Thứ Năm, 3 tháng 3, 2016

Một Giải Pháp Cho Biển Đông

GS Nguyễn Ngọc Bích - Đài Á Châu Tự Do

Ngọn Gió Đông Phương

Ngọn gió Đông Phương vừa thổi lại Phương Đông 
(Tiếc thương và kính tiễn Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích)
 Ba giờ sáng ngày 3 tháng 3, 2016 tôi nhận được tin nhắn của một người thân “Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích mất trên máy bay”. Dù chưa kiểm chứng và còn quá sớm để gọi những người quen nhưng tôi nghĩ đó là tin đúng. Tôi biết giáo sư cùng nhiều vị khác đang trên đường tham dự Họp Mặt Dân Chủ 2016 tổ chức ở Manila. Năm ngoái cũng tổ chức ở Manila, lý do để có một không gian và các thành phần tham dự thích hợp, nhất là từ phía Philippines, khi thảo luận về tranh chấp Biển Đông.  
Sáng nay đọc tin chi tiết trên báo Người Việt trích dẫn lời của Tiến sĩ Đào Thị Hợi, phu nhân của Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích cho biết lúc 9 giờ tối 2 tháng 3, 2016 (giờ miền Đông Hoa Kỳ) ông “vào phòng vệ sinh trên máy bay, khi về lại chỗ ngồi thì lên cơn mệt và mất ngay tại ghế ngồi.”
Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích sinh năm 1937 tại Hà Nội. Ông học tiểu học ở Vĩnh Yên, trung học ở Chasseloup Laubat, Sài Gòn. Năm 1955, ông được học bổng Fulbright tại đại học Princeton và tốt nghiệp Cử Nhân Chính Trị Học năm 1958. Sau đó ông đã theo học các chương trình cao hơn tại nhiều trường đại học nổi tiếng của Mỹ như Columbia University và Georgetown University. Ông sang Đại Học Kyoto, một trong bảy trường đại học quốc gia của Nhật Bản, từ 1962 đến 1963 để sưu tập tài liệu làm luận án Tiến sĩ về Giáo Dục.
Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích đóng góp rất nhiều vào các chương trình giáo dục song ngữ tại Mỹ và là dịch giả của nhiều tác phẩm văn học giá trị. Trong sinh hoạt cộng đồng và truyền thông, Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích là chủ tịch của tổ chức Nghị Hội Toàn Quốc Của Người Việt tại Hoa Kỳ và là Giám Đốc Ban Việt Ngữ của đài Á Châu Tư Do trong bảy năm. Một tiểu sử chi tiết của giáo sư đang được lưu trữ trên trang nhà của Viện Việt Học, trong mục Ban Giảng Huấn.  
Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích sinh hoạt rất đa dạng và đóng góp tích cực trong nhiều lãnh vực nhưng như ông đã có lần chia sẻ, con người thật sự của ông vẫn là con người của văn hóa giáo dục.  Khi thành tài trở về nước, ước nguyện của nhà trí thức Nguyễn Ngọc Bích là nâng cao dân trí. Ông từng là Quyền Viện Trưởng Viện Đại Học Cửu Long. 
Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích rất quan tâm đến tuổi trẻ.  Tuổi cao và thể lực yếu dần nhưng nhiệt tình của ông dành cho tuổi trẻ Việt Nam không vì thế mà giảm sút.  Đóng góp của ông không chỉ giới hạn qua các vận động yểm trợ vật chất mà quan trọng hơn là chăm sóc về tinh thần, nhất là các em vừa ra khỏi tù CS.
Ai cũng có thể tự nhận mình quan tâm tới tuổi trẻ trong nước nhưng chắc là không bao nhiêu người gần 80 tuổi mà vẫn thức rất khuya để dạy các lớp tiếng Anh qua internet và ngay cả kèm riêng cho từng cháu cách phát âm những chữ khó. Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích làm rất nhiều việc mà chỉ những người trong cùng đề án của ông mới biết. Lý do không phải vì bảo mật mà chỉ vì ông ít nói về thành tựu của riêng mình. Dù ông không nói ra, các cộng đồng, đoàn thể, tổ chức hay cá nhân tranh đấu cho tự do đất nước tại hải ngoại hẳn để ý một điều, Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích  không từ chối việc gì miễn là việc đó góp phần vào nỗ lực vận động tư do dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam. 
Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích là nhà biên khảo, dịch thuật, giáo dục nhưng trên hết ông người yêu nước lớn. Như giáo sư kể lại, ngày 19 tháng Tư 1975 ông lên đường sang Mỹ cùng phái đoàn VNCH để tìm viện trợ nhưng thất bại. Dù biết sớm muộn miền Nam cũng mất, Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích vẫn trở về. Chuyến bay trở về Việt Nam gần 30 tháng Tư chỉ có hai người Việt, Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng và Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích. Trở về nhưng rồi phải ra đi trong đêm 30 tháng Tư khi ngọn đèn tự do của Sài Gòn vừa tắt.
Mỗi buổi sáng trên bàn của Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, ngoài những món điểm tâm còn có một hộp gồm nhiều loại thuốc phải uống trong ngày nhưng ông uống xong không phải để rồi nghỉ ngơi mà tiếp tục lên đường. Ít có người nào trong tuổi gần 80 mà đi đây đi đó nhiều hơn Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích. Ông đến mọi nơi và ngồi xuống với mọi người. Ông không quá quan tâm người đối diện mình là ai miễn là còn biết lắng nghe nhau nói. Mặc dù rất dứt khoát trong lập trường chính trị quốc gia, ông có một tinh thần ôn hòa, cởi mở và tinh thần đó đã làm giáo sư trở thành điểm gặp gỡ của nhiều khuynh hướng khác nhau.  
Sau mỗi lần gặp gỡ  Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, khách mang về không chỉ là những câu trả lời sâu sắc hay những nhận xét tinh tường về những vấn đề họ cần biết nhưng nhớ nhất vẫn là một nụ cười của ông. Ông sống rất lạc quan. Những người gần gũi giáo sư đều có một nhận xét chung, dường như đối với ông, không có điều gì quan trọng, kể cả sức khỏe, hơn là việc được đóng góp cho tự do dân chủ của đất nước và an lạc của con người. Tinh thần bao dung, hỷ xả Phật Giáo thể hiện rất rõ nét trong thái độ và cách sống của Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích. Làm người ai cũng mang theo suốt đời mình những nhân tính hỉ nộ ái ố, tham sân si, nhưng riêng với Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, ông quên chuyện buồn phiền rất dễ dàng và tha thứ rất nhanh.
Ngọn gió thổi đi từ phương Đông tối ngày 30 tháng 4, 1975 và tối ngày 2 tháng 3, 2016 đã thổi về lại phương Đông.  Bên kia bờ biển là Hà Nội, nơi Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích cất tiếng khóc chào đời, là Sài Gòn nơi ông khôn lớn, nhưng bầu trời Thái Bình Dương lại là nơi ông trút hơi thở cuối cùng. Ôi kỳ diệu thay, phải chăng không gian bao la mới đủ rộng cho  tâm hồn yêu quê hương bát ngát của ông.  
Tiếc thương và kính tiễn biệt Anh.
 Trần Trung Đạo
Boston 3/3/2016

Lúc Nào Nên Tự Hỏi


    
        (tiễn bạn nguyễn ngọc bích
       ra đi tối mùng 2 tháng 3 năm 2016)

trong cuộc sống
lúc nào nên tự hỏi
ta ra đi
hay ở lại đôi mùa

đợi hoa nở
sau những cơn bão vội
nối bình minh
vào mạch tối năm xưa

ngay lúc đó
hay trên đường đắm đuối
phục vụ đời
chữ nghĩa cũng buông trôi

tâm đột quỵ
nhưng hồn còn trong sáng
hẹn ta về
ngọn núi đón mây sang

nỗi buồn lạ
hay niềm vui cởi mở
cánh cửa bên
bờ cõi nắng còn thơ
 
Lưu Nguyễn Đạt

March 3, 2016

Một Trăm Triệu Năm Thức Ăn


GS Nguyễn Ngọc Bích giới thiệu sách:

 “Một Trăm Triệu Năm Thức Ăn” Của Stephen Lê  

Trông thấy hình của anh ở cái “flap” bìa sau, tôi thấy có cảm tình liền. Một người trẻ đội nón “tai bèo” ngồi trước một bát trông như bát “bún bò Huế,” anh không có vẻ gì là giáo sư đại học cả. Ấy vậy mà đích thật, anh là giáo sư thỉnh giảng của Đại Học Ottawa sau khi đã lấy bằng tiến sĩ về Sinh Nhân Chủng Học (Biological Anthropology) ở UCLA tại Mỹ.
Cuốn sách của anh quan trọng đến nỗi báo McLean’s, tuần san nổi tiếng nhất của Gia Nã Đại, tuần này đã phải có bài dài 4 trang phỏng vấn và viết về anh. Đó là vì anh thuộc về một lứa sử gia rất mới, đệ tử của Jared Diamond, không viết sử về vua chúa và chiến tranh giữa các nước nữa (kiểu viết sử cổ truyền của nhiều nước) mà viết lịch sử của nhân loại qua những khám phá của con người. Cũng như ai tìm ra lửa cách đây 500.000 năm là đã đảo lộn hết cả cách sống, cách ăn của loài người từ “ăn sống nuốt tươi” sang một lối sống văn minh có biết nấu nướng.
Chính thầy anh, ông Jared Diamond đã đảo lộn cách viết sử khi ông ra cuốn sách Guns, Germs, and Steel (“Súng Ống, Vi Trùng, Và Thép”) cho thấy là mỗi khám phá như vậy là đem lại một cách mạng về nghệ thuật chiến tranh, về y khoa, và về công nghiệp. Giờ đây anh viết về thức ăn của nhân loại (chứ không phải chỉ một dân tộc nào mặc dầu Việt Nam cũng được nhắc đến không ít trong sách của anh) và cũng làm đảo lộn tất cả những cách suy nghĩ của chúng ta về cách ăn uống của loài người. Thế không phải là một loại sử đáng đọc hay sao?
Nhưng để viết được một cuốn sách như vậy, anh không thể chỉ là một loại “a ma tưa,” tài tử được. Vốn liếng về khoa học của anh rõ ràng là rất vững chãi. Là một tiến sĩ về sinh nhân chủng học, những phân tích hóa học, sinh học, chủng tử học của anh không những thuyết phục mà còn làm cho ta sửng sốt về sự chính xác, ngay cả về những niên đại hay niên kỷ xa xưa như cách đây vài chục triệu năm, một trăm triệu năm. Đã đành một mình anh không thể biết hết được nhưng anh biết dựa vào những nguồn tin đáng tin cậy, có thể nói là không có tài liệu nào về vấn đề đồ ăn nước uống của nhân loại mà anh chưa đọc. Riêng thư mục sách của anh, từ trang 249 đến 294, cũng đã liệt kê đến trên 600 tên sách và bài báo trong các tạp chí khoa học hàng đầu của thế giới.
Anh không chỉ dựa vào trí tuệ và kiến thức của các khoa học gia chuyên ngành sinh học trên toàn cầu, anh còn đích thân đi khắp thế giới để thử ăn những món ăn của nhân loại không trừ rắn rết, nhộng, đuông, kiến, châu chấu, cào cào, cà cuống, rươi v.v. Cứ riêng xem bảng các quốc gia anh đã đi qua (trang 295 297) mà tôi, một người không phải là ít đi, cũng đủ thấy thèm.
100_Million_Years_of_FoodDựa trên những kinh nghiệm phong phú về học thuật và du lịch như trên, anh đã viết nên cuốn 100 Million Years of Food (“Một Trăm Triệu Năm Thức Ăn”), nửa du ký nửa biên khảo khoa học rất nghiêm túc viết trong một văn phong tiếng Anh vừa lưu loát vừa bay bướm. Không trách cuốn sách đã được đón nhận một cách khá nồng nhiệt. Thầy anh viết: “Cuốn sách vui ngon này sẽ giúp bạn đọc thưởng thức những gì mình ăn, thưởng thức chuyện suy nghĩ về thức ăn, và giữ cho mình khỏe khoắn.” (Jared Diamond)
Mark Kurlansky, tác giả cuốn sách nổi tiếng Cod (“Cá Cót”) mà trong đó tôi học được là Đế Quốc La Mã ngày xưa cũng có nước mắm mà họ gọi là “garum,” còn ca ngợi hơn nữa: “Tính rộng lớn, trải xa, và tham vọng của [cuốn sách] làm cho ta phải đọc và mê tơi”.
Nhưng tạp chí Kirkus Reviews (“Điểm Sách Kirkus”) thì phân tích cặn kẽ hơn: “Trong cuốn sách đầu tay dễ đọc này, Stephen Lê cho ta một tạp luận sống động nửa kỷ niệm du ký nửa giả thuyết với đầy đủ kiến thức về sinh học ngành dưỡng sinh của con người ta. Tác giả, có nguồn gốc ở Việt Nam và Gia Nã Đại, cũng đào sâu cách ăn uống của các nền văn hóa khác nhau để ủng hộ cho luận thuyết của ông cho rằng đi xa những cách ăn uống của tổ tiên là một nguyên nhân chính dẫn ta tới các bệnh tật của ngày hôm nay—một cách tiếp cận vấn đề vừa tỉnh táo vừa khác lạ”.
Kinh nghiệm bản thân
Ngay vào đầu sách, tác giả kể lại anh đang học lấy bằng tiến sĩ về sinh học ở UCLA thì được tin mẹ anh đau nặng. Bay về Gia Nã Dại được ít lâu thì mẹ anh mất vì bệnh ung thư ở tuổi 66 trong khi bà ngoại anh sống đến tuổi 92 mới mất. Nghiên cứu kỹ vấn đề, anh thấy là người Á Đông sang sống ở các nước Tây Phương đễ bị ung thư vú (trong trường hợp các phụ nữ) và bệnh tiền liệt tuyến (trong trường hợp các nam nhân). Đào sâu vấn đề thì hình như đó là vì những thức ăn chúng ta tiêu thụ khi sang Mỹ hay Gia Nã Đại. Ngược lại, những người như bà anh vì sang Tây Phương rồi mà vẫn ăn theo các lối cổ truyền nên lại ít nhuốm các “bệnh thời đại” hơn như “béo quá, tiểu đường loại 2, bệnh ‘gút’ (‘gout’), cao áp huyết, ung thư vú, dị ứng về thức ăn, mụn trứng cá, và cận thị.” (trang 1)
Chính vì thế mà cuốn sách của anh có tiểu tựa là “Tổ tiên ta đã ăn những gì và tại sao chuyện đó lại quan trọng đối với chúng ta ngày hôm nay” với những chương như sau:
Cái khôi hài của côn trùng [như đồ ăn của người xưa], trong đó anh chứng minh là ăn những thứ như vậy, cào cào, châu chấu, cà cuống, đuông, v.v.— một kinh nghiệm mà các người đi “học tập cải tạo” của Cộng Sản có thừa — đôi khi cho ta những “protein” ta cần thiết, nhất là khi cha ông ta xưa xửa xừa xưa chưa có nhiều nguồn thịt để ăn.
Trái cây và trò chơi của chúng. Về mặt này, ai cũng tưởng trái cây là lành mạnh nhưng không hẳn. Tuy chúng không phải là sinh vật và có linh hồn nhưng chúng vẫn có những cách tự bảo vệ như Sầu Riêng, chẳng hạn, thì có gai nhọn có thể rớt xuống bể đầu ta. Dừa cũng thế, nếu cùi Dừa (nhất là cùi dừa non) thì dễ ăn và nước Dừa mát lịm, nhưng vỏ Dừa cũng rất cứng che chở cho những thứ ngon ở bên trong quả Dừa. Điều lộn hột cũng thế, trái thì chát và chính hột Điều cũng có nhựa có thể làm cho ta bỏng tay. Mặc dầu vậy, con người ta cũng đã tìm ra cách ăn được chúng, kể cả và nhất là quả của cây Sồi mà sóc rất thích ăn cạnh tranh với con người. Tuy nhiên, sóc cũng biết là ăn quả Sồi, acorn, thì phải ăn từ cái núm ở trên xuống chứ không nên ăn từ dưới lên vì khá độc. Còn người Da Đỏ ở Mỹ trước kia biết là một cây Sồi lớn có thể sản xuất từ 500 đến 1.000 pounds (tương đương với 225 tới 450 kí lô, tức hơn 2 tạ tới 4 tạ rưỡi) một cây. Và một gia đình người Da Đỏ ở Cali cách đây vài thế kỷ có thể, trong một thời gian từ 2 tới 3 tuần, đi lượm quả Sồi đủ nhiều để có thể biến thành bột nuôi sống họ được từ 2 đến 3 năm.
Sự hấp dẫn của thịt. Thịt súc vật như thức ăn có lẽ là một khám phá muộn, nhất là nếu chúng ta hiểu ăn thịt tức là ăn thịt luộc, nấu, nướng v.v. bởi muốn thế thì nó phải xảy ra sau khi loài người đã phát hiện ra lửa. Tuy nhiên, người Nhật ngày nay biết ăn thịt sống, người Đức cũng biết ăn một thứ sandwich kẹp thịt sống với hành, và người Việt chúng ta cũng biết ăn thịt bò tái (tức thịt sống mà chỉ vắt chanh lên thôi), như vậy loài người, theo tác giả Stephen Lê, đã biết ăn thịt sống ít ra cũng cách đây hai triệu năm rồi. Thịt, theo quan niệm của một số người, lại còn có hiệu quả là làm tăng cường dương như trong bài sau đây (trang 75 và 231):
Tương Bần chấm với tái dê,
Ăn vào một miếng bừng bừng như dê.
Em ơi, ở lại đừng về,
Ngày mai ta lại tương Bần, tái dê.
Thịt hấp dẫn đến nỗi nhiều người không bỏ được thịt, nghĩa là không thể sống bằng cách chỉ ăn chay, thậm chí trong quá khứ của nhân loại đã có một thời người còn biết ăn cả thịt người — khác hẳn súc vật, chúng không biết ăn thịt đồng loại.
Nghịch lý của cá. Sở dĩ gọi là nghịch lý vì giờ đây tuy nhiều người ca tụng những đức tính của đồ biển, tôm cá v.v. nhưng cũng đã có những nền văn hóa, như một vài dân tộc ở Nam Phi, kỵ hoàn toàn chuyện ăn cá. Tuy nhiên, với một bờ biển dài trên hai nghìn cây số, đó không phải là vấn đề của người Việt. Chính vì thế mà đối với người Việt và một số quốc gia Đông Nam Á như Thái và Phi Luật Tân, nước mắm (“patis malabong” trong tiếng Tagalog) là một thứ nước chấm không thể thiếu trong bữa ăn—một chuyện mà ta chia xẻ với người La Mã ở trời Tây xa xưa, và cũng là một chuyện làm ta xa cách hẳn người Tàu với xì dầu của họ.
Đế quốc tinh bột. Trong phần này, tác giả gộp cả thế giới của rau bên cạnh các thứ củ như khoai, sắn, v.v. Theo ông, ta không nên khinh khi thế giới rau cỏ bởi những loài vật lớn nhất trên mặt đất phần lớn là ăn cỏ (ma mút, voi, trâu bò, ngựa, v.v.). Khủng long cách đây cả trăm triệu năm (do đó mà có tên cuốn sách) cũng vậy. Nhưng để ăn được, ta cần phải thuần hóa những loại thức ăn này (như bắp, tức ngô trong tiếng Bắc, phải qua hàng chục vạn năm con người mới biết biến thành một thứ ăn được, như trong sách Bút Khảo Về Ăn của Bác Sĩ Lê Văn Lân đã chứng minh cách đây cả mấy chục năm, trước khi ông mất). Gạo, kê, mì, lúa mạch, tuy là những thứ căn bản trong bữa ăn của nhiều dân tộc song cũng có vấn đề của chúng. Như gạo nâu (brown rice) nếu không tiêu hóa sẽ đẻ ra vấn đề đái rắt ban đêm.
Các loại sữa, nước, rượu. Ai cũng tưởng những thứ này là lành nhưng chính trẻ con uống nhiều sữa quá sẽ gặp vấn đề khi lớn lên (nhiều calcium trong người quá sẽ làm cho xương dễ bị gãy), và không ít người Việt chúng ta bị chứng bệnh lactose deficiency tức thiếu một loại enzyme trong người để có thể làm tan hiệu ứng không tốt của sữa. Về rượu thì uống ít có thể giúp tránh được một vài bệnh tật (như bệnh tim) nhưng uống nhiều thì hại gan và dẫn đến chết sớm. Song nước là lạ nhất: Có người tin rằng “uống 8 ly nước một ngày” (trang 102) là giúp ta giữ sức khỏe nhưng không nhất thiết nếu như đó là nước máy. Nước chỉ tốt khi là nước trong thiên nhiên như nước mưa, nước suối, nước hồ, nước sông… bởi những loại nước đó mới có các thứ vi khuẩn giúp ta chống lại một số bệnh. Mà chính cha ông chúng ta thường lại uống loại nước đó.
Đình chiến giữa các bọn kẻ cắp [giữa các loại ký sinh trùng trong người chúng ta]. Chương này, dài nhất trong sách, cho ta thấy thực phẩm loại nào cũng có vấn đề của nó. Tỷ như gạo trắng quá thì lại thiếu chất cám, đường trắng quá độc hơn đường nâu, bột ngọt ngon là thế cũng có những hiệu ứng bất lợi của nó. Thành thử tốt hơn cả, theo tác giả, chính là thức ăn của ta phải làm sao cho cân đối, không được lạm dụng loại nào, để cho yếu tố hóa học này đối chọi với yếu tố hóa học khác hay ít nhất cũng hòa đồng được với nhau, và rồi phải đi kèm với đủ loại vận động như đi bộ, cử động tay chân, suy nghĩ nhiều v.v. Đi cùng với thức ăn của ta, để cho đủ các loại vitamin trong người, ta cũng có thể cần uống thêm loại này hay loại khác.
Vấn nạn calo. Trong khi rất nhiều quốc gia có vấn đề thiếu ăn, nghĩa là ăn không đủ calo, thì ở các nước như Mỹ, Úc hay Gia Nã Đai, vấn đề của chúng ta là ngược lại. Chúng ta thường ăn nhiều calo hơn mức ta cần nên dễ dẫn đến tình trạng béo hơn cần thiết. Song sống một cuộc đời không lành mạnh thường lại không phải là vấn đề calo mà là thiếu vận động (ngồi ỳ một chỗ để xem ti vi, làm việc ở máy tính, đi đâu thì cũng lái xe, v.v.) và nhất là vấn đề căng thẳng trong cuộc sống (stress) trong sở làm, trong gia đình như vợ chồng hay cãi cọ, bất mãn về nhau, về con cái. Tác giả có lần đi đến đảo Ikaria ở Hy Lạp, nơi nổi tiếng có nhiều người sống lâu. Hỏi một người bạn Ikarian, anh ta trả lời: “Thức ăn ngon. Rượu hảo hạng. Làm tình giỏi”. Đọc đến đây, một người như tôi được chút an ủi: Tác giả cho biết là nhiều nghiên cứu cho thấy là người nào có bụng, hơi mập hơn bình thường một chút thì thường lại sống lâu!
Tương lai của thực phẩm (kể cả thực phẩm được biến đổi qua chủng tử học, GM tắt cho “genetically modified” food). Tác giả than phiền là ở những quốc gia như Mỹ, Úc, Gia Nã Đại, các món ăn truyền thống mất dần để được thay thế bằng những món ăn phổ thông nhưng thiếu đa dạng tính (như McDonald, KFC, Popeye, v.v.). Phải đi đến những thành phố lớn ta mới có các món ăn đa dạng thuộc nhiều truyền thống nấu nướng khác nhau, như Tàu, Việt, Ấn độ, Đại Hàn, Nhật Bản, Ý, Y Pha Nho, Pháp v.v. Còn không, các truyền thống gốc như của người Da Đỏ ở Mỹ và Gia Nã Đại hay người Thổ Dân (Aborigines) ở Úc dần dần biến mất mặc dầu đó là những truyền thống ăn uống được tạo nên qua hàng nghìn, hàng vạn, hàng chục vạn năm kinh nghiệm tiến hóa. Đây là một mất mát rất lớn nếu không muốn nói là một sự đánh đổi không khôn ngoan.
Luật về ăn uống và sống. Đến đây, ở cuối sách, tác giả cho rằng ta nên tránh những “fad” tức là những phong trào ăn theo kiểu này hay kiểu khác. Kiểu nào thì cũng có cái hay cái dở trong đó mà nhiều khi cái dở lại còn nguy hại hơn cái hay. Vì thế nên ông khuyến cáo những điều mà nhiều người trong chúng ta cũng đã biết như phải vận động nhiều, đi bộ nhiều, cử động nhiều, uống rượu vừa phải, khi trẻ thì ăn bớt thịt và sản phẩm từ sữa, và cuối cùng nên ăn theo tổ tiên mình, bởi đó là kết tinh của hàng triệu năm kinh nghiệm, dựa ngay vào môi trường thiên nhiên của nơi mình ở và không tàn phá môi trường bằng những cách khai thác tận lực các tài nguyên trong môi trường đó. 

Nguyễn Ngọc Bích

Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích


Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, cựu giám đốc Ban Việt Ngữ Đài Á Châu Tự Do (RFA) vừa đột ngột qua đời ngay trên chuyến bay từ thủ đô Washington DC đi Manila, Philippines tối 2 Tháng Ba, 2016.
Giáo sư Nguyễn Ngọc Linh, bào huynh của giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, cho báo Người Việt biết tin này.
Giáo sư Linh nói với Người Việt rằng, hiền thê của Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích là Tiến sĩ Đào Thị Hợi dùng điện thoại trên máy bay gọi về báo tin buồn vào lúc 9 giờ tối 2 Tháng Ba (giờ miền đông Hoa Kỳ). Bà cho biết, Giáo sư Bích vào phòng vệ sinh trên máy bay, khi về lại chỗ ngồi thì lên cơn mệt và mất ngay tại ghế ngồi.
Luật sư Trịnh Hội, Giám đốc Tổ chức VOICE trụ sở tại Manila cũng đã biết tin này và đang có mặt tại phi trường Manila để đón thi hài Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích.
Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích sinh 1937 tại Hà Nội. Lúc còn nhỏ, ông học tiểu học ở Vĩnh Yên, sau đó vào trung học ở Chasseloup Laubat, Saigon.
Theo lời Giáo sư Nguyễn Ngọc Linh, Giáo sư Bích du học Hoa Kỳ năm 1954 theo chương trình học-bổng Fulbright, học Đại học Princeton và và tốt nghiệp ngành Chính trị học năm 1958. Sau đó, ông tiếp tục theo học môn Á Đông học, Văn học cổ điển Nhật tại Columbia University, New York và có thời gian sang Nhật bằng học bổng President's Fellowship để thu thập tài liệu cho luận án cao học. Ngoài ra, ông theo đuổi một số khóa học ngắn ở Đại học Vienna và Munich (tiếng Đức), Madrid (tiếng Y-pha-nho), USDA Graduate School (tiếng Trung và tiếng Nga).
Sau nhiều năm sống, học và làm việc ở ngoại quốc, giáo sư Nguyễn Ngọc Bích về nước năm 1972, cùng với hiền thê là Tiến sĩ Đào Thị Hợi thành lập Viện Đại Học Cửu Long ở Sài Gòn, đồng thời giữ chức Cục trưởng Cục Thông Tin Quốc Ngoại của Bộ dân Vận Chiêu Hồi do ông Hoàng Đức Nhã làm Tổng trưởng.
Khi cộng sản chiếm miền Nam Tháng Tư năm 1975, Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích rời quê nhà sang Hoa Kỳ sống tại Virginia cho tới khi ông vĩnh viễn ra đi.
Trong suốt thời gian hơn 40 năm qua, ông kiên trì đóng góp trong nhiều lãnh vực văn hóa, giáo dục, đấu tranh của người Việt Quốc Gia hải ngoại.
Thời Tổng thống George W.H Bush lãnh đạo Tòa Bạch Ốc, Giáo sư Bích được bổ nhiệm giữ chức vụ Giám đốc Song Ngữ của Bộ Giáo Dục Liên Bang. Ông cũng từng là giám đốc của Ban Việt Ngữ Đài Á Châu Tự Do (RFA) từ ngày đài phát thanh chương trình đầu tiên về Việt Nam vào tháng hai năm 1997. Kể từ ngày về hưu rời khỏi RFA, ông vẫn giữ chức Chủ tịch ‘Nghị Hội Toàn Quốc Của Người Việt tại Hoa Kỳ’ và tiếp tục các trước tác văn học, dịch thuật.
Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích từ trần, để lại một di sản đồ sộ những đóng góp của ông trong rất nhiều lãnh vực. Và ông cũng để lại tình cảm yêu mến trong lòng nhiều người Việt trong và ngoài nước.
Nói về sự ra đi đột ngột của Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, Nhà văn nữ Trương Anh Thụy, người cùng với Giáo sư Bích khởi xướng Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ và đã phát hành rất nhiều tác phẩm văn học, nghiên cứu trong hơn 20 năm qua, lặng đi, đứt quãng: "Sửng sốt! Đau buồn! Cùng học với Bích thời thập niên 50 bên Mỹ và làm việc chung với nhau không biết bao nhiêu công tác, không ngờ ông lại mất đột ngột không một lời giã biệt."
Một bạn học khác của Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích thời du học Mỹ là ông Nguyễn Thái Sơn nói: "Buồn đau quá các bạn ơi! Bích hiền và thủy chung với tất cả mọi người. Tấm lòng như thế mà sao lại đột tử! Buồn quá các bạn ơi." (Đ.Q.A.T)
Sự nghiệp
Dịch-thuật: A Thousand Years of Vietnamese Poetry (Một nghìn năm thi ca VN, Alfred A. Knopf, 1975), War & Exile: A Vietnamese Anthology (chủ biên, Chiến tranh và Lưu đày: Tuyển tập văn thơ VN hiện đại, Trung tâm Văn Bút Miền Đông Hoa Kỳ, 1989, để đi dự Đại hội Văn-bút Thế-giới ở Montreal, Canada, tháng 9-1989), Trường Ca Lời Mẹ Ru / A Mother's Lullaby của Trương Anh Thụy (dịch sang tiếng Anh, Cành Nam, 1989), Hoa Địa Ngục / Flowers of Hell và Hạt Máu Thơ / Blood Seeds Become Poetry (dịch thơ Nguyễn Chí Thiện, Tổ Hợp XBMĐ Hoa Kỳ, 1996), From Enemy to Friend (dịch "Mây Mù Thế Kỷ" của Bùi Tín, Naval Institute Press, Annapolis, MD, 2004), Cung Oán Ngâm Khúc / Complaints of an Odalisque (dịch và giới-thiệu thơ Ôn Như hầu Nguyễn Gia Thiều, East Coast Vietnamese Publishers Consortium, 2006), Hỏa Lò / Hanoi Hilton Stories (dịch với người khác 3/7 truyện của Nguyễn Chí Thiện, Yale Southeast Asian Studies, 2007), Zenith (dịch chung với Hòa và Stephen B. Young "Đỉnh Cao Chói Lọi" của Dương Thu Hương, Viking, 2012).
Biên khảo
North Vietnam: Backtracking on Socialism (Vietnam Council on Foreign Relations, Saigon, 1971), giới-thiệu về thơ VN trong Nguyễn Đình Hòa, chủ-biên, Some Aspects of Vietnamese Culture (Southern Illinois University, Carbondale, IL, 1972), An Annotated Atlas of the Republic of Vietnam (Embassy of Vietnam, Washington DC, 1973), Hồ Xuân Hương: Tác-phẩm (Tổ Hợp XBMĐ Hoa Kỳ, 2000), Omar Khayyam - Rubaiyat: Thơ và Đời (dịch và giới-thiệu thơ Ba-tư, Tổ Hợp XBMĐ Hoa Kỳ, 2002), Tet, the Vietnamese New Year (East Coast Vietnamese Publishers Consortium, 2004), Tự Điển Chữ Nôm Trích Dẫn (1 trong 7 soạn-giả, Viện Việt Học, 2009), Lưu Hương Ký (thơ chữ Nôm và chữ Hán của Hồ Xuân Hương, Tổ Hợp XBMĐ Hoa Kỳ, 2011).
Mỹ thuật – Âm nhạc
Vietnamese Architecture (dịch từ tiếng Pháp của Nguyễn Năng Đắc và Nguyễn Quang Nhạc, Embassy of Vietnam, Washington DC, 1970), 15 Ca-khúc mừng Giáng Sinh (National Center for Vietnamese Resettlement, 1975), Ngục Ca / Prison Songs (thơ Nguyễn Chí Thiện do Phạm Duy phổ nhạc, NNB làm lời tiếng Anh hát được, VICANA, 1982), dịch một số bài trong Trần Cao Lĩnh, Vietnam, My Country Forever (nhiếp ảnh nghệ-thuật, Aide à l'Enfance du Viet Nam, Paris, 1984), tác-giả hai bài về huyền-thoại VN và thơ VN trong Vietnam: Essays on History, Culture and Society (New York: The Asia Society, 1985), dịch danh-mục hội-họa VN trong An Ocean Apart: Contemporary Vietnamese Art from the United States and Vietnam (“Nghìn Trùng Xa Cách,” Washington, DC: Smithsonian Institution Traveling Exhibit Service, 1995), dịch các tiểu-luận về mỹ-thuật trong Thái Tuấn: Selected Paintings and Essays (Garden Grove, CA: VAALA, 1996).
Góp mục từ điển
"Southeast Asian Literature," trong Funk and Wagnalls New International Yearbook 1965, "Southeast Asia," trong The Oxford Companion to Women's Writings in the United States, "Nguyen Chi Thien" trong Mark Wilhardt, Who's Who in Twentieth-century World Poetry (Routledge, London, 2002).
Góp mặt trong các tuyển tập
Dịch thơ VN trong Dorothy B. Shimers (chủ-biên, Voices of Modern Asia, New York: New American Library, 1973), có gần 40 bài thơ Việt trong Katharine Washburn và John S. Major, World Poetry, An Anthology of Verse from Antiquity to Our Time (Thơ Thế-giới, một tuyển-tập từ thượng-cổ đến ngày nay, New York: Norton, 1998), và có thơ VN dịch trong khoảng 40 sách giáo-khoa Mỹ.
• Phỏng vấn Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích về tác phẩm "Ngày Long Trời, Ðêm Lở Ðất"
http://www.nguoi-viet.com/absoluten…/…/viewarticlesNVO.aspx…
• GS Nguyễn Ngọc Bích giới thiệu 'Lưu Hương Ký' và 'Ảnh Trường Kịch Giới'
http://www.nguoi-viet.com/absoluten…/…/viewarticlesNVO.aspx…
• Kỷ niệm 40 năm Hiệp Ðịnh Paris
http://www.nguoi-viet.com/absoluten…/…/viewarticlesNVO.aspx…

Tạm Biệt Anh Nguyễn Ngọc Bích


Như mỗi buổi sáng, hôm nay sau khi vào online check mail, thấy không có gì quan trọng phải hồi âm ngay, tôi vào facebook. Vừa vào thì nhận được tin nhắn của bạn phương xa chia buồn cùng tôi về việc giáo sư Nguyễn Ngọc Bích từ trần!

Tôi không tin ở tin nhắn ngắn gọn, hỏi lại người nhắn tin thì được cho link vào search. Từ trang facebook bạn Trần Triét và search qua báo Người Việt tôi thấy được nguồn tin khả tín. Quả thực anh Nguyễn Ngọc Bích đã bỏ chúng tôi ra đi. Ra đi một cách đôt ngột không kịp giã từ gia đình và thân hữu. Tôi bàng hoàng và thực đau buồn!

Tôi vội điện thoại thông báo cho một số anh chị em trong Câu Lạc Bộ Văn Học Nghệ Thuật Hoa Thịnh Đốn về tin buồn này. Miền Đông Bắc, sau cơn ngủ qua đêm, tin nhận chậm nên có người vừa biết, có người chưa biết tin buồn. Tiếp đó là email qua lại và gởi lời chia buồn nhanh đến gia đình anh Nguyễn Ngọc Bích!

Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người anh kính mến của tôi đã vĩnh viễn cách xa những thân hữu quanh anh. Nhắc đến giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, trong giới văn học và truyền thông, tôi nghĩ người biết và hiểu anh không ít. Bởi nguyên cả cuộc đời anh luôn tận tâm với sứ mệnh của người cầm bút vì chính sử và tận tình với quê hương dân tộc.

Ngoai cơ sở xuất bản "Tổ Hợp Miền Đông" do chính anh thành lập với mục đích nghiên cứu văn học sử Đông Phương và xuất bản những quyển sách có giá trị phục hồi và khai sáng văn học sử Việt Nam.

Cứ nhìn vào tiểu sử và quá trình hoạt động của anh, đủ thấy đây là một điển hình nhân cách sống vì Dân và vì Nước.
Hạnh phúc lắm cho tôi khi được anh tiếp nhận với cả tình của một người anh và một người bạn. Qua thư riêng và điện thoại giao tiếp giữa anh và tôi, lúc nào cũng đầy ắp tình thân mến tâm giao.

Anh chia sẻ với tôi những ân tình trên chữ nghĩa khi tôi gởi anh một bài viết mới. Anh nói: "Cao Nguyên vẫn giữ phong cách riêng chuyển tải ân tình chữ nghĩa đến với Người và Đất rất chân thành". Lời nói của anh là món quà đẹp anh tặng tôi và nhắc tôi luôn nhớ mãi trách nhiệm của người cầm bút thật thà với chữ nghĩa và trân trọng người đọc bằng một chữ Tình.

Tấm lòng sống vì mọi người của anh được tất cả anh chị em trong CLB Văn Học Nghệ Thuật Hoa Thịnh Đốn ghi nhận sâu sắc và tâm đắc. Nên chi trong những buổi họp cộng đồng, hội cao niên, câu lạc bộ Tin Sách ... mà thiếu vắng anh là như thiếu một tâm hồn đồng điệu cả về mặt nhân sinh nghệ thuật sống làm người trong tâm tư người cầm bút thân ái và nhân bản.
Từ những lẽ đó, tôi nghĩ trong hiện hữu các sinh hoạt cộng đồng hay văn học anh không cô đơn, vì bên anh luôn có thân hữu đồng hành. Hơn thế, người luôn đồng hành cùng anh ở mọi nơi và mọi lúc là Tiến sĩ Đào Thị Hợi - người vợ cũng là người trợ tá đắc lực của anh, cùng làm việc và cùng chia sẻ buồn vui qua những thăng trầm thời cuộc.
Viết về anh hôm nay, tâm tư tôi hoàn toàn lắng đọng riêng nghĩ về anh sau phút giây bàng hoàng nhận được tin buồn!

Anh ra đi, tôi cũng bị hẩng một ước mong thực hiện thi tập "Nhà Việt Nam", mà anh hứa sẽ giúp tôi chuyển dịch sang Anh Ngữ để chuyển tải đến các bạn trẻ về tâm huyết của thế hệ đàn anh những tâm tư và nguyện vọng phục hưng tự do dân chủ cho Việt Nam sau thảm trạng chiến tranh và chiếm đoạt quê hương do tập đoàn cộng sản phương Bắc gây ra.

Trước sau gì mình cũng đến nơi mình phải đến, sẽ gặp lại đương nhiên ở một tinh cầu mới có sự sống vĩnh hằng. Thay vì nói lời vĩnh biệt, tôi xin được nói lời tạm biệt anh Nguyễn Ngọc Bích, người anh trọng kính của tôi. Tôi biết thời gian tới, trong mỗi kỳ họp cộng đồng hay văn học vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn, mọi người vẫn nhắc đến tên anh. Tạm biệt anh nhé, bình an trong cõi vĩnh hằng và tiếp trợ anh em còn ở lại tiếp tục sứ mạng của người cầm bút phục vụ tự do bác ái và nhân quyền .

Người em và người bạn thân tình của anh.

Cao Nguyên
Washington.DC - March 03,2016

@

R.I.P: Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích

Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích đột ngột qua đời lúc 12 giờ sáng ngày 3/3 (giờ miền đông Hoa Kỳ) khi đang trên chuyến bay tới thủ đô Philippines tham dự một hội nghị cổ súy cho chủ quyền Việt Nam ở Biển Đông.
Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, một học giả uy tín và cũng là một nhà hoạt động vì dân chủ-nhân quyền cho Việt Nam, vừa đột ngột qua đời khi đang trên chuyến bay tới thủ đô Philippines tham dự một hội nghị cổ xúy cho chủ quyền Việt Nam ở Biển Đông.

Giáo sư Nguyễn Ngọc Linh từ bang Virginia, anh trai giáo sư Bích, cho VOA Việt ngữ biết ông nhận được hung tin lúc 12 giờ sáng ngày 3/3 (giờ miền đông Hoa Kỳ) từ vợ giáo sư Bích, Tiến sĩ Đào Thị Hợi. Giáo sư Nguyễn Ngọc Linh:

image
"Nhận được tin báo do bà Bích gọi từ máy bay về trong khi máy bay còn chưa tới Manila, báo tin ông Bích mới bị cơn đau tim và đi rồi."