Thứ Hai, 23 tháng 1, 2017

Nhạc Xuân

Di chúc Hoàng đế Trần Nhân Tông


.
Trần Nhân Tông (1258 – 1308), tên thật là Trần Khâm là vị vua thứ ba của nhà Trần (sau vua cha Trần Thánh Tông và trước Trần Anh Tông) trong lịch sử Việt Nam.
Trần Nhân Tông là vị hoàng đế có học vấn uyên bác, là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử, là người có công lớn đánh thắng quân Nguyên Mông lần thứ hai năm 1285 và lần thứ ba năm 1287.

Ông ở ngôi 15 năm (1278 – 1293) và làm Thái Thượng hoàng 15 năm. Ông là người đã thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, lấy pháp hiệu là Đầu đà Hoàng giác Điếu ngự. Ông được sử sách ca ngợi là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam.
Sau khi nhường ngôi cho con trai là Trần Anh Tông, ông xuất gia tu hành tại cung Vũ Lâm, Ninh Bình, sau đó rời đến Yên Tử (Quảng Ninh) tu hành và thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, lấy đạo hiệu là Điều Ngự Giác Hoàng (hay Trúc Lâm đầu đà). Ông là tổ thứ nhất của dòng Thiền Việt Nam này. Về sau ông được gọi cung kính là “Phật Hoàng” nhờ những việc này.
Ông qua đời ngày 3 tháng 11 âm lịch năm 1308, được an táng ở lăng Quy Đức, phủ Long Hưng, xá lỵ cất ở bảo tháp am Ngọa Vân; miếu hiệu là Nhân Tông, tên thụy là Pháp Thiên Sùng Đạo Ứng Thế Hóa Dân Long Từ Hiển Hiệu Thánh Văn Thần Võ Nguyên Minh Duệ Hiếu Hoàng Đế.
Ông đã để lại bản di chúc dặn dò con cháu, cũng là lời dặn dò cho muôn đời hậu thế nước Việt, gần ngàn năm qua vẫn còn nguyên chân giá trị.

-----------------------

*Di chúc Hoàng đế Trần Nhân Tông

Các người chớ quên , chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ , trái đạo .
Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo .
Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa nước Tàu.
Chớ coi thường chuyện vụn vặt nảy ra trên biên ải.
Các việc trên , khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn.
Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước.
Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp.
Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta .
Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái
tổ chim chích.

Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn :
" Một tấc đất của Tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác ".
Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu. "

Đọc lại di chúc của người xưa dặn dò con cháu mà không ai không chút ngậm ngùi! Chúng ta đang sống trong thời đại mà kẻ thù truyền kiếp phương Bắc của dân tộc Việt vẫn ngày đêm có những mưu toan thôn tính và áp đặt thời kỳ Bắc thuộc và giang sơn đất nước ta một lần nữa.

Ngày nay có lẽ ai còn tâm huyết với sự nghiệp mở mang bờ cõi và nhìn vào cơ đồ của tổ tiên để lại, không ai không chạnh lòng khi những gì xưa kia thuộc về giang sơn Đại Việt như ải Nam Quan, thác Bản Giốc, hàng ngàn cây số vuông tiếp giáp với phương Bắc đã bị chúng lấn chiến, quần đảo Hoàng Sa và một phần của quần đảo Trường Sa đã bị chúng ngang nhiên cưỡng đoạt mà chúng ta đành bất lực đứng nhìn…Bọn bán nước ngày càng ngang nhiên thắt chặt mối tình hữu hảo, "bạn vàng" với bọn cướp nước, ra thân khuyển mã đàn áp những người yêu nước một cách tàn bạo hơn...

Đất nước chúng ta ngày tay thật sự cần một “Minh quân” để dẫn dắt dân tộc Việt thoát khỏi vòng lệ thuộc và nô lệ phương Bắc và có một thời cơ thuận lợi, dân giàu nước mạnh mới có cơ hội để một ngày kia “Châu mới về Hợp Phố”, thỏa lòng của di huấn của của cha ông …!

Đất nước ơi! Đang trong thời mạt vận
Sản sinh một bầy Lê Chiêu Thống cầm cân …
Sự nghiệp tiên tổ, chúng cho vào quên lãng
Tiếc thay lời căn dặn của tiền nhân …!

Hoài Nguyễn - 24/01/2016


Thứ Ba, 10 tháng 1, 2017

Tết Mậu Thân 1968 tại Huế

Mỗi dịp Tết đến, người dân Việt Nam không thể quên sự kiện cộng sản Việt Nam gây nên cuộc thảm sát đồng bào ở Huế . Các chứng tích tang thương của sự kiện này rất dễ tìm thấy trong sách báo và trên các trang thông tin điện tử .
Chúng tôi chỉ xin giới thiệu lại phim " Thảm Sát Tại Huế" do VietNam Film Club thực hiện, để cùng xem và chia buồn với toàn thể gia đinh nạn nhân trong cuộc thảm sát này .
Thời gian đi qua 48 mùa Tết, nhưng lịch sử không thể sang trang những tội ác chiến tranh . Nỗi bi thảm của dân tộc cần phải được minh định bởi trách nhiệm lương tri của mỗi người Việt Nam .
Washington.DC - Jan 10, 2017
Cao Nguyên


Thứ Hai, 9 tháng 1, 2017

Ý nghĩa lịch sử trận hải chiến Hoàng Sa


Trận hải chiến Hoàng Sa ngày 19-01-1974, đã được nói và viết đến nhiều.  Nhân kỷ niệm 35 năm xảy ra trận hải chiến nầy, ở đây chỉ xin ôn lại vài ý nghĩa lịch sử của trận chiến anh dũng của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa.
1.-   VIỆT NAM CỘNG HÒA
Trước hết, cần phải ghi nhận hoàn cảnh khó khăn của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) hay Nam Việt khi trận Hoàng Sa xảy ra:  Hiệp định Paris (27-01-1973), cũng giống hiệp định Genève (20-7-1954) là hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, mà giải pháp chính trị không rõ ràng, chỉ để cho quân đội Hoa Kỳ đơn phương rút quân về nước trong danh dự mà thôi.
Trong khi quân đội Hoa Kỳ rút lui, Hoa Kỳ giảm, rồi ngưng viện trợ cho VNCH thì Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) hay Bắc Việt chẳng những không rút quân khỏi lãnh thổ VNCH, mà còn được Cộng sản Quốc tế (CSQT) tăng cường quân lực, liên tục tấn công VNCH.
Lợi dụng hoàn cảnh quân đội Hoa Kỳ rút lui và quân đội hai miền Nam và Bắc Việt Nam mải mê đánh nhau, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (CHNDTH) hay Trung Quốc đưa hạm đội hùng hậu đánh chiếm Hoàng Sa ngày 19-01-1974.
Việt Nam Cộng Hòa ở thế lưỡng đầu thọ địch (hai đầu bị địch tấn công).  Trong khi chiến đấu chống cộng sản Bắc Việt, Quân lực VNCH cương quyết chiến đấu bảo vệ tổ quốc, chống đánh tập đoàn bành trướng Bắc Kinh.  Phải nhấn mạnh là toàn thể quân dân VNCH, từ trên đến dưới, một lòng cương quyết bảo vệ lãnh thổ của tổ quốc kính yêu.
Ngày 17-01-1974, trước những tin tức về việc các chiến hạm Trung Quốc hăm dọa quần đảo Hoàng Sa, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đến thăm Bộ Tư lệnh Hải quân Vùng I Chiến Thuật, đã chỉ thị cho vị Tư lệnh HQ Vùng I là Phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, chuẩn bị chiến đấu để bảo vệ chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ.
Trong trận chiến nầy, Hải quân VNCH đã gây thiệt hại nặng nề cho hạm đội Trung Quốc, nhưng ngược lại, hạm đội Trung Quốc cũng gây thiệt hại không ít cho Hải Quân VNCH.  Chiếc tàu bị thiệt hại nặng nhất về phía chúng ta là Hộ tống hạm HQ10 do thiếu tá Ngụy Văn Thà chỉ huy.
Hộ tống hạm HQ10 bị trúng đạn ở phòng máy chánh và bị nghiêng về bên phải.  Phòng chỉ huy cũng bị trúng đạn.  Cả chỉ huy trưởng cùng chỉ huy phó đều bị thương.  Biết tình trạng chiếc tàu không thể cứu vãn, chỉ huy trưởng Ngụy Văn Thà ra lệnh cho chỉ huy phó Nguyễn Thành Trí và thủy thủ đoàn còn lại phải đào thoát.  Toàn bộ thủy thủ đoàn yêu cầu chỉ huy trưởng cùng rời tàu luôn, nhưng Ngụy Văn Thà từ chối  Ông cương quyết ở lại chết theo tàu.  Nguyễn Thành Trí xin ở lại với chỉ huy trưởng, cũng không được chấp thuận.
Ngụy Văn Thà ở lại biển Đông, hy sinh thân mạng đền nợ nước, là một anh hùng dân tộc, tiếp nối truyền thống hào hùng của Trần Bình Trọng, Trần Quốc Toản… Sự hy sinh của anh em Hải quân VNCH ở Hoàng Sa ngày 19-01-1974 càng ngày càng thêm sáng ngời, nổi bật trước sự hèn nhát của nhà cầm quyền và bộ đội CSVN, hiện đang để cho Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ, lãnh hải, mà chẳng dám lên tiếng.
2.-   VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Trước tin Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa, nhà nước Bắc Việt, đảng Lao Động tức đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) và quân đội CSVN, thường tự mệnh danh là “quân đội nhân dân anh hùng, chiến thắng cùng một lúc hai đế quốc sừng sỏ là Pháp và Mỹ”, đã hoàn toàn im lặng mà không dám lên tiếng.
Sở dĩ CSVN không dám lên tiếng vì từ năm 1950, Hồ Chí Minh đã nhiều lần sang Trung Quốc cầu viện để chống Pháp.  Đảng Cộng Sản Trung Quốc (CSTQ) đã hết sức giúp đỡ CSVN.  Trung Quốc giúp đỡ CSVN không phải vì tình nghĩa quốc tế cộng sản, mà chính vì để bảo vệ nền an ninh biên giới phía nam của Trung Quốc.  Đảng CSTQ ào ạt viện trợ cho CSVN từ 1950 đến 1954.  Viện trợ nhiều mà không có điều kiện để trả, thì chỉ còn cách duy nhất là nhượng bộ về chính trị, về giao dịch, về lãnh thổ…
Hiệp định Genève ký kết ngày 20-7-1954, chia hai nước Việt Nam tại vĩ tuyến 17, CSVN ở phía bắc và Quốc Gia Việt Nam (QGVN) ở phía nam.  (QGVN đổi thành VNCH sau cuộc trưng cầu dân ý ngày 23-10-1955.)  Vì chủ trương đánh chiếm miền Nam bằng võ lực, CSBV cương quyết từ chối đề nghị của Liên Xô năm 1957, theo đó cả hai miền Bắc và Nam Việt Nam cùng vào Liên Hiệp Quốc như hai nước riêng biệt
Ở Bắc Việt, ngày 24-5-1958, Ban bí thư Trung ương đảng Lao Động chỉ thị tổ chức học tập chủ thuyết Mác-Lê để xây dựng miền Bắc tiến lên xã hội chủ nghĩa và tiến hành cách mạng ở miền Nam.  Muốn tiến đánh miền Nam thì một lần nữa phải nhờ đến sự trợ giúp của Trung Quốc.
Vay nợ Trung Quốc từ năm 1950 chưa trả hết, nay CSVN một lần nữa lại muốn nhờ Trung Quốc tiếp tục giúp đỡ để tấn công VNCH, bành trướng thế lực cộng sản xuống phía Nam.  Đây là hai lý do chính khiến thủ tướng CSVN là Phạm Văn Đồng đưa ra công hàm ngày 14-9-1958, tán thành quyết định về lãnh hải của Trung Quốc và triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc.  Phạm Văn Đồng ký công hàm trên phải được sự đồng ý của Hồ Chí Minh và bộ chính trị đảng Lao Động lúc đó.  Quyết định nầy sẽ tạo ra những hậu quả không lường trước được.
Điểm sai lầm chiến lược lớn lao nhất, trở thành tội phản quốc, rước voi về giày mộ tổ, là CSVN đã dựa vào Trung Quốc để đánh miền Nam, viện cớ “chống Mỹ cứu nước”.  “Chống Mỹ cứu nước” chỉ là cái cớ để kích động lòng dân.  Tuy nhiên, riêng cái cớ nầy cũng đã sai lầm.  Trong lịch sử Việt Nam, Trung Quốc đã nhiều lần xâm lăng Việt Nam.  Vào thế kỷ 15, nhà Minh chẳng những xâm lăng nước ta, mà còn muốn tiêu diệt toàn bộ nền văn hóa của chúng ta, đốt hoặc tịch thu sách vở, bắt bớ nhân tài, đập phá các bia đá… Ngược lại, trong lịch sử thế giới, sau thế chiến thứ hai, những nước bị bại trận trước Hoa Kỳ đều được Hoa Kỳ viện trợ, giúp đỡ tái thiết, và đều trở nên cường thịnh: Đức, Nhật Bản, Nam Hàn… Giữa tăm tối và ánh sáng, giữa đói nghèo và thịnh vượng, CSVN đã đi vào con đường tăm tối đói nghèo, như thi sĩ Nguyễn Du đã viết: “Ma đưa lối, quỷ đem đường, / Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi.” (Kiều, câu 2665-2666).
Ngoài ra, cần chú ý rằng người Tây phương đến Việt Nam thường sẽ ra đi, vì văn hóa, phong thổ, khí hậu, đời sống người Tây phương khác hẳn với Việt Nam, nên rất ít người Tây phương chịu ở lại Việt Nam.  Ngược lại, Trung Quốc ở sát nước ta, phong thổ, khí hậu, văn hóa, văn minh, đời sống gần giống người Việt Nam, nên một khi người Trung Quốc đến nước ta, thường sẵn sàng ở lại nước ta.
Nếu Bắc Việt và Nam Việt cùng vào Liên Hiệp Quốc theo đề nghị của Liên Xô năm 1957, thi đua xây dựng kinh tế, cùng nhau phát triển đất nước, thì không thể nào Trung Quốc tiến chiếm Hoàng Sa dễ dàng được.  Đàng nầy, CSBV cố tình tiến đánh miền Nam, gây ra cuộc chiến, làm cho đất nước chia rẽ, điêu linh, yếu nghèo.  Nam Việt bận chống lại Bắc Việt, bảo vệ nền tự do dân chủ ở miền Nam.  Trung Quốc nhân cơ hội hai bên đánh nhau, và cơ hội Hoa Kỳ rút quân, liền bất ngờ đánh chiếm Hoàng Sa.  Hoàng Sa tuy thuộc lãnh thổ của Nam Việt, nhưng cũng là lãnh thổ chung của Việt Nam, do cha ông người Việt để lại.  Như thế, chính CSBV đã tạo điều kiện cho CSTQ tiến chiếm lãnh thổ Việt Nam.   Có thể nói, đây là tội phản quốc hết sức lớn lao mà lịch sử không thể tha thứ được.  Chính tội phản quốc nầy kéo theo những tội phản quốc về sau, khi CSVN ký các hiệp ước năm 1999 và 2000, nhượng đất (trong đó có thác Bản Giốc và ải Nam Quan) và nhượng biển trong vịnh Bắc Việt cho Trung Quốc.
3.-   CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA
Việc Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa có nhiều ý nghĩa quan trọng:
Các triều đại quân chủ trước đảng CSTQ, đã nhiều lần đem quân xâm lăng Việt Nam, tìm đường xuống Đông Nam Á, đều bị người Việt Nam đẩy lui.  Sau trận hải chiến ngày 19-01-1974, Trung Quốc đã chiếm được hải đảo chiến lược Hoàng Sa.  Đây là một chiến công lớn lao của đảng CSTQ, vì CSTQ đã làm được việc mà tổ tiên họ không làm được.
Trung Quốc đã đầu tư dài hạn trong chiến tranh Việt Nam, tích cực giúp đỡ CSVN từ 1950 đến 1954.  Sau năm 1954, tuy biết rằng CSVN chẳng có gì để trả nợ, nhưng vì âm thầm nuôi dưỡng ý đồ đen tối, CSTQ vẫn tiếp tục giúp đỡ Bắc Việt từ 1954 đến 1973, là năm ký hiệp định Paris.  Theo đúng thời điểm Hoa Kỳ vừa rút quân khỏi Việt Nam, CSTQ liền xiết đất bù nợ mà CSVN đã thiếu Trung Quốc bấy lâu nay.  Bắc Việt đành phải im tiếng cho kẻ thù truyền kiếp phương bắc cưỡng chiếm lãnh thổ do tổ tiên để lại.
Đây cũng là chiến công đầu tiên của Trung Quốc sau khi Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc (LHQ) ngày 25-10-1971, quyết định chấp nhận cho CHNDTH thay thế Trung Hoa Dân Quốc trong tổ chức nầy.  Từ ngày nầy, Trung Quốc là hội viên thường trực của Hội đồng Bảo an LHQ, một trong ngũ cường có quyền phủ quyết tại Hội đồng Bảo an LHQ. Như thế, không phải khi đứng ngoài LHQ, Trung Quốc mới hung hăng, mà cả khi đứng trong LHQ, Trung Quốc cũng cường bạo không kém.
Chiếm được Hoàng Sa, CSTQ đặt được một đầu cầu để tiến xuống phía nam và vào biển Đông.  Có lẽ cần để ý đến cách đặt địa danh của Trung Quốc trong Thái Bình Dương.  Biển phía đông Việt Nam, Trung Quốc đặt tên là Biển Trung Quốc (Mer de Chine = China Sea).  Biển và quần đảo Indonesia, Trung Quốc đặt tên là Nam Dương Quần Đảo, tức là quần đảo trong biển phía nam của Trung Quốc.  Như thế Trung Quốc muốn chứng tỏ rằng vùng biển nầy là của Trung Quốc.  Từ lâu, Trung Quốc khao khát tìm đường xuống phía nam.
Vùng biển nầy lại hứa hẹn nhiều tiềm năng về dầu hỏa dưới lòng biển, mà nhiều nước trên thế giới và cả các nước Đông Nam Á đang dòm ngó, nhất là từ khi các hảng dầu khí của Hoa Kỳ tuyên bố tìm thấy nhiên liệu quý hiếm nầy ở thềm lục địa Việt Nam từ năm 1973.  Dầu hỏa là nhiên liệu chiến lược mà tất cả các nước phát triển trên thế giới đều cần đến.  Các nước Tây phương đã khai thác, mua bán dầu ở Trung Đông và Nam Mỹ, trong khi Trung Quốc phát triển sau các nước Tây phương, đang rất cần dầu hỏa cho nền kỹ nghệ của Trung Quốc.
Vì vậy, khi Hoa Kỳ quyết định rút lui khỏi Việt Nam, Trung Quốc liền chụp lấy cơ hội để đánh chiếm Hoàng Sa, mở đường vào biển Đông.
4.-   HOA KỲ
Từ khi đảng CSTH thành công và thành lập chế độ CHNDTH năm 1949, người Hoa Kỳ rất lo ngại sự bành trướng của cộng sản.  Từ tháng 1-1950, thượng nghị sĩ Joseph Raymond McCarthy (1908-1957), thuộc đảng Cộng Hòa, tiểu bang Wisconsin, phát động chiến dịch tố cộng, thịnh hành đến nỗi người ta gọi là chủ thuyết Carthyism.
Hoa Kỳ bắt đầu can thiệp vào Đông Dương để chận đứng làn sóng cộng sản, công nhận chính thể Quốc Gia Việt Nam (QGVN) do cựu hoàng Bảo Đại đứng đầu ngày 4-2-1950.  Từ đó, Hoa Kỳ viện trợ càng ngày càng nhiều cho Đông Dương qua tay người Pháp.
Sau hiệp định Genève ngày 20-7-1954, Hoa Kỳ thay chân Pháp ở Việt Nam, giúp chính phủ QGVN rồi VNCH xây dựng miền Nam thành một quốc gia mạnh mẽ để chống cộng.  Do sự hiện diện của đoàn cố vấn Hoa Kỳ, Bắc Việt đưa ra khẩu hiệu “chống Mỹ cứu nước”, tiến đánh miền Nam.
Từ thập niên 60, trong khi Bắc Việt mở cuộc chiến tranh xâm lăng miền Nam, Hoa Kỳ càng ngày càng tăng viện cho Nam Việt, nhưng đồng thời Hoa Kỳ bắt đầu nhận ra rằng CSQT không phải là một khối thống nhất, mà giữa Liên Xô và Trung Quốc có nhiều chia rẽ, tranh chấp.  Nếu Hoa Kỳ tiếp tục viện trợ cho Nam Việt, hai nước Liên Xô và Trung Quốc sẽ tạm thời bắt tay nhau để cùng giúp Bắc Việt.  Muốn cho hai nước Liên Xô và Trung Quốc không xích lại gần nhau, Hoa Kỳ cần phải thay đổi chiến lược, rút ra khỏi Việt Nam, kiếm cách bắt tay với Trung Quốc để gây chia rẽ giữa hai cường quốc cộng sản Nga Hoa.
Sự giao thiệp giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc bắt đầu bằng cuộc giao đấu bóng bàn hữu nghị giữa hai đội bóng bàn Hoa Kỳ và Trung Quốc ngày 14-4-1971 tại Nhân Dân Đại Sảnh Đường Bắc Kinh do thủ tướng Trung Quốc là Chu Ân Lai chủ tọa.  Ba tháng sau, Henry Kissinger, cố vấn An ninh quốc gia của tổng thống Richard Nixon, bất ngờ đến Bắc Kinh gặp Chu Ân Lai ngày 9-7-1971.
Sự liên lạc giữa hai bên đưa đến kết quả ngày 25-10-1971, Đại hội đồng lần thứ 26 của Liên Hiệp Quốc chấp nhận CHNDTH thay thế Trung Hoa Dân Quốc (THDQ) giữ ghế đại biểu của Trung Quốc, mà không gặp phản ứng phủ quyết của Hoa Kỳ.  Như thế, vì quyền lợi của Hoa Kỳ, Hoa Kỳ bỏ rơi đồng minh lâu năm là THDQ.
Tuy chưa chính thức công nhận CHNDTH, nhưng cuộc viếng thăm Bắc Kinh của tổng thống Richard Nixon bắt đầu từ ngày 21-2-1972, mặc nhiên chính thức hóa cuộc bang giao giữa hai nước.  Từ đây, hai nước bắt đầu mở Văn phòng liên lạc tại thủ đô hai bên.
Sau đó, trong cuộc gặp gỡ tại Bắc Kinh ngày 22-6-1972, Henry Kissinger, cố vấn An ninh Quốc gia của tổng thống Nixon, đã nói với ngoại trưỏng Trung Quốc là Chu Ân Lai rằng Hoa Kỳ có thể sống với một chính quyền cộng sản tại Trung Quốc, thì Hoa Kỳ cũng chấp nhận điều đó ở Đông Dưong.
Hoa Kỳ thương thuyết với Bắc Việt và ký hiệp định Paris ngày 27-01-1973, đơn phương rút quân khỏi Việt Nam, mà lực lượng CSBV vẫn còn chiếm đóng lãnh thổ Nam Việt.  Sau hiệp định Paris, Hoa Kỳ giảm viện trợ rồi cuối cùng cắt hẳn viện trợ cho Nam Việt (VNCH), trong khi CSQT tiếp tục tăng thêm viện trợ cho Bắc Việt để Bắc Việt tăng cường tấn công Nam Việt.
Đang lúc tình hình đang rất khó khăn cho Nam Việt, Trung Quốc đưa hạm đội đánh chiếm Hoàng Sa.  Đương nhiên Hoa Kỳ, với những phương tiện thám thính khoa học không gian dư biết việc chuyển quân trên biển của Trung Quốc, nhưng Hoa Kỳ làm ngơ, hoàn toàn không giúp đỡ gì VNCH, để làm vui lòng người bạn mới giao thiệp là CHNDTH.  Có tài liệu cho biết thêm rằng tàu chiến Hoa Kỳ đang di chuyển gần hải đảo Hoàng Sa, cũng không can thiệp giúp đỡ những binh sĩ VNCH đang lâm nạn trên biển cả.
Năm 1971, Hoa Kỳ bỏ rơi đồng minh Trung Hoa Dân Quốc tại LHQ.  Sau năm 1973, Hoa Kỳ bỏ rơi tiếp đồng minh VNCH, mà một thời Hoa Kỳ đã từng ca ngợi là tiền đồn chống cộng của thế giới tự do.
KẾT LUẬN
Ca dao Việt Nam có câu: “Khôn ngoan đối đáp người ngoài,/ Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau.”.  Chính vì CSVN khôn nhà dại chợ, vì tham vọng quyền lực, quyết chí tấn công miền Nam, làm tiêu hao tổng lực dân tộc, nên Trung Quốc mới thừa cơ chiếm được hải đảo Hoàng Sa, làm bàn đạp để tiến xuống phía Nam.
Thứ đến là các thế lực bên ngoài, dầu Cộng sản Quốc tế hay Tư bản Quốc tế, đến Việt Nam đều vì quyền lợi của nước họ, chứ chẳng có chuyện tình nghĩa xã hội chủ nghĩa và cũng chẳng có chuyện thương yêu gì dân tộc Việt Nam.  Cũng cần lưu ý thêm rằng tư bản và cộng sản là hai thế lực tương khắc nhưng tương sinh.  Vì có cộng sản, tư bản Hoa Kỳ mới đến Việt Nam.  Vì có tư bản Hoa Kỳ đến Việt Nam, cộng sản Bắc Việt mới nhờ cộng sản Trung Quốc đánh miền Nam.  Khi tư bản Hoa Kỳ vừa quay lưng đi thì CSTQ nhào vào, chiếm liền hải đảo của chúng ta.  Chẳng có người nước ngoài nào thương yêu dân tộc chúng ta.  Nếu người Việt Nam mà cũng không thương yêu dân tộc mình thì càng tệ hại hơn nữa.
Ngày 19-01-1974, CSTQ đặt chân đến Hoàng Sa.  Đây mới chỉ là bước đầu để CSTQ tiến vào biển Đông.  Chắc chắn CSTQ sẽ còn tiến xa hơn nữa.  Nếu một ngày kia, CSTQ trang bị thêm nhiều hàng không mẫu hạm, nhất là hàng không mẫu hạm chạy bằng nguyên tử lực, thì chắc chắn biển Đông sẽ dậy sóng, làm chấn động chẳng những các nước Đông Nam Á mà cả các nước trên thế giới.
Cuối cùng, sau khi “chống Mỹ cứu nước”, tiêu hao hàng triệu sinh mệnh của thanh niên và đồng bào toàn quốc, lại mất đất mất biển vào tay Trung Quốc, chắc chắn CSVN đã ngộ ra được hai điều:  Thứ nhất CSTQ hành động hoàn toàn theo quyền lợi Trung Quốc, không có chuyện tình nghĩa xã hội chủ nghĩa anh em, và sẵn sàng chiếm đất chiếm biển của nước ta.  Thứ hai, nếu muốn Việt Nam tiến bộ thì phải hướng về Mỹ, nên sau năm 1975, CSVN tìm tất cả các cách để được Mỹ thừa nhận và giúp đỡ.  Khi rước Mỹ “cứu nước”, đảng CSVN xem như tự thú nhận là đã sai lầm trong quá khứ, một sai lầm đã giết hại hàng triệu sinh linh vô tội.  Một đảng cầm quyền sai lầm trầm trọng như thế, không đáng tin cậy để tiếp tục cầm quyền.
Trở về với trận hải chiến Hoàng Sa, nhân kỷ niệm ngày 19-01-1974, xin tất cả người Việt Nam hãy cùng nhau thắp nén hương lòng, tưởng nhớ sự hy sinh cao cả của cố trung tá Ngụy Văn Thà và các đồng đội của ông, đã anh dũng chiến đấu chống quân Trung Quốc xâm lược, bảo vệ non sông gấm vóc do tổ tiên để lại. Sự hy sinh của Ngụy Văn Thà và đồng đội trong trận hải chiến Hoàng Sa ngày 19-01-1974 là thiên anh hùng ca bất tử, mãi mãi vang vọng như nhạc hồn đất nước trong lịch sử hào hùng bất khuất của dân tộc Việt Nam.
Toronto, 19-01-2009
© Trần Gia Phụng





Thứ Tư, 21 tháng 12, 2016

Chúc Mừng Giáng Sinh và Năm Mới

KÍNH CHÚC QUÍ  ANH-CHỊ  VÀ GIA-QUYẾN ...
MỘT GIÁNG-SINH 2016 AN-LÀNH
MỘT NĂM MỚI 2017 TRÀN ĐẦY SỨC-KHỎE, TƯƠI-VUI  THỊNH- VƯỢNG 


TÂM KINH

Chuông vang vang nhật nguyệt
vọng tha thiết ngàn năm
lời kinh cầu nhã khiết
du thuyết đường đạo tâm

Ăn năn người cúi mặt
thành kính lòng nguyện cầu
xin khắp cùng mặt đất
thôi trầm uất thương đau!

@

Chuông vang vang nhật nguyệt
xin ơn Chúa nhiệm mầu
ban phước lành dân Việt
trên khắp mặt địa cầu

Từ tâm người ngước mặt
nhìn Ngôi Chúa Giáng Sinh
đọc chân kinh mật khải 
mong thế giới hòa bình!

Cao Nguyên

Thứ Tư, 7 tháng 12, 2016

Tác phẩm bức tượng Thuyền Nhân


Vì là biểu tượng thiêng liêng của niềm khát vọng Tự Do và Nhân Quyền nên uỷ ban đã chọn điêu khắc gia Vi Vi nghiên cứu sáng tác và tạc một bức tượng mang ý nghĩa tâm linh để tượng đài này sẽ là nơi an nghỉ nghìn thu cho hằng trăm ngàn thuyền nhân và bộ nhân đã hy sinh trên bước đường đi tìm Tự Do.
Được biết Đài Tưởng Niệm do Tổ hợp Clark and Green Association Landscape Architecture thực hiện theo quan niệm Đông phương hình số 8. Pho tượng được đặt trên bệ trong hồ nước, hình thể chiếc tàu có vòi phun nước và đèn chiếu sáng. Ban đêm ánh đèn sẽ toả sáng rực rỡ toàn thể khu Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân. Chung quanh trồng 18 cây Palm sẽ tỏa bóng mát cho toàn thể khu vực này.

Pho tượng là một khối đồng màu nâu nặng 10 tấn. Sau bao năm miệt mài, nhà điêu khắc ViVi đã hoàn thành Tượng Đài như ý nguyện. Tượng Đài Thuyền Nhân được đúc bằng đồng là một quần thể 4 thuyền nhân gồm già trẻ dìu nhau trong những bộ áo quần rách tơi tả. Người thiếu phụ gương mặt đầy sầu thảm, tay trái ôm con dại trong lòng, tay phải giơ lên như cầu cứu mọi người trong thế giới Tự Do hãy ra tay cứu vớt và giúp đỡ! Nhìn vào bức tượng ai cũng cảm thấy ngậm ngùi đến rơi lệ vì đây là cái giá của Tự Do mà nam phụ lão ấu thuyền nhân Việt nam đã phải trả! Tượng đài được dựng trong một hồ nước tượng trưng cho đại dương và chung quanh hồ là những phiến đá khắc tên 6 ngàn thuyền nhân lên 54 tấm bia đá đã hy sinh trên đường đi tìm Tự Do."

Đài Tưởng Niệm đã chính thức khánh thành vào tháng 4 năm 2009. “Ngày Thuyền Nhân Việt Nam ” (Vietnamese Boat People Day) do Nghị Quyết mang số 4257 chọn ngày Thứ Bảy của tuần lễ cuối cùng tháng 4 hằng năm làm ngày Thuyền Nhân Việt Nam tại Westminster, California.

                              > Phóng Sự Ngày Thuyền Nhân 25 tháng 4, 2010 (video) 


                        
                     
                     

Tiểu Sử Họa Sĩ/ Nhà Điêu Khắc ViVi
                                                   

Tên thật: Võ Hùng Kiệt – Tên Thánh Rửa Tội: Michel
Ngày sinh: 14 tháng 7 năm 1945 – Sinh quán: Vĩnh Long
Bút hiệu: ViVi do ghép hai chữ đầu Việt Nam và Vĩnh Long (ký từ năm 1964 khi vẽ cho Tuổi Hoa)
Cựu Sư Huynh La San - Promotion 82 Nha Trang năm 1962
Tốt nghiệp Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn năm 1968.
Vượt biên năm 1981 và tạm định cư tại Montréal, PQ, Canada.
Sang Mỹ năm 1995 tạm trú tại San Diego tới nay.
Bắt đầu vẽ từ nhỏ, đến năm 1958 mới chính thức vẽ bìa và truyện tranh cho tờ báo Tuổi Xanh của cụ Bảo Vân Bùi Văn Bảo.

Trước 1975:
- Vẽ minh họa và truyện tranh cho 2 tờ Nhật báo Độc Lập và Dân Chủ
- Sách Giáo Khoa cho các nhà xuất bàn: Quê Hương, Nhật Tảo, Sống Mới, Cành Hồng, Khai Trí, và sách giáo khoa cho trường mẫu giáo Claire Joie (Annexe de Regina Mundi)
-Báo Chí: Vẽ bìa và minh họa cho các tờ báo Tuổi Xanh, Tuổi Hoa, Bạn Trẻ, Tinh Thần (Nha Tuyên Úy Công Giáo QLVNCH), Trái Tim Đức Mẹ (Dòng Đồng Công), Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp (Dòng Cứu Thế)
-Bắt đầu vẽ Tem Bưu Hoa từ năm thứ nhất Cao Đẳng Mỹ Thuật cho đến năm 1975. Được khoảng 40 giải thưởng về Bưu Hoa của Tổng Nha Bưu Chính VNCH, ký tên thật Võ Hùng Kiệt.
-Chỉ triển lãm 3 lần tại phòng Thông Tin Văn Hóa Sài Gòn, Phòng Hội Hoạ Sĩ Trẻ và Alliance Francais để cứu trợ nạn nhân trong Nạn Lụt Miền Trung, Miền Tây và Tết Mậu Thân.
Ngoài vẽ tranh còn điêu khắc các pho tượng:
- Tượng Các Vị Thánh Tử Vì Đạo VN 1 đúc đồng và đặt tại: Maria Lewinston Garden (New York), Dòng Đồng Công (Carthage, Missouri), Denver, Colorado và Arlington Texas.  
- Tượng Các Vị Thánh Tử Vì Đạo VN 2 đặt tại Austin, Texas.
-Tượng Mẹ Maria Việt Nam đặt tại Amarillo, Texas.
-Tượng Thuyền Nhân Vượt Biển đặt tại Westminster, California.
-Tượng Thủ Tướng Canada: Pierre Eliotte Trudeau.
-Tượng Linh Mục Trần Đình Thủ (Sáng lập Dòng Đồng Công).

-----------------------------------------