ngược đãi những người đã cộng tác với đối phương khi trước, cấm đưa thêm quân đội, vũ khí hoặc lập căn cứ quân sự ở vùng đối phương.


Bỏ phiếu bằng chân


Hiệp Định Genève 1954 ấn định một thời gian chuyển tiếp để dân chúng miền Nam và miền Bắc được quyền tự do lựa chọn đi theo chính phủ Cộng Sản hay Quốc Gia.

Phía Quốc Gia có thời hạn tập trung dân chúng 80 ngày tại Hà Nội, 100 ngày ở Hải Dương và 300 ngày tại Hải Phòng để xuôi Nam.
Còn bộ đội tập kết Việt Minh có quyền tập trung tại Hàm Tân 80 ngày, Bình Định 100 ngày và Cà Mâu 300 ngày để di chuyển về Bắc.

Dân chúng và quân đội Quốc Gia ồ ạt bỏ làng xóm để di cư vào Nam. Nhiều làng ở Hưng Yên và Bắc Ninh, dân chúng tự ý đốt nhà cửa để di cư. Tổng kết tính đến ngày di tản cuối cùng vào tháng 3 năm 1955, đã có khoảng 950 ngàn người theo “Con Đường Đến Tự Do” (Passage to Freedom) từ Bắc vào Nam. Tại nhiều nơi, Việt Minh đã ngăn cản đồng bào di cư, gây nên những cuộc xô xát đẫm máu như ở vùng Quỳnh Lưu, Nghệ Tĩnh. Khi thời gian di cư đã chấm dứt, nhiều người vẫn tiếp tục vượt biên bằng thuyền bè và đã bị Việt Minh sát hại. Nhiều người bơi qua sông Bến Hải đã bị Việt Minh bắn bằng mũi tên độc, vì có lệnh cấm nổ súng trong vùng phi quân sự

Trong khối người di cư này, tín đồ Công Giáo được coi là đông đảo nhất, với 650 ngàn người gồm 1.127 tu sĩ. Vì thế, sau năm 1954, Giáo Hội Công Giáo miền Bắc chỉ còn khoảng 300 ngàn giáo dân và 300 tu sĩ, hầu hết già cả và bệnh tật.

Cuộc di cư vĩ đại của gần một triệu người miền Bắc đã làm cả thế giới ngỡ ngàng. Đây là một cuộc bỏ phiếu bằng chân của người dân Việt cương quyết chối bỏ chủ nghĩa Cộng Sản(Cảnh đồng bào Bắc Việt di cư năm 1954).

Điểm đặc biệt là không có người dân miền Nam nào di cư về Bắc. Con số bộ đội tập kết được ghi nhận là thưa thớt, vì Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho bộ đội chôn dấu vũ khí và len lỏi khắp nơi để chờ lệnh khởi sự một cuộc chiến tranh mới.

Bức màn tre ảm đạm đã rủ xuống cầu Bến Hải. Trong lúc dân chúng miền Nam nỗ lực phát triển kinh tế, nâng cao dân trí thì Cộng Sản miền Bắc ra tay khủng bố dân chúng, bắt dân phải thi hành chính sách thắt lưng buộc bụng để nuôi dưỡng cuộc chiến tranh xâm lăng miền Nam.

Chiến tranh “chống Mỹ ngụy”

Bộ máy truyên truyền chiến tranh của miền Bắc đã hô hào dân chúng “chống Mỹ ngụy” và ngày nay vẫn vỗ ngực tự hào đã chiến thắng “đuổi Pháp và đánh Mỹ”, nhưng ngay khi ký Hiệp Định Genève 1954, Hồ Chí Minh đã có kế hoạch tiếp tục chiến tranh ở miền Nam. Năm 1959, Lê Duẫn bí mật vào Nam nghiên cứu, rồi công khai đề nghị khai diễn cuộc chiến tranh “giải phóng miền Nam” trong Đại Hội Đảng Cộng Sản lần thứ 15 ở Hà Nội ngày 13-5-1959. Từ đó, quân đội và vũ khí bắt đầu tăng cường vào miền Nam qua đường mòn Hồ Chí Minh.

Để trợ giúp chính phủ VNCH chống lại cuộc chiến tranh này, mãi đến năm 1961, chính phủ Kennedy mới gửi đến miền Nam 400 cố vấn quân sự. Như vậy, rõ ràng là phong trào “chống Mỹ” của miền Bắc hoàn toàn chỉ là chuyện bịa đặt.

Chính Lê Duẫn đã tuyên bố: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc” (Vũ Thư Hiên, “Đêm Giữa Ban Ngày”). Chủ trương này trùng hợp với lời xách động của Tố Hữu:

“Giết, giết nữa bàn tay không phút nghỉ
Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong
Cho Đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng
Thờ Mao chủ tịch, thờ Sit-ta-lin bất diệt…”

Thi sĩ Phùng Quán trong phong trào Trăm Hoa Đua Nở đã nhận xét rất đúng về người Cộng Sản: “Những con người tiêu máu của dân như tiêu giấy bạc giả.


Chiếc cầu Hiền Lương chia đôi nước Việt Nam ngày nay đã được nhà cầm quyền Cộng Sản coi như một di tích lịch sử và không còn được sử dụng nữa. Một chiếc cầu mới được dựng lên song song ngay bên cạnh chiếc cầu cũ để cho xe cộ lưu thông. Bên phía Bắc chiếc cầu, Cộng Sản cho xây một kỳ đài vĩ đại cắm cờ đỏ sao vàng, tượng trưng cho chiến thắng. Còn phía Nam cầu thì không được quan tâm tới. Nhưng sự thực không thể che dấu được là quang cảnh nghèo đói, với những ngôi nhà tranh vách đất bên phía Bắc cầu. Trong khi đó, ở phía Nam, nhà cửa khang trang của Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn đó. Người Cộng Sản chỉ quan tâm đến việc xây kỳ đài phô trương chiến thắng mà coi thường đời sống kinh tế ấm no của dân chúng.

Người ta tự hỏi: Tại sao Hồ Chí Minh không chủ trương thống nhất đất nước bằng con đường hòa bình, thương yêu, không trả thù, không tập trung cải tạo như Đông và Tây Đức?
Hơn ba triệu người của cả hai miền Nam Bắc Việt Nam đã bị thương vong, khốn khổ trong cuộc chiến dòng dã trên 20 năm, chỉ vì Hồ Chí Minh đã coi thường sinh mạng của người dân. Đó là chưa kể đến khoảng 500 ngàn người bỏ xác nơi biển sâu, rừng thẳm trên đường vượt biên trốn chạy Cộng Sản để đi tìm Tự Do sau ngày Quốc Hận Đỏ. So với cuộc chiến Việt Pháp từ năm 1946 đến 1954, con số tử vong chưa tới 100 ngàn người. (Hình phải : Pa nô(panneau) phía nam trên sông Bến Hải)
Cái tiền đề của Hồ Chí Minh: “Không gì quý hơn Độc Lập, Tự Do và Hạnh Phúc” đã hoàn toàn sai và đã đưa đến cảnh người dân Việt dùng vũ khí ngoại bang để sát hạt chính đồng bào mình. Nếu Hồ Chí Minh biết nghĩ rằng “Sinh mạng con người quý hơn Độc Lập, Tự Do và Hạnh Phúc” thì đã không có cảnh gia đình Việt Nam của cả hai miền phải có những thân nhân hy sinh hoặc mất đi một phần thân thể. Rõ ràng dân tộc Việt Nam là nạn nhân của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản của ông ta trong cuộc chiến sau ngày Quốc Hận Hồng.

Trong lãnh vực thể thao, bên thắng cuộc tượng trưng cho sức mạnh và mưu trí hơn. Nhưng trong lãnh vực chính trị, kẻ thắng trận chưa chắc đã là người thật sự ái quốc, thương dân, thương nòi. Lịch sử Việt Nam đã tôn vinh nhiều vị anh hùng mà cả đời không đạt được một chiến thắng nào, ngoài tinh thần yêu nước.
Bài học lịch sử rút ra từ ngày Quốc Hận Hồng, 20-7-1954, là:

a) Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam đã toa rập với thực dân Pháp chia cắt Quê Hương Việt Nam.

b) Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đưa hai miền Nam Bắc vào một cuộc chiến tranh vô ích và không cần thiết, được gọi là “giải phóng miền Nam” hay “chống Mỹ ngụy”, khiến cho hơn ba triệu đồng bào phải hy sinh. Cái giá mà Đảng Cộng Sản VN đã phải trả cho việc thống nhất đất nước quá đắt và tàn bạo. Lịch sử hậu thế sẽ phán xét về việc này.
  
Tiến Sĩ Trần An Bài



Thứ Năm, 23 tháng 5, 2019

Tiễn Bạn Cùng Thời

Tiễn Bạn Cùng Thời 
Tưởng nhớ nhà thơ Tô Thùy Yên 
(1938 - 2019)

Bạn cùng thời bỏ ta đi 
về bên kia núi còn gì để vui 
biệt ly lời ý ngậm ngùi 
áng thơ gác bút bồi hồi cố nhân

Bạn cùng thời khóc cười chung 
mệnh ta, vận nước đã cùng cưu mang 
lệ buồn thẩm thấu trần gian 
còn vương thương khúc bạt ngàn núi sông

Bạn cùng thời về hư không 
khép tròn cõi tạm một vòng tử sinh 
bỏ qua thời ngắm tuổi mình 
chân mây cỡi hạc đăng trình chân như

Xác thân hạt bụi trầm du 
hồn phiêu lãng cuộc nhã từ tâm an 
chân kinh vọng niệm hương ngàn 
tiễn người về chốn vĩnh hằng phúc yên!

Cao Nguyên
---
Chân dung Tô Thùy Yên.
(Tranh của họa sĩ Đinh Cường) 


Thứ Tư, 22 tháng 5, 2019

Ta Về


 Ta Về  

( mến tặng Đình Đại như nỗi cảm hoài khi nghe 
bài hát "Ta Về" phổ thơ Tô Thùy Yên )


Ta về, ừ nhỉ, về đi 

để xem Hồng Lĩnh, Ba Vì còn không 
Cao Nguyên còn bạt ngàn thông 
Miền Tây còn những tấm lòng như Thơ!

Ta về vẫn chỉ là mơ 
quê hương nỗi nhớ bên bờ sử thi 
ta về trên những lối đi 
nghe lời đồng vọng giữa bi lụy đời!

Ta về ngắm những chơi vơi 
trên sông núi cũ đang khơi điệu buồn 
ruộng đồng khô mạch nước nguồn 
biển đang cuộn sóng quặn hồn thương đau

Ta về theo giọt lệ sầu 
chứa trong tình khúc từng câu nghẹn lòng 
đời buồn khóc cuộc lưu vong 
để tình chờ đẫm lệ hồng xót xa!

Cao Nguyên




Ta về - một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai...
Sao bỗng nghe đau mềm phế phủ?
Mười năm, đá cũng ngậm ngùi thay


Vĩnh biệt ta-mười-năm chết dấp
Chốn rừng thiêng im tiếng nghìn thu
Mười năm, mặt xạm soi khe nước
Ta hóa thân thành vượn cổ sơ



Ta về qua những truông cùng phá
Nếp trán nhăn đùa ngọn gió may
Ta ngẩn ngơ trông trời đất cũ
Nghe tàn cát bụi tháng năm bay



Chỉ có thế. Trời câm đất nín
Đời im lìm đóng váng xanh xao
Mười năm, thế giới già trông thấy
Đất bạc màu đi, đất bạc màu...



Ta về như bóng chim qua trễ
Cho vội vàng thêm gió cuối mùa
Ai đứng trông vời mây nước đó
Ngàn năm râu tóc bạc phơ phơ



Một đời được mấy điều mong ước?
Núi lở sông bồi đã lắm khi...
Lịch sử ngơi đi nhiều tiếng động
Mười năm, cổ lục đã ai ghi?



Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cảm ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi



Tưởng tượng nhà nhà đang mở cửa
Làng ta, ngựa đá đã qua sông
Người đi như cá theo con nước
Trống ngũ liên nôn nả gióng mừng



Ta về như lá rơi về cội
Bếp lửa nhân quần ấm tối nay
Chút rượu hồng đây, xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc biển dâu này



Ta khóc tạ ơn đời máu chảy
Ruột mềm như đá dưới chân ta
Mười năm chớp bể mưa nguồn đó
Người thức nghe buồn tận cõi xa



Ta về như hạt sương trên cỏ
Kết tụ sầu nhân thế chuyển dời
Bé bỏng cũng thì sinh, dị, diệt
Tội tình chi lắm nữa, người ơi!



Quán dốc hơi thu lùa nỗi nhớ
Mười năm, người tỏ mặt nhau đây
Nước non ngàn dặm, bèo mây hỡi
Đành uống lưng thôi bát nước mời



Ta về như sợi tơ trời trắng
Chấp chới trôi buồn với nắng hanh
Ai gọi ai đi ngoài quãng vắng?
Phải, ôi vàng đá nhắn quan san?



Lời thề truyền kiếp còn mang nặng
Nên mắc tình đời cởi chẳng ra
Ta nhớ người xa ngoài nổi nhớ
Mười năm, ta vẫn cứ là ta



Ta về như tứ thơ xiêu tán
Trong cõi hoang đường trắng lãng quên
Nhà cũ, mừng còn nguyên mái, vách
Nhện giăng, khói ám, mối xông nền



Mọi thứ không còn ngăn nắp cũ
Nhà thương khó quá, sống thờ ơ
Giậu nghiêng cổng đổ, thềm um cỏ
Khách cũ không còn, khách mới thưa...



Ta về khai giải bùa thiêng yểm
Thức dậy đi nào, gỗ đá ơi!
Hãy kể lại mười năm mộng dữ
Một lần kể lại để rồi thôi



Chiều nay, ta sẽ đi thơ thẩn
Thăm hỏi từng cây những nỗi nhà
Hoa bưởi, hoa tầm xuân có nở?
Mười năm, cây có nhớ người xa?



Ta về như đứa con phung phá
Khánh kiệt đời trong cuộc biển dâu
Mười năm, con đã già như vậy
Huống mẹ cha, đèn sắp cạn dầu...



Con gẫm lại đời con thất bát
Hứa trăm điều, một chẳng làm nên
Đời qua, lớp lớp tàn hư huyễn
Hạt lệ sương thầm khóc biến thiên



Ta về như tiếng kêu đồng vọng
Rau mác lên bờ đã trổ bông
Cho dẫu ngàn năm, em vẫn đứng
Chờ anh như biển vẫn chờ sông



Ta gọi thời gian sau cánh cửa
Nỗi mừng ràn rụa mắt ai sâu
Ta nghe như máu ân tình chảy
Tự kiếp xưa nào tưởng lạc nhau



Ta về dẫu phải đi chân đất
Khắp thế gian này để gặp em
Đau khổ riêng gì nơi gió cát...
Hè nhà, bụi chuối thức thâu đêm



Cây bưởi xưa còn nhớ trắng hoa
Đêm chưa khuya lắm, hỡi trăng tà!
Tình xưa như tuổi già không ngủ
Bước chạm khua từng nỗi xót xa



Ta về như giấc mơ thần bí
Tuổi nhỏ đi tìm những tối vui
Trăng sáng lưu hồn ta vết phỏng
Trọn đời, nỗi nhớ sáng không nguôi



Bé ơi, này những vui buồn cũ
Hãy sống, đương đầu với lãng quên
Con dế vẫn là con dế ấy
Hát rong bờ cỏ, giọng thân quen



Ta về như nước tào khê chảy
Tinh đẩu mười năm luống nhạt mờ
Thân thích những ai giờ đã khuất?
Cõi đời nghe trống trải hơn xưa



Người chết đưa ta cùng xuống mộ
Đêm buồn, ai nữa đứng bờ ao
Khóc người, ta khóc ta rơi rụng
Tuổi hạc, ôi ngày một một hao



Ta về như bóng ma hờn tủi
Lục lại thời gian, kiếm chính mình
Ta nhặt mà thương từng phế liệu
Như từng hài cốt sắp vô danh



Ngồi đây, nền cũ nhà hương hỏa
Đọc lại bài thơ buổi thiếu thời
Ai đó trong hồn ta thổn thức?
Vầng trăng còn tiếc cuộc rong chơi



Ta về như hạc vàng thương nhớ
Một thuở trần gian bay lướt qua
Ta tiếc đời ta sao hữu hạn
Đành không trải hết được lòng ta



 Tô Thùy Yên

Thứ Hai, 20 tháng 5, 2019

Ngày Ghi Ơn

Ngày Ghi Ơn
cuối tháng năm, nghĩa trang buồn tiếng gió
vườn mộ Người hoa nở đỏ trong tim
những tiếng khóc lặng yên vừa trở giấc
nghe thân thương theo mạch đất rong tìm


tìm Người đến nơi cõi về vĩnh viễn
khoát tay chào trận tuyến phía sau lưng
giữa ánh nến chập chùng đêm đưa tiễn
hoa trao Người từng cánh lệ rưng rưng!


Ngày Ghi Ơn - nhớ Người, ta về phố
thành phố bình yên hoa nở bốn mùa
trời cuối tháng năm, đất buồn nhịp thở
vi vu thầm câu chuyện chiến trường xưa


nghe rõ cả những ước mơ rơi vỡ
trong những trái tim ngóng đợi giao mùa
mùa của lúa xanh mọc trên lửa đỏ
mùa của sen hồng ngát giữa hố bom


mỗi giao mùa, tim quặn nghìn tiếng nấc
chiến tranh đau và nhức nhối hòa bình
Người ở giữa thành phố này rất thật
một đời đi tất bật đến vô thường!


Cao Nguyên

Lễ Khánh Thành Bia Đá Tưởng Niệm 130 Chiến Sĩ Hoa Kỳ

Lễ Khánh Thành Bia Đá Tưởng Niệm Chiến Sỹ Hoa Kỳ Hy Sinh & Mất Tích Trong Thời Gian Phục Vụ Tại Việt Nam của Quận Montgomery - 21/5/2018


Bia Tưởng Niệm sẽ ghi danh, để tưởng nhớ đến 130 Chiến Sỹ Hoa Kỳ là công dân của Quận Montgomery đã hy sinh, hay mất tích trong thời gian phục vụ tại Việt Nam. Đồng thời trong buổi lễ này cũng để vinh danh 11,313 cựu Chiến Sỹ Quân Lực Hoa Kỳ, cũng là công dân của Quận Montgomery đã phục vụ tổ quốc, trong thời gian chiến tranh Việt Nam từ 1955-1975. 

Đặc biệt cùng tham dự, và phát biểu trong buổi lễ có cựu Hải quân Trung Tá Everett Alvarez Jr., người phi công Hoa Kỳ đầu tiên bị bắn rơi tại vịnh Bắc Việt, và là tù binh bị đọa đày lâu nhất, với 8 năm và 7 tháng. Ông hiện là cư dân của quận Montgomety. 

Cũng trong buổi lễ này, trong số những vòng hoa dâng đặt tại Bia Tưởng Niệm, lần đầu tiên có vòng hoa của Hội Cao Niên Việt Mỹ – Maryland (VASA). 


Thứ Năm, 2 tháng 5, 2019

Phong trào vận động Việt Nam Cộng Hòa trở lại

Tưởng niệm Tháng Tư Đen tại Washington, D.C.: Lan tỏa phong trào vận động VNCH trở lại 


Ông Timothy J.Hannigan, chủ tịch Ủy Ban Cộng Hòa Fairfax County, thay mặt Thượng Nghị Sĩ Dick Black đọc Nghị Quyết 455. (Hình: Mai Khanh/Người Việt)
WASHINGTON, D.C. (NV) – Chiều 30 Tháng Tư, 2019, buổi họp báo về Tháng Tư Đen do Ban Vận Động VNCH tổ chức đã diễn ra tại phòng Zenger Room của Hội Báo Chí Quốc Gia Mỹ đặt tại thủ đô Washington, D.C. Hơn 20 nhân vật là cựu sĩ quan quân đội VNCH, phu nhân và đồng hương tại vùng Đông Bắc (Washington, D.C., Maryland và Virginia) cùng các khách mời, cơ quan truyền thông báo chí Mỹ và các báo đài tiếng Việt địa phương đến tham dự.
Trong không khí trầm ấm và xúc động, mọi người cùng ôn lại những cột mốc và những điều đáng nhớ về sự xâm chiếm và đổ bộ của quân Bắc Việt với sự tiếp tay của Trung Cộng tạo nên Tháng Tư Đen.
Bà Đỗ Tú Anh, phó chủ tịch Ủy Ban VNCH vùng Washington, D.C., Maryland và Virginia, trang trọng đọc Bản Nhận Định của Phong Trào Vận Động VNCH Trở Lại nhân dịp tưởng niệm 44 năm Tháng Tư Đen.
Ngoài ra, Giáo Sư Stephen B.Young, đại học University of Minnesota, đã gửi bài viết chủ đề “VNCH vẫn sống mãi” đến những người tham dự với niềm tin VNCH sẽ được phục hồi trong một ngày không xa.
Phát biểu tại buổi họp báo, ông Timothy J.Hannigan, chủ tịch Ủy Ban Cộng Hòa Fairfax County, thay mặt Thượng Nghị Sĩ Dick Black (Cộng Hòa-Ðịa Hạt 13) đọc Nghị Quyết 455 của Lưỡng Viện Quốc Hội Tiểu Bang Virginia nhằm phục hồi danh dự cho miền Nam tự do và các chiến sĩ đã chiến đấu dưới màu cờ vàng ba sọc đỏ. Nghị quyết gồm tất cả 25 điều khoản hoàn toàn ủng hộ và đề cao cuộc chiến đấu kiêu hùng của quân, dân miền Nam cũng như những đóng góp đáng kể của cộng đồng người Việt tự do sau khi sang Mỹ và đến định cư ở Virginia.
Ông Dick Black là một cựu chiến binh Mỹ, đã từng phục vụ ba lần ở Việt Nam, từ 1969 đến 1972. Ông từng đóng quân tại cảng Đà Nẵng với các binh sĩ VNCH và chứng kiến họ chiến đấu không nao núng. Sau đó trong quá trình tham gia dạy tiếng Anh cho thuyền nhân Việt Nam ở Okinawa (Nhật Bản) ông đã kinh ngạc về sự lạc quan của họ đối với cuộc sống và lòng trung thành với đất nước.
“Tôi dám nói rằng lịch sử đã cho thấy tự do rất khó bị đàn áp, dù những kẻ độc tài cố gắng phá hủy nó nhưng nó vẫn tiếp tục bật lên,” ông Dick Black được trích lời nói. Ông nhấn mạnh những ai tin tưởng vào VNCH, những người muốn đem lại tự do cho Việt Nam thì tự do cuối cùng cũng sẽ trở về Việt Nam.
Tham dự buổi họp báo ông Carmen Russell, chủ tịch Ủy Ban Nhà Báo Quốc Tế, cũng bày tỏ sự thán phục về quá trình đấu tranh bền bỉ của những người VNCH yêu nước theo đuổi con đường đấu tranh tự do dân chủ.
Trả lời phỏng vấn nhật báo Người Việt, ông Hồ Văn Sinh, chủ tịch Ban Vận Động VNCH, cho biết đây là lần thứ hai buổi họp báo được diễn ra ngay tại trụ sở của Hội Báo Chí Quốc Gia Mỹ. Tất cả các thành viên ủy ban và các thiện nguyện viên đã dành cả tháng trời để tổ chức lễ tưởng niệm này với mong muốn ngày càng nhiều người ngoại quốc hiểu được Tháng Tư Đen cũng như hiểu về Sài Gòn một cách đầy đủ.
Bà Kim Oanh, 83 tuổi, ở thành phố Falls Church (Virginia), mặc áo dài vàng đến rất sớm nói: “Mấy chục năm qua hễ giờ nào ngày nào tổ chức biểu tình, đi treo cờ là tôi đều hào hứng. Tôi mừng lắm khi thấy lớp trẻ kế thừa vẫn tiếp tục cùng cha ông. Nay đã già nhưng tôi tới dự để làm chỗ dựa và ủng hộ tinh thần với niềm tin lớn là một ngày không xa VNCH sẽ trở lại hùng mạnh, đem lại nhân quyền, tự do, dân chủ cho đất nước và đồng bào Việt Nam.
Mai Khanh/Người Việt (từ Washington, D.C.)