Thứ Ba, 23 tháng 10, 2018

Hiệp Định Hòa Bình Paris 1973

Hiệp Định Hòa Bình Paris 1973 còn hiệu lực không?

Hiệp Định Hòa Bình Paris được ký kết ngày 27 tháng giêng năm 1973 nhằm mang lại hòa bình và quyền tự quyết cho người dân miền Nam, qua đó họ có thể lựa chọn thể chế chính trị, lựa chọn những người nắm chính quyền của đất nước. Tuy nhiên sau khi ký kết xong, đợi quân đội Hoa Kỳ rút lui theo tinh thần hiệp định, cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm miền Nam bằng vũ lực.

Bắc Việt lý luận rằng họ cần phải giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, nhưng trên thực tế họ áp đặt một chế độ độc tài sắt máu, cướp của, giết người dân miền Nam, đặt cả miền Nam trong vòng bắt bớ, giết chóc, máu lửa hận thù đi ngược lại tinh thần hiệp định Paris.

Cộng sản Bắc Việt tưởng rằng làm như thế là qua mặt được người dân miền Nam và cộng đồng quốc tế đang lúc chán ghét chiến tranh vào thời điểm đó. Tuy nhiên, Trời hại kẻ gian ! Hiệp định Paris không có ngày hết hạn và vì bị cưỡng chế, chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũng không chết. Cho đến ngày hôm nay hiệp định Hòa Bình Paris vẫn còn là một cái thòng lọng đang thắt vào cổ bọn cộng sản vô thần.

Để tìm hiểu về hiệp định Paris, chúng ta phải tìm hiểu ba văn kiện đã được ký kết riêng lẻ nhưng bổ túc cho nhau:

- Hiệp Định Hòa Bình Paris ký ngày 27 tháng 1 năm 1973.
- Định ước quốc tế do Liên Hiệp Quốc và 12 nước trọng tài ký kết ngày 3 tháng 2 năm 1973.
- Public Law 93559 của Hoa Kỳ, ký kết ngày 30 tháng 9 năm 1974.

Những văn bản này có thể xem chi tiết theo link dưới đây: 
Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ trình bày những nét chính của ba văn kiện nói trên.

@

1. Hiệp Định Hòa Bình Paris 1973:
Hiệp Định Hòa Bình Paris 1973 được ký kết ngày 27 tháng 1 năm 1973, gồm có 9 chương 23 điều và không có ngày hết hạn.. Bốn bên đã ký vào Hiệp định Paris là Hoa Kỳ, Cộng sản Bắc Việt, Việt Nam Cộng Hòa và Mặt trận Giải phóng Miền Nam. Cần phải ghi chú là Mặt trận Giải phóng Miền Nam chỉ là một sản phẩm do Cộng sản Bắc Việt đẻ ra để làm phương tiện xâm chiếm miền Nam.

- Điều 5 quy định rằng trong vòng 60 ngày các lực lượng ngoại nhập phải rút lui khỏi Miền Nam.

- Điều 9: người dân miền Nam được quyền tự quyết trong việc bầu cử chính quyền theo thể thức tự do dân chủ. Các nước ngoài không được áp đặt thể chế chính trị hay cá nhân với người dân miền Nam.

- Điều 11: Thực hiện hòa giải dân tộc, xóa bỏ thù hận, cấm mọi hành động trả thù. Các quyền tự do căn bản của người dân được tôn trọng nhưng tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, tự do cư trú...

Việt cộng đã vi phạm gần như mọi điều khoản mà họ đã ký kết. Sau khi Hoa Kỳ rút quân về nước, Bắc Việt tấn công tiến chiếm miền Nam áp đặt chế độ độc tài đặt toàn thể nước Việt Nam dưới ách thống trị của Đảng cộng sản Việt Nam. Lúc đầu họ khoe khoang rằng họ lợi dụng tình thế khi Mỹ rút quân về, họ họp Bộ Chính Trị lại và quyết định tiến chiếm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Nhưng về sau họ thấy nói như vậy là bị hố, vi phạm trầm trọng Hiệp định Paris, nên họ không còn khoe khoang như thế nữa.

2. Định ước Quốc tế bảo đảm thực thi Hiệp định Paris
Định ước Quốc tế bảo đảm thực thi Hiệp định Paris được ký kết ngày 2 tháng 3 năm 1973 dưới sự chủ tọa của Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc và được 12 nước trọng tài ký kết để biến Hiệp định Paris thành Hiệp định mang tính chất quốc tế không phải chỉ là của Hoa Kỳ và Việt Nam. 12 nước đã ký kết vào Hiệp định là Canada, Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Hungary, Ba Lan, Indonesia, Việt Nam Cộng hòa, Liên Xô, Trung cộng, Bắc Việt và Mặt trận Giải phóng Miền Nam.

Tổng cộng có chín điều trong định ước quốc tế này, với nội dung phát biểu tôn trọng, cổ súy Hiệp định Paris, tôn trọng quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam. Đặc biệt điều 7 cho biết rằng khi cần tái họp Hiệp Định Paris có hai cách khác nhau:

a- Hoa Kỳ và Bắc Việt cùng yêu cầu.
b- 6 trong số 12 nước ký kết cùng yêu cầu.

Theo sự hiểu biết của người viết thì cho đến ngày hôm nay đã có 5 nước đồng ý tái họp Hiệp định Paris đó là Anh, Pháp, Canada, Indonesia và Việt Nam Cộng Hòa. Người ta chỉ cần một nước nữa là Hoa Kỳ đồng ý là Hiệp định Paris sẽ được tái hợp.

3. Ðạo luật Hoa Kỳ Public Law 93559:
Ðạo luật Hoa Kỳ Public Law 93559 là một đạo luật của Hoa Kỳ do quốc hội ký kết ngày 30 tháng 9 năm 1974, sau khi nhận thấy cộng sản Bắc Việt vi phạm trầm trọng Hiệp định Paris và tấn công Miền Nam.. Ðây là một đạo luật dài liên quan tới nhiều vấn đề . Những  điều 34 của đạo luật này liên quan tới Việt Nam.

Ðiều 34 của đạo luật này phát biểu để giảm thiểu sự đau khổ của người dân Đông Dương và thiết lập Hòa Bình thật sự trong khu vực, Quốc hội HK khẩn khoản yêu cầu Tổng thống, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao thi hành các việc sau đây:
- điều 1, 2, 3: ...
- điều 4: tái họp Hiệp định Paris để thi hành đầy đủ các điều khoản đã ký kết ngày 27 tháng 1 năm 1973 cho mọi phe nhóm có mâu thuẫn ở Việt Nam.

Như vậy Quốc hội Hoa Kỳ đã có luật yêu cầu tái họp Hiệp định Paris nhưng chưa được Hành Pháp thi hành mà thôi.

4. Chính phủ Việt Nam Cộng hòa chưa chết. 
Trên nguyên tắc chính phủ Việt Nam Cộng hòa phải cáo chung sau khi Hiệp định Paris được thi hành trọn vẹn, sau khi người dân miền Nam có cơ hội bầu cử Chính phủ cho riêng mình. Tuy nhiên, vì cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm miền Nam vào năm 1975, chà đạp lên Hiệp định Paris, cho nên chính phủ Việt Nam Cộng hòa chưa chết. Ðó là một chính phủ pháp định của miền Nam Việt Nam. Sau năm 1975 thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn ra hải ngoại, có đại diện cho miền Nam nạp hồ sơ Trường Sa Hoàng Sa lên Liên Hiệp Quốc.

Ngày nay tuy thủ tướng Nguyễn Bá cẩn đã qua đời, nhưng những người trong nội các của ông vẫn còn. Người dân Việt Nam cần phải giúp đỡ những vị này để chính phủ Việt Nam Cộng hòa vẫn mang tính chất liên tục và pháp định.

5. Kết luận 
Sau khi ký kết Hiệp định Paris năm 1973, cộng sản Bắc Việt đã chà đạp lên Hiệp định Paris, tiến chiếm miền Nam, cướp mất cơ hội của người dân miền Nam được sống trong hòa bình và trong thể chế tự do dân chủ. Tội ác này của cộng sản Việt Nam không che dấu được ai và Hiệp định Paris cho đến ngày hôm nay vẫn còn hiệu lực.

Ngày nay tình hình biển Đông càng ngày càng trở nên sôi động. Trung cộng lấn lướt các nước nhỏ, muốn chiếm biển Đông để làm của riêng mình. Tổng thống Trump có thể phải dùng tới Hiệp Định Paris để giải quyết vấn đề, để hóa giải hiệp đồng bán nước và cướp nước của Việt cộng và Trung cộng.

Người Việt Cộng Hòa cần phải lập một chính phủ Pháp định để tạo thế đứng hợp pháp cho mình. Đảng Cộng Sản phải rút lui khỏi Miền Nam và bọn Trung cộng phải trả lại Hoàng Sa và Trường Sa cho Việt Nam. Theo sự phân định lãnh thổ trước năm 1975, chỉ có miền Nam Việt Nam mới có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Tóm lại, nếu được sử dụng đúng cách, Hiệp định Paris có thể mang lại độc lập, hoà bình, tự do dân chủ cho miền Nam Việt Nam trước và sau đó cho cả đất nước Việt Nam.

San Jose, ngày 21 tháng 10, năm 2018,
Trần Long,

Thứ Năm, 2 tháng 8, 2018

Giới Thiệu Tuyển Tập “Mưa Nắng Bên Đời” Của Yên Sơn


Hắn cứ sống với sức sống vươn lên trong cái ảo tưởng, mơ hồ như một người khách lạ. Hắn luyến tiếc quá tuổi thanh xuân cho nên rất ít khi hắn công nhận là hắn đã đứng bên kia một nửa cuộc đời! Hắn không sợ già nhưng hắn không muốn chấp nhận. Chưa làm được việc gì nên trò nên trống mà đã già rồi thì nghe… thê thảm lắm!
Đó chính là tâm sự của Yên Sơn.
Đọc đoạn này, hẳn nhiều người trong chúng ta cảm thấy chạnh lòng. Chúng ta, ở đây, là những người đã quá nửa đời người, tức quá tuổi 50!
Nhìn lại quãng đời thanh xuân ấy, mấy ai không cảm thấy buồn. Biết bao ước vọng tuổi trẻ không thành, rồi cuộc sống cơm áo gạo tiền cứ cuốn đi… cuốn đi. Dù đó là những người may mắn được sinh ra ngay tại nước Mỹ này, cũng không mấy ai đạt được ước nguyện tuổi trẻ.
Nhưng Yên Sơn không sinh ra tại đất nước tự do và giàu có Hiệp Chủng Quốc, ông sinh ra tại một mảnh đất nghèo nàn. Tuổi trẻ của Yên Sơn là tuổi trẻ ngập tràn khói lửa. Khi nhìn lại mình, Yên Sơn tâm sự:
Có thể trong chiến tranh khốc liệt xưa kia, hắn đã không thể sống hết mình, sống buông thả như bao nhiêu người khác. Hắn đã sống một cuộc sống mà người đời thường cho là mẫu mực, nề nếp vì hắn tự nguyện đánh ván bài “được ăn cả, ngã về không”, có nghĩa là nếu số phận an bài cho hắn sẽ làm được gì trong đời thì nhất định không thể chết bất tử được. Hắn lo xây dựng tương lai trước sự ra đi vội vã của bạn bè hàng ngày; hắn cố bồi đắp cho tương lai trong những hoang tàn, đổ nát, khốc liệt của chiến tranh…
Yên Sơn – như hàng hàng lớp lớp thanh niên – đã cầm súng chiến đấu để bảo vệ cuộc sống của chính ông và của hàng triệu đồng bào miền Nam trước làn sóng xâm lược tàn khốc của phương Bắc!
Yên Sơn và hàng hàng lớp lớp người lính Việt Nam Cộng Hòa luôn luôn tâm nguyện rằng:
Nếu có chết cũng nên chọn cái chết oai hùng trong sự thanh bạch bản thân để trả ơn tác tạo của mẹ cha, và để lại cho những người thân yêu niềm thương mến và hãnh diện.
Những đoản văn ở trên, được trích trong: “Những Khởi Đầu Của Một Gã Tha HươngMột truyện ngắn trong tuyển tập Mưa Nắng Bên Đời của Yên Sơn.
Về tuyển tập này, nhà văn Nguyễn Mạnh An Dân, cựu Chủ tịch Trung Tâm Văn Bút Nam Hoa Kỳ đã có nhận xét như sau:
Mưa Nắng Bên Đời, đề tựa của tác phẩm tự nó đã hé lộ, nhưng không thể nói hết những gì tác giả muốn gởi gắm. Đời lắm sắc màu, đời trăm hướng rẽ, có đầy rẫy khổ đau và hạnh phúc. Cũng có thể có những lúc tràn ngập tiếng cười, phủ phê hạnh phúc; cũng có thể có những lúc u ám màu đen, nhầy nhụa nước mắt. Tuy nhiên, mưa nắng trong tác phẩm của Yên Sơn  dòng đời của một thanh niên Việt Nam thế hệ trên dưới thập niên 1940  không chỉ là những buồn vui, những hạnh phúc, những khổ đau mang tính cá nhân mà dòng đời đó đã gắn liền với những bi kịch của một đất nước, những thảm họa của cả một dân tộc, có kiên cường chiến đấu, có anh dũng hy sinh, có tự hào hãnh diện, nhưng cũng có chua cay bi uất, có cả u uẩn lưu lạc…
U uẩn lưu lạc của Yên Sơn gắn liền với bi kịch của đất nước.
Ta bỏ đời ta sống đời người khác
Kể từ khi giặc phương Bắc tràn vào
Tránh được đòn thù, ôm chặt nỗi đau
Nơi viễn xứ, 28 năm, thậm khổ
28 năm biết bao nhiêu giông tố
Rớt xuống đời, vướng từng bước chân qua
Đất bỗng gần hơn, trời mỗi lúc một xa
Nợ cơm áo nặng hơn tình quê cũ
(Tầm Gửi  – 4/2003)
Nhưng, Yên Sơn – như một người đàn ông, một người chiến sĩ, và hơn hết, một người có học võ – đã không cho phép mình được tỏ ra yếu đuối trước nghịch cảnh, trước kẻ thù.
Nhưng, trong những giờ phút lặng lẽ đêm giao thừa, người chiến binh ngày nào không ngăn được nỗi niềm u uẩn trào dâng.
Đêm giao thừa, tôi gạo bài, trả nợ
Áo cơm đời này: sớm học, chiều thi
Kiến thức ABC ngẫm có ích gì
Mà căng mắt, mà miệt mài khuya sớm
Pháo vẫn nổ ầm vang như xung trận
Nghe buồn ơi… ngày xưa cũ hiện về
Giao thừa nào… rừng núi với sơn khê
Ngồi đốt lửa chia nhau từng điếu thuốc
(Tôi Với Giao Thừa)
Thời sinh tiền, Horace đã để lại một câu nói bất hủ: Không Có Bài Thơ Nào Được Viết Ra Từ Kẻ Chỉ Uống Nước Lã (No Poem Was Ever Written By A Drinker of Water). Qua những vần thơ Yên Sơn, ta mới thấy thấm thía câu nói của nhà thi bá La Mã. Những ai sống an nhàn, bình yên, chắc chắn không thể viết được những dòng thơ khiến người đọc dù không từng uống chung chén đắng cũng phải thinh lặng, để lòng tràn ngập nỗi chua xót, ngậm ngùi.
Tuy nhiên, thơ dù hay đến đâu, cũng không thể diễn tả hết những điều phong phú của cuộc sống. Mà… Yên Sơn lại là một người có đời sống rất phong phú. Như Nguyễn Mạnh An Dân đã mô tả như sau:
Kẻ ly hương vẫn phải gượng đứng vững trên đôi chân của mình bước tới, có vinh, có nhục, có buồn, có vui và ánh sáng đã bắt đầu le lói. Kẻ ly hương lần hồi xa rời những nông trại hoang vắng nắng cháy da người, những công việc chân tay luôn đẫm mồ hôi, những hãng xuởng ầm ầm tiếng máy để bước vào đại học, học đại… và bước vào những văn phòng nhiều người mơ ước.
Và dòng đời vẫn tiếp tục trôi theo hướng lạc quan, công việc ổn định và thăng tiến… xe mới, nhà sang, gia đình đoàn tụ đông vui, ấm áp. Hoài bão tiếp nối tinh thần võ thuật Thần Phong, niềm hãnh diện của Không Quân Việt Nam, đã thành tựu với một võ phái uy tín và tỏa sáng.
Yên Sơn với hai bàn tay trắng trong những ngày đầu tiên, với kiếp làm công, ông đã cố gắng học tiếp để trở thành kỹ sư, và rồi ông tiếp tục niềm đam mê thời trẻ để mở ra Võ Đường Thần Phong. Cuộc đời ông là những thăng trầm, những biến động mà ngôn ngữ thơ không thể kể hết. Do vây, Yên Sơn đã quyết định ghi lại với ngôn ngữ văn. Đó chính là nguyên do sự có mặt hôm nay của tuyển tập truyện ngắn Mưa Nắng Bên Đời.
Tuyển tập Mưa Nắng Bên Đời gồm có 21 truyện ngắn với những tựa đề như sau:
Giấc Mơ Phi Công / Diễm Xưa / Một Mẩu Chuyện Xưa / Chuyện Tình Mùa Chinh Chiến / Phi Vụ Cuối Cùng Của Một Tinh Long / Ra Đi Về Phía Mặt Trời Lặn / Những Khởi Đầu Của Một Gã Tha Hương / Nỗi Buồn Chiêm Dân / Đường Về Ôi Quá Dài / Một Chút Mặt Trời Trong Nước Lạnh / Một Thoáng Hương Xưa / Khúc Khuỷu Dòng Đời / Tiễn Con Đi Chiến Trường Iraq / Những Ngày Hạnh Phúc Ngắn Ngủi / Thằng Lính Trở Về / Đi Tìm Quá Khứ / Bỏ Qua Một Cơ Hội / Thêm Một Bất Ngờ / Sứ Mệnh Tinh Thần / Những Điều Chưa Nói / Muốn Nối Một Nhịp Cầu.
Chỉ qua những đề tựa này, ta thấy được một Yên Sơn – Người Văn bên cạnh một Yên Sơn – Người Thơ.
– Phảng phất đâu đó hình ảnh anh chàng phi công… đa tình! Như trong Diễm Xưa / Chuyện Tình Mùa Chinh Chiến
– Rồi hình ảnh của một gã thất cơ lỡ vận, ngơ ngác trên xứ người như trong Những Khởi Đầu Của Một Gã Tha Hương / Nỗi Buồn Chiêm Dân
– Và hình ảnh một người cha tận tụy, như trong Tiễn Con Đi Chiến Trường Iraq.
– Ta cũng sẽ thấy cả một Yên Sơn hóm hỉnh, đầy lạc quan, như trong Bỏ Qua Một Cơ Hội / Thêm Một Bất Ngờ.
Khi viết về tình yêu – đặc biệt là tình yêu của tuổi xế chiều – Yên Sơn không ngần ngại nhìn thẳng vào đáy sâu trái tim con người. Tâm tưởng của nhân vật Tuấn trong truyện ngắn Thêm Một Bất Ngờ, có thể thấy được ở rất nhiều người trong chúng ta.
Kể từ khi liên lạc lại, lúc nào Tuấn cũng ước mong hoàn cảnh đẩy đưa cách nào đó để chàng có thể gặp lại nàng. Đã có mấy cơ hội mà không bắt kịp vì cứ ngần ngừ, cứ lo sợ vu vơ. Tuấn đâm ra thích nghiền ngẫm, ngân nga bản nhạc tình “Một Lần Nào Cho Tôi Gặp Lại Em” của nhạc sĩ Vũ Thành An dù chàng không ưa mấy tư cách của vị nhạc sĩ này. Nhưng phải công nhận lời ca tha thiết quá, chàng có cảm tưởng như nhạc sĩ đã viết giùm tâm sự của chàng mặc dù không hoàn toàn đúng hết.
“Một lần nào cho tôi gặp lại em, xem đôi môi đó đến nay còn hồng. Một lần nào cho tôi gặp lại em…” nhưng không nhất thiết phải là “rồi thiên thu sẽ là nhung nhớ”. Vì đời em giờ sắp vàng chín và đời anh cũng sắp tàn úa. Chàng bâng khuâng tự hỏi, “dòng đời nào đưa em đi về đâu, sao không ghé qua đây một lần”, và “dòng đời nào đưa tôi đi về đâu những bến bờ xưa cũ đã mờ!”. Muốn bắt được cơ hội người ta phải sẵn sàng, đằng này cả chàng và nàng đều lưỡng lự khi đứng trước cơ hội nên… ước muốn vẫn luôn là ước muốn […]
Sau bữa ăn tối, Tuấn ngồi vào computer tính viết email trả lời nhưng không biết sao trong lòng thấy lưỡng lự. Sự quan tâm của nàng dành cho Tuấn và những người thân yêu trong lúc hoạn nạn quả thật đáng trân trọng. Hồi âm cho nàng chỉ là chuyện đương nhiên để chứng tỏ phép xã giao, lịch sự cần thiết giữa người với người… nhưng sao khó quá!
Có lẽ Tuấn sợ chính tấm lòng của mình hơn là ai hết. Rõ ràng nàng đang cô đơn rất cần bè bạn. Rõ ràng nàng vẫn nhớ nghĩ đến Tuấn… Dù tấm lòng người Mỹ có phóng khoáng hơn người Á châu trong cách thể hiện tình cảm; dù đã xa mặt cách lòng nhau một thời gian hơn nửa đời người… nhưng sao 42 năm đã qua với một cuộc tình rất ngắn ngủi mà ngọn lửa tình vẫn cứ âm ỷ cháy trong tim của cả hai người, chỉ sợ một cơn gió vô tình thổi qua sẽ lại bùng cháy, nguy hiểm biết bao! Nguy hiểm bởi vì Tuấn đang có một gia đình hạnh phúc. Nguy hiểm bởi cả hai tâm hồn đều lãng mạn như nhau.
Lời văn như xuyên thấu tim người, nhưng phảng phất đâu đó một nụ cười nhẹ nhàng như thể người viết muốn bày tỏ một cảm thông, một quan hoài, tới những dằn vặt rối reng của trái tim vốn dĩ rất phức tạp.
Và rồi, câu chuyện “Nàng Và Chàng” ra sao?
Elle Et Lui” là tựa đề của truyện ngắn kể lại chuyện tình của nữ sĩ George Sand với nhà thơ Alfret de Musset. Liệu người đàn ông Tuấn có như nhà thơ đa tình viết cho nàng những dòng thơ lãng mạn? Và rồi, liệu nàng có trả lời chàng với lời thơ không những lãng mạn hơn mà còn rất… thẳng thừng, là hai chữ: “Đêm Nay”?
Phần hấp dẫn ấy, xin mời tìm đọc trong truyện ngắn Thêm Một Bất Ngờ.
Trong 21 tựa đề vừa kể trên, hẳn nhiều người sẽ tò mò về cái tựa “Một Chút Mặt Trời Trong Nước Lạnh”?
Truyện bắt đầu với những tình tiết bỏng cháy da thịt:
Trên đường lái xe về nhà, đầu óc hắn tự nhiên thấy bâng khuâng, xao xuyến. Hắn lướt nhẹ mấy ngón tay trên môi, cảm tưởng những nụ hôn nồng nàn còn để lại dấu vết, mùi hương con gái còn lẩn quất đâu đây. Nhớ vòng tay ôm của cô nhỏ, nhớ cảm giác của những đường cong áp chặt vào người! Đang lan man tơ tưởng, mỉm cười với bóng tối bắt đầu phủ xuống con phố buồn, lòng hắn bỗng nhiên quặn thắt! Từ trong tiềm thức một hình ảnh thân thiết hiện lên với đôi mắt đẫm lệ buồn! Hắn tự vả vào má hắn thật đau khi chạnh lòng nghĩ tới Ngọc Anh, niềm ân hận lan tràn. Hắn tự xỉ vả hắn… ôi con người bội bạc làm sao! Hắn nghĩ ngay đến câu ngạn ngữ “xa mặt cách lòng” mà thấy đau nhói trong tim! Hắn thốt thành lời: “Ngọc Anh ơi cho anh xin lỗi!”
Thế nhưng, gã con trai không chỉ bị giằng xé giữa những mối tình, bởi vì Hắn là một gã con trai thời chiến, một gã con trai vốn đa tình, nhưng cuối cùng… “tình non sông vẫn nặng”.
Thình lình, súng nổ ran tứ phía. Hắn chạy thục mạng vì giặc Cộng rượt nà sau lưng. Càng lúc càng đuối sức! Trong đầu hắn cái chết cứ lởn vởn. Phải chi còn được khẩu súng! Hắn vô cùng tuyệt vọng nhưng nhất định không đầu hàng địch quân. Hắn tiếc khẩu Ruleau P.38 đã rớt mất khi nào không biết. Lúc đầu chạy với hắn còn có mấy thằng bạn, tới lúc này thì không còn bóng dáng nào cả khi hắn quay lại sau lưng. Khoảng cách của hắn và lũ giặc càng lúc càng thu ngắn, nhất là bầy chó dữ truy đuổi gắt gao! Hắn hoảng hốt dừng lại trước vực thẳm! Thế là hết! Không suy nghĩ gì thêm, hắn nhắm mắt nhảy xuống cùng lúc nghe tiếng súng nổ đùng đùng đùng…
Un peu de soleil dans l’eau froide” – Một chút mặt trời trong nước lạnh” của Yên Sơn là thế đó, nào đâu chỉ có ái tình nam nữ theo kiểu Sagan. Cũng là Mặt Trời, cũng là Nước Lạnh, nhưng với người-con-nước-Việt đó là những chuỗi mộng mị không ngơi về một quê hương xa xăm…
Yên Sơn viết:
Hắn trở vào giường cố dỗ giấc ngủ trở lại mà có được đâu! Cái trận chiến nội tâm quái đản cứ làm hắn miên man đắm chìm trong suy tư. Những yêu dấu Saigon đua nhau về khắc khoải.
Một Chút Mặt Trời Trong Nước Lạnh – Ánh nắng nhỏ bé lấp lánh trên mặt hồ lạnh lẽo chỉ làm tăng thêm cảm giác buốt giá.
Nhưng, Đông rồi qua, Xuân sẽ về. Nước lạnh không còn lạnh nữa mà thành ấm áp. Yên Sơn – người lính gãy súng nhưng không đầu hàng, chưa bao giờ đầu hàng – luôn luôn giữ vững Niềm Tin.
Tôi có ba đứa con đều chào đời ở Mỹ quốc,
mang ba cái tên đầy hoài vọng, quyết tâm.
Giữa chốn thị phi tôi vẫn kiên nhẫn, âm thầm
đem nhiệt huyết và tấm lòng thành những mong phục vụ.
Trong thao thức tôi biết rằng vẫn chưa tròn, chưa đủ
nên mãi tự hỏi lòng
biết có làm được gì cho thế hệ mai sau?
Hay cho đến cuối đời cũng chỉ có niềm đau
Của kẻ thua cuộc phải sống xa lìa quê hương gấm vóc.
(Thao Thức – trong Tập Thơ: Cho Quê Hương–Tôi–Và Tình Yêu)
Tất cả những thao thức của một người lính Việt, của một người con đất Việt, được Yên Sơn đưa vào thơ, đưa vào văn. Tất cả những điều ấy đã được nhà văn Nguyễn Mạnh An Dân đúc kết trong lời nhận xét sau đây:
Tôi đã nhiều lần coi Yên Sơn đánh võ, nhiều lần nhìn bàn tay dũng mãnh đánh về phía trước với ý chí quyết thắng của một dũng sĩ. Tôi đã từng nhiều lần nghe giọng nói run run đầy xúc động khi nhắc về Mẹ như một đứa trẻ thơ phát ra từ một người đã ở tuổi làm ông của các cháu nội ngoại. Tôi đã nhiều lần nhìn đôi mắt u uẩn buồn như sẵn sàng trào lệ khi Yên Sơn nói về những ngày chinh chiến, về những người bạn không bao giờ còn trở về, và tôi cũng đã từng nhiều lần nhìn khuôn mặt cương quyết, nhìn ánh mắt rực lửa khi Yên Sơn nói về những tội ác và những quyết tâm tranh đấu cho tổ quốc, cho đồng bào mình. Tôi đã từng đùa đùa, thật thật gọi Yên Sơn là người có bàn tay sắt với trái tim lụa. Trái tim lụa ấy đã từng tuôn trào những vần thơ mượt mà chuyên chở biết bao tình ý, trái tim lụa đó cũng từng khiến nhiều tâm hồn mơ màng bay bổng theo từng âm điệu réo rắt của dòng nhạc Yên Sơn. Có thể lắm, trái tim lụa của Yên Sơn sẽ đưa chúng ta vào một thế giới khác trong những trang sách.
Mưa Nắng Bên Đời – đó là thế giới của Yên Sơn, nhưng đó cũng là thế giới của biết bao người Việt tha hương luôn luôn hướng về Quê Mẹ mến yêu.
Trịnh Bình An
(Tháng Tư –
Ngày Quốc Hận
lần thứ 43) 

Thứ Sáu, 27 tháng 7, 2018

SÁU ĐIỀU TÂM NIỆM CHO BINH SĨ VIỆT NAM CỘNG HÒA


Điều 1 : Tôi là Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, nguyện chấp nhận mọi hy sinh gian khổ để chiến đấu cho sự sống còn của Tổ Quốc, của gia đình và của chính bản thân tôi.
Điều 2 : Tôi luôn luôn triệt để chấp hành các mệnh lệnh của cấp chỉ huy đề cao cảnh giác trước mọi âm mưu tuyên truyền chia rẻ của giặc cộng.
Điều 3 : Tôi yêu thương Đồng Bào, luôn luôn bảo vệ tánh mạng, tài sản và tôn trọng tín ngưỡng của Đồng Bào, tôi kính già yêu trẻ, đứng đắn với phụ nữ.
Điều 4 : Tôi tâm niệm rằng hành động làm mất lòng dân là xô đẩy dân về với phía giặc cộng, là tiếp tay cho giặc cộng, là tự sát.
Điều 5 : Tôi tuyệt đối cư xử với tù, hàng binh địch rất tử tế, không ngược đãi đánh đập họ, không động chạm đến của riêng của họ, để thêm bạn bớt thù.
Điều 6 : Thực hiện các điều trên là tôi tích cực xây đắp cho tự do của đất nước, cho hạnh phúc của toàn dân, tôi sẽ được đền đáp bằng sự cảm mến và biết ơn của Đồng Bào.

Thứ Hai, 30 tháng 4, 2018

Charlie hát cho người nằm lại




Mộ Sầu
trừ khi ngươi là thiên sứ 
đừng bao giờ hỏi tại sao 
ta ngồi chong đèn lữ thứ 
chiêu hồn viết khúc mộ sầu

trừ khi ngươi là vó câu 
đừng bao giờ buông cương vội 
lòng ta chẳng biết về đâu 
giữa đời mù sương vạn lối

trừ khi ngươi là vết thương 
đừng bao giờ nghe nhức nhối 
hận thù vết cắt còn bương 
yêu thương rịt hoài đã mỏi

trừ khi ngươi là thơ ta 
đừng đi ngang vùng hủy diệt 
trước sau một đời cũng qua 
tội chi ngắm nhìn bi thiết

ơi này thiên sứ vó câu 
mang theo vết thương về đâu 
mà còn dư âm hủy diệt 
thẩm sâu dưới đáy mộ sầu!

Cao Nguyên

Thứ Bảy, 21 tháng 4, 2018

GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG



Giỗ Tổ Hùng Vương 


Cội nguồn Việt tộc khởi từ Kinh Dương Vương, Đức Lạc Long Quân hết hợp cùng Long Nữ Âu Cơ được dân gian gọi một cách thân thương là Bố Rồng Mẹ Tiên hay Bố Lạc Mẹ Âu. Lập đền thờ Quốc Tổ Hùng Vương tại tỉnh Phú Thọ (Bắc Việt). Hằng năm tổ chức trọng thể ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba âm lịch. Ngày giỗ Tổ được dân gian xem như ngày của “Bố Rồng Mẹ Tiên” để đồng bào cả nước tưởng nhớ công ơn của người khai sáng nguồn cội giống dòng và mỗi người cũng nhớ đến Bố Mẹ, người đã sinh thành dưỡng dục chúng ta nên người. Niềm tự hào về cội nguồn con Rồng cháu Tiên cùng một bào thai Mẹ nên đối với người Việt, thì lòng yêu nước luôn luôn đi đôi với tình thương nòi giống. Yêu nước thương nòi, đó chính là đặc trưng của Việt tộc.


Thời đại Hùng Vương khởi từ năm Nhâm Tuất 2879 trước DL là năm Lộc Tục lên ngôi, lấy hiệu là Kinh Dương Vương và đặt tên nước là Xích Quỷ. Sách sử chép Kinh Dương Vương là vua của vùng Châu Kinh và Châu Dương nhưng trên thực tế vào thời đó, Kinh Dương Vương chỉ là thủ lĩnh được các bộ tộc ở vùng Châu Kinh và Châu Dương suy cử lên. Nhà nước Xích Quỷ thời đó cũng chỉ là hình thức sơ khai của liên minh các chi tộc Việt.


Kinh Dương Vương truyền ngôi cho con là Sùng Lãm năm 2793 trước Dương Lịch, Sùng Lãm lên ngôi lấy hiệu là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân thuộc dòng Thần Nông phương Nam lấy Âu Cơ, con gái của Đế Lai dòng Thần Nông phương Bắc sinh ra trăm trứng nở thành một trăm người con trai, chính là biểu tượng của sự hợp nhất của 2 dòng Thần Nông phương Nam và phương Bắc.


Truyền thuyết cũng cho biết rằng, Mẹ Âu Cơ cùng 50 người con ở lại vùng cao nguyên Phong Châu rồi cùng suy cử người con trưởng lên ngôi lấy hiệu là Hùng Vương. Bố Lạc Long dẫn 50 con về miền sông nước Thành Đô Tứ Xuyên ở phương Nam để khai khẩn vùng đất mới bồi, mỗi người con đi một nơi lập ấp trở thành một chi tộc Việt. Cổ sử Trung Quốc ghi rõ các nước Bách Việt nằm rải rác khắp Nam Trung Hoa trải dài từ Triết Giang ở miền duyên hải phía Đông sang Ba Thục, Vân Nam ở phía Tây.


Sách sử Trung Quốc ghi Đông Việt là nước Việt của Việt Vương Câu Tiễn ở Triết Giang, Mân Việt ở Hồ Bắc, Tứ Xuyên, Hồ Nam, Dương Việt ở Giang Tây, Âu Việt ở Quảng Tây, Nam Việt ở Quảng Đông, Điền Việt ở Vân Nam. Lạc Việt ở xen kẽ với các chi tộc khác nhưng tập trung nhiều nhất ở Quảng Tây và Bắc Việt Nam. Sách sử cổ Trung Quốc ghi Bách Việt để chỉ một trăm chi tộc Việt nên dân gian Việt mới gọi là "Trăm Họ" là "Bách Tính" hay "Bá Tánh". Thực tế trên đã chứng tỏ tính hiện thực của huyền thoại Rồng Tiên.


Theo những nguồn sử liệu thì thời đại Hùng Vương gồm 18 đời kể từ khi Kinh Dương Vương lên ngôi năm 2879 trước DL và chấm dứt vào đời Hùng Duệ Vương 258 trước DL. Như vậy thời đại Hùng Vương kéo dài 2622 năm, tính ra trung bình mỗi đời Vua trị vì khoảng 150 năm.


Công trình nghiên cứu của Trần Huy Bá về “Hùng Vương Sự Tích Ngọc Phả Cổ Truyện” của Nguyễn Như Đỗ thời Lê Thánh Tôn cho thấy thời đại Hùng Vương kéo dài 2622 năm gồm 47 đời vua. Theo bản “Hùng Vương Ngọc Phả” thì đời vua Chữ Hán là "Thế", "Thế" không phải chỉ một đời vua mà là một dòng vua, một triều đại gồm nhiều đời vua. Riêng chi thứ 18, chi cuối cùng của thời đại Hùng Vương gồm 3 đời vua trị vì suốt 150 năm. Hiện ở Đình Tây Đằng, huyện Ba Vì tỉnh Vĩnh Phú còn thờ bài vị "Tam Vị Quốc Chúa". Chi này chấm dứt năm Quý Mão 258 TDL vào cuối đời Chu.


Hình tượng bố Rồng mẹ Tiên mang tính thần kỳ lịch sử, là Bố Lạc Mẹ Âu trong thực tế cuộc sống nên vừa là người anh hùng huyền thoại dựng nước, vừa là anh hùng khai sáng văn hóa dân tộc. Từ đó đã dẫn tới đạo thờ cúng ông bà Tiên Tổ, tôn thờ những “Nhân Thần” đã truyền lưu sự sống cho cả dân tộc cũng như cho bản thân mỗi người chúng ta.


Truyền thống cao đẹp tôn thờ sùng kính, biểu lộ lòng tri ân Đức Quốc Tổ Quốc Mẫu, các anh hùng dân tộc cũng như thờ cúng Ông Bà Tiên Tổ biểu thị lòng hiếu thảo đối với những người sinh thành dưỡng dục, truyền lưu sự sống cho mình đã là sợi dây tình cảm thiêng liêng phối kết con dân Việt Nam từ thế hệ này sang thế hệ khác.


Ngày hôm nay, chúng ta cử hành Lễ Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương nhằm thể hiện tấm lòng thành kính của chúng ta đối với Quốc Tổ, Người khai mở ra nước Việt. Từ ý niệm “Quốc Tổ” tiền nhân chúng ta đã đảo ngược lại thành ý niệm “Tổ Quốc”, biểu trưng cho hồn thiêng sông núi, uy linh bàng bạc trong tâm khảm mỗi con dân đất Việt, mà không một dân tộc nào có được hai chữ Tổ Quốc và Đồng Bào như dân tộc chúng ta.

CN




Thứ Hai, 9 tháng 4, 2018

Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975


Có những cuốn sách ngoại khổ người đọc không biết nên đặt ở chỗ nào trên giá sách, như cuốn Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975 của Phạm Huấn, do tác giả xuất bản từ năm 1987.
Sách khổ lớn 7×10 phân Anh, dày 280 trang, trình bày mỹ thuật bởi một bàn tay nhà nghề (điêu khắc gia Mai Chửng), song kỹ thuật rõ ràng của một nhà in tị nạn ở San Jose, gáy sách khô cứng chất keo nấu dở, giấy bung ra từng tờ. Như nhan đề, đây là một cuốn sách thuật sự, về một cuộc rút quân trong quá khứ, mở đầu sự sụp đổ của một thể chế, như thế đây là một ký sự lịch sử chiến sự, kể lại giai đoạn cuối cùng của một quốc gia trong đó tác giả là một nhân chứng, hơn thế nữa, cũng là một nhân vật tham dự ít nhiều vào thế sự và chính sự, hơn thế nữa ông còn là sĩ quan báo chí của một trong bốn vùng chiến thuật của một trong bốn quân đoàn, một trong bốn ông tướng tư lệnh Quân Ðội Quốc Gia.
Tác giả Phạm Huấn thật sự đã viết sử, cuốn sách là một sử liệu, và với sử liệu này, được viết với tấm lòng như lửa, với các sự kiện có thật, có ngày giờ khi sự việc xảy ra, cuốn sách là một “bạch thư” về “quân sử và chính sử Việt Nam thời thập niên ’70.”
Tại sao gọi là bạch thư? Tôi không tìm được chữ nào hơn. Tra bốn cuốn từ điển, cả từ điển văn học, cuốn quí nhất của Ðào Duy Anh cũng không có chữ bạch thư. Cuốn khác ghi: white paper. Cuốn Nguyễn Văn Khôn không giải thích, nhưng đưa ra thí dụ: “Văn kiện công bố chính thức của Mỹ, Ðức, Nhựt, Bồ-đào-Nha và văn thư của ngoại giao Anh đều đóng bìa trắng.” Tôi đành dùng chữ này, vì “Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975” của Phạm Huấn đóng bìa trắng. Nếu cần định nghĩa khác về cuốn sách, thì đây là lời Phạm Huấn: “Tôi đã viết ra tất cả những bí mật, những cái lệnh của các tướng lãnh, lãnh đạo đất nước và quân đội, và mọi diễn biến xảy ra trong ‘Cuộc Rút Bỏ Cao Nguyên tháng 3.1975’, đưa đến sự sụp đổ tinh thần, làm tan rã QLVNCH, và mất nước sau đó. Những tiết lộ trong cuốn sách này – ngoài đoạn viết về ‘Quyết định Cam Ranh 14.3’ của 5 Tướng Thiệu, Khiêm, Viên, Quang, Phú; tất cả đều là sự thật và có chứng tích.” (Phạm Huấn, Những Giòng Chữ Cuối, trang 255, CTTCN 1975).
Tiếp theo tác giả có giải thích ông có mặt tại bạch dinh ở Cam Ranh, nhưng không được tham dự, vì đó là cuộc họp của “Hội Ðồng Tướng Lãnh.” Những gì ông biết về nội dung phiên họp, dài có hơn một tiếng đồng hồ, là do Tướng Phú kể lại với ông.
Ngoài câu trên, còn đoạn này ở cuối sách:
“Phụ Chú Ðặc Biệt: Tôi rời Phú Quốc Việt Nam buổi trưa ngày 30.4.1975. Như tất cả các nghệ sĩ đài ‘Mẹ Việt Nam’, một số nhà văn, nhà báo khác được ‘bốc’ đi vào giờ phút chót; chúng tôi lên chiếc American Challenger với một bộ quần áo đang mặc trên người và chiếc xách tay nhỏ. Hai cuốn sổ tay nhật ký hành quân gần 500 trang, ghi lại mọi diễn biến những ngày cuối cùng của chiến tranh Việt Nam, là ‘di sản’ duy nhất tôi mang theo được.
“Ðã 12 năm trong cuộc sống vô nghĩa ở đây, dù lang thang hết nơi này qua nơi khác, nhưng không bao giờ hai cuốn sổ tay nhật ký hành quân này rời xa tôi. Quyển ‘Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975’ được viết bằng những chứng tích sống thực mà tôi ghi nhận từng giờ, từng phút của 25 ngày sau cùng trên chiến trường Cao Nguyên và Quân Ðoàn II.”
Tiếp sau phụ chú là mấy trang bản sao chụp lại những ghi chép vội vàng lung tung trong hai cuốn sổ tay chỉ tác giả đọc được.
Vậy, tất cả là sự thật.
Những sự thật mà mấy hôm nay đọc cuốn sách, tôi ngạc nhiên sao anh lại qua đời vì bệnh, mà không vì một cuộc thủ tiêu, ám sát, cắt cổ, bởi một hay nhiều người, những người anh nói đến trong sách. Một điều khác cũng khiến tôi ngạc nhiên: sao một cuốn sách về Việt Nam như cuốn “Cuộc Triệt Thoái…” của Phạm Huấn, lại không được tái bản. Cuốn sách được xuất bản tháng 2, 1987, lúc ấy chương trình H.O. rất mới mẻ, các cựu quân cán chính của Việt Nam Cộng Hòa nếu đã tới được Mỹ, cũng chưa nhiều, hay người ta chưa thể bình tâm để đọc sách, khi cuộc tạm cư đã ổn định phần nào, thì cuốn sách, chắc chỉ in 500 hay 1000 cuốn, cũng đã hết. Nếu cuốn sách in ra cỡ thập niên ’90, chắc chắn phải là một cuốn sách bán chạy nhất, vì nội dung kinh hoàng của nó.
May mắn có một Bản Ðặc Biệt có chữ ký của Phạm Huấn và mấy con số ghi ngày tháng: 4/87, và có một tấm hình chụp cùng anh ở San Jose, tấm hình 4 người mà hai người kia là Hà Thượng Nhân, Bùi Ðức Lạc, từ lâu ý định viết về Phạm Huấn cứ còn là ý định. Quen anh từ đâu 1960 khi anh còn là trung úy, mới về nước sau khóa học ở Fort Benning Georgia, chúng tôi gặp nhau tại lầu 3 cao ốc Cửu Long đường Hai Bà Trưng, Sài Gòn; nơi một số ký giả văn nghệ sĩ cư ngụ, có Trần Nhã, chủ bút báo Anh ngữ Saigon Post, Lý Muối, Thái Thủy, Mai Liên, Thanh Nam và tôi. Phạm Huấn to cao, trắng trẻo, từng được gọi là Rock Hudson Việt Nam, tài tử cao lớn đóng đôi với John Wayne trong phim The Undefeateds, luôn luôn tươi sáng, hơi dềnh dàng, rất nổi tiếng trong cương vị đồng chủ trương tuần báo Diều Hâu với vị sếp của anh là Trung Tá Nguyễn Ðạt Thịnh, trưởng phòng Báo Chí Cục Tâm Lý Chiến, tờ báo đã can trường in hình 4 ông tướng ngoài bìa sau, hình rất to, dưới có hàng chữ rất lớn: 4 Tướng Bẩn. Số trước cũng in hình 4 ông tướng ra bìa trước, dưới có hàng chữ: 4 Tướng Sạch.
Phòng báo chí và tòa soạn nhật báo Tiền Tuyến nơi tôi làm việc trong 6 năm nhìn thấy nhau, hai phòng tọa lạc hình thước thợ cửa ra vào chung chu vi một mảnh sân trên khu đất ở đầu đường Hồng Thập Tự, gần sông Thị Nghè. Những ngày tháng 4, 1975, chúng tôi gặp nhau ở Phú Quốc, trên khu đất cạnh trại giam tội phạm cộng sản. Ra đây hơn một tuần lễ trước biến cố ngày 30, hình như anh đã quay về Sài Gòn mang thêm được vài người thân trở ra, còn kịp lên tầu. Trên bố cáo anh viết ngày 30 tháng 4 ở Phú Quốc, thực tế chúng tôi đã lần lượt leo lên tàu American Challenger vào đêm 29. Sáng 30 tầu đậu ngoài hải phận quốc tế đón thêm các thuyền nhân, khoảng trưa 30 tầu đậu ngoài khơi Vũng Tầu. Gia đình tôi 10 người, lại lên tàu sớm từ Phú Quốc, nên được hai chàng thủy thủ Mỹ đẩy vào một phòng. Thấy cô con gái út hơn mười tháng tôi đeo trước ngực, tình cờ mỗi chàng đem vào một thùng đồ hộp, hóa ra có hai hộp, cũng chỉ đủ ăn trong bốn ngày trên biển. Tới Hoa Kỳ, anh em Diều Hâu làm báo chống tham nhũng rủ nhau định cư ở Hawaii, làm nghề tài xế taxi.
Trích dẫn vài đoạn, vài câu trong cuốn sách:
“17 giờ ngày 30 tháng 3, 1975, Tư Lệnh Quân Ðoàn II bay ra Cam Ranh đón Tướng Ngô Quang Trưởng, tư lệnh Quân Ðoàn I, và cũng là cấp chỉ huy cũ của ông.
“Khoảng 10 phút, trên chiếc soái hạm chỉ huy của tư lệnh Hải Quân Vùng II, ra một vùng biển ngoài Cam Ranh, Tướng Phú lầm lì không nói một câu nào. Riêng Phó Ðề Ðốc Hoàng Cơ Minh, tư lệnh Hải Quân Vùng II, vẫn giữ được phong cách của một tướng lãnh chỉ huy trong vùng trách nhiệm của mình, vẫn bộ đồ xanh hải quân bạc màu, đôi cánh dù ngạo nghễ trên ngực áo. Ði sau Tướng Phú, bước lên Dương Vận Hạm 404, Phó Ðề Ðốc Hoàng Cơ Minh không đeo súng, không có cận vệ theo.
“Quang cảnh trên tàu lúc này thật náo nhiệt, …’xô bồ’. Hầu hết là anh em thuộc Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến. Quần áo trận màu xanh rần ri… Cọp Biển. Họ đứng, nằm, ngồi, chen chúc mọi nơi, mọi chỗ. Tất cả đều mệt mỏi. Không vũ khí. Không còn phong độ. Tướng Phú và Tướng Minh đi qua không ai chào hỏi, không ai nhường lối.”
“Tự nhiên tôi thấy đau buốt trong tim. Ðoàn quân Mũ Xanh Cọp Biển Thủy Quân Lục Chiến, một trong những đại đơn vị vũ bão hàng đầu của Quân Ðội, Lực Lượng Tổng Trừ Bị giống như Sư Ðoàn Nhẩy Dù. Nhưng, từ nhiều năm, Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến đã không được sử dụng như Sư Ðoàn Nhẩy Dù. Các chiến sĩ trong đoàn quân này bị đày ra Vùng Giới Tuyến, hành quân liên miên…
“Ðó là kết quả cuộc ‘hôn nhân gượng ép’ của hai tướng Nguyễn Văn Thiệu-Nguyễn Cao Kỳ, trong chức vụ tổng thống và phó tổng thống VNCH. Ðó là những nạn nhân của sự tranh giành, nghi kỵ giữa hai ‘thế lực quyền hành’, của ‘cánh phải, cánh trái’… Dinh Ðộc Lập!
“Tướng Phú và Tướng Minh, phải khó khăn lắm mới lách xuống được chỗ Tướng Ngô Quang Trưởng nằm dưỡng bệnh. Vị tư lệnh chiến trường Vùng Hỏa Tuyến, một tướng lãnh tài ba trong 7 năm liên tiếp, của những chiến trường Quân Ðoàn IV, Quân Ðoàn I; bây giờ nằm yên bất động. Ông thở thoi thóp nhờ bình nước biển, và sự tận tâm săn sóc của người quân y sĩ. Quanh ông có Tướng Khánh, tư lệnh Sư Ðoàn I Không Quân; Ðại Tá Nguyễn Hữu Duệ, thị trưởng Huế; Bác Sĩ Nghiêm, v.v…
“Tướng Phú ghé sát tai Tướng Trưởng hỏi 2 lần, nhưng sắc diện trên mặt ông không thay đổi. Nhưng rồi có một giây, Tướng Trưởng ngước nhìn lên. Cặp môi nhợt nhạt hơi nhếch đi một chút. Ðôi mắt đỏ ngầu… như muốn bật máu! Trong tia nhìn ấy, chắc những người chung quanh, cũng như tôi, biết Tướng Trưởng muốn nói gì?
“Cuộc thăm viếng… không đối thoại đúng 10 phút. (Tàn Theo Cuộc Chiến,Cuộc Triệt Thoái, tr.219-220)”

Viên Linh