Thứ Năm, 18 tháng 6, 2015

Giá trị của VNCH




 - ...Giá trị của VNCH được xây bằng xương máu của bao nhiêu người và ngày nay đã vượt qua khỏi vĩ tuyến 17 để trở thành ước vọng chung cho cả dân tộc. Sau 40 năm, VNCH như một mạch nước chảy ngầm trong rặng núi, đau đớn, vất vả, khó khăn nhưng không bao giờ ngừng chảy. Nếu ai cho tôi khoác lác hãy gác qua bên mặc cảm Bắc Nam, định kiến xã hội, khuynh hướng chính trị, đảng phái, tôn giáo, tả khuynh, hữu khuynh, thù hận riêng tư và thậm chí che luôn bốn chữ Việt Nam Cộng hòa trên trang đầu của Hiến pháp VNCH mà chỉ đọc một cách nghiêm chỉnh nội dung thôi, tôi tin người đọc dù Nam hay Bắc, dù trong hay ngoài nước, sẽ công nhận đó chính là mục tiêu mà dân tộc Việt Nam cần phải đạt đến...

*

Trong suốt 60 năm từ 1954, bộ máy tuyên truyền của đảng đã không ngừng vẽ trong nhận thức của bao nhiêu thế hệ Việt Nam một VNCH chẳng khác gì một con ma, ghê sợ, hung dữ và tội lỗi nhất trong thế gian này. Suốt 60 năm qua, VNCH là hiện thân của thứ tội ác. Trong nhận thức không chỉ tuổi trẻ Việt Nam sinh sau 1975 mà ngay cả các tầng lớp cán bộ, đảng viên, nhà văn, nhà thơ đều được dạy để biết VNCH có ba đặc điểm lớn là “tham nhũng”, “trấn áp” và “ôm chân đế quốc Mỹ”. 

Trong tiểu luận “Khám nghiệm một hồn ma” trên Talawas 8 năm trước người viết đã có dịp phân tích thể chế cộng hòa tại miền Nam. Xin trích một phần bài viết đó ở đây để chia sẻ với các độc giả chưa đọc. 

Miền Nam trước 1975 có tham nhũng không? Chẳng những có mà còn vô cùng trầm trọng. 

Miền Nam có đàn áp biểu tình, đối lập không? Có, không chỉ đàn áp một lần mà nhiều lần, không chỉ một năm mà nhiều năm. 

Miền Nam trước 1975 có sống bám vào viện trợ Mỹ không? Có, không chỉ 300 triệu dollars “viện trợ đặc biệt” như nhiều người hay nhắc mà nhiều tỉ đô la. 

Vâng, tất cả điều đó đều có. Chế độ cộng hòa tại miền Nam Việt Nam ra đời và lớn lên trong một hoàn cảnh chiến tranh tàn khốc, trong đó các nguyên tắc dân chủ đã trở thành con dao hai lưỡi. Chính con dao dân chủ hai lưỡi đó đã đâm vào thân thể của chế độ cộng hòa hàng trăm vết thương đau đớn từ ngày mới ra đời cho đến gục xuống trong tức tưởi. Miền Nam có tất cả sắc thái của một xã hội dân chủ đang từng bước đi lên. Dân chủ không phải là lô độc đắc giúp một người trở nên giàu sang trong một sớm một chiều mà là quá trình tích lũy vốn liếng từ những chắt chiu của mẹ, tần tảo của cha, thăng trầm và thử thách của cả dân tộc. 

Ngay cả những quốc gia tiên tiến như Pháp, Mỹ, Nam Hàn cũng phải bước qua con đường đầy máu nhuộm để có được nền dân chủ như hôm nay. VNCH cũng vậy. Miền Nam có đàn áp chính trị nhưng cũng có đấu tranh chính trị, có ông quan tham nhũng nhưng cũng có nhiều phong trào chống tham nhũng hoạt động công khai, có ông tướng lạm quyền nhưng cũng có ông tướng trong sạch, có nghị gà nghị gật nhưng cũng có những chính khách, dân biểu, nghị sĩ đối lập chân chính. Như một viên ngọc nằm trong lòng lớp rong rêu của vỏ con trai, trên tất cả, giá trị đích thực của VNCH không nằm trong tham nhũng, trấn áp và đồng đô la Mỹ mà nằm trong Hiến pháp VNCH đặt nền tảng trên một thể chế dân chủ do dân và vì dân. 

Lời mở đầu của Hiến pháp 1967 do chủ tịch Quốc hội Lập hiến Phan Khắc Sửu ký ngày 18 tháng 3 năm 1967, xác định Việt Nam là một chế độ cộng hòa “Dân chủ độc lập, thống nhất, lãnh thổ bất khả phân, chủ quyền thuộc về toàn dân” phát xuất từ “Ý thức rằng sau bao năm ngoại thuộc, kế đến lãnh thổ qua phân, độc tài và chiến tranh, dân tộc Việt Nam phải lãnh lấy sứ mạng lịch sử, tiếp nối ý chí tự cường, đồng thời đón nhận những tư tưởng tiến bộ để thiết lập một chánh thể cộng hòa của dân, do dân và vì dân, nhằm mục đích đoàn kết dân tộc, thống nhất lãnh thổ, bảo đảm Độc lập Tự do Dân chủ trong công bằng, bác ái cho các thế hệ hiện tại và mai sau.” 

Ngoài phần mở đầu hùng hồn nêu trên, chuyên chở trong suốt 9 chương và 117 điều của Hiến pháp 1967 là nền tảng của chế độ cộng hòa, qua đó, quyền lãnh đạo đất nước như chỉ rõ trong điều 3, được phân quyền rõ rệt: ”Ba cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp phải được phân nhiệm và phân quyền rõ rệt. Sự hoạt động của ba cơ quan công quyền phải được phối hợp và điều hòa để thực hiện trật tự xã hội và thịnh vượng chung trên căn bản Tự do, Dân chủ và Công bằng xã hội”. 

Phục hưng VNCH không có nghĩa là phục hưng chính quyền miền Nam. Chính thể không đồng nghĩa với một chính quyền và do đó không sống hay chết theo một chính quyền. Giá trị của VNCH được xây bằng xương máu của bao nhiêu người và ngày nay đã vượt qua khỏi vĩ tuyến 17 để trở thành ước vọng chung cho cả dân tộc. Sau 40 năm, VNCH như một mạch nước chảy ngầm trong rặng núi, đau đớn, vất vả, khó khăn nhưng không bao giờ ngừng chảy. Nếu ai cho tôi khoác lác hãy gác qua bên mặc cảm Bắc Nam, định kiến xã hội, khuynh hướng chính trị, đảng phái, tôn giáo, tả khuynh, hữu khuynh, thù hận riêng tư và thậm chí che luôn bốn chữ Việt Nam Cộng hòa trên trang đầu của Hiến pháp VNCH mà chỉ đọc một cách nghiêm chỉnh nội dung thôi, tôi tin người đọc dù Nam hay Bắc, dù trong hay ngoài nước, sẽ công nhận đó chính là mục tiêu mà dân tộc Việt Nam cần phải đạt đến. Công nhận các giá trị được đề ra trong hiến pháp VNCH không có nghĩa là đầu hàng, chiêu hồi. Không. Không ai có quyền chiêu hồi ai hay kêu gọi ai đầu hàng. Đây là cuộc chiến mới, cuộc chiến giữa dân tộc và phản dân tộc, giữa cộng hòa và cộng sản, giữa tự do và độc tài, giữa nhân bản và toàn trị. Mỗi người Việt sẽ chọn một chỗ đứng cho chính mình phù hợp với quyền lợi bản thân, gia đình, con cháu và sự sống còn của dân tộc. 

Hiến pháp VNCH có thể chưa hoàn chỉnh nhưng là một văn kiện tham khảo cần thiết để kiến tạo một Việt Nam dân chủ cường thịnh. Hạt giống do Phan Chu Trinh, Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh và rất nhiều nhà cách mạng miền Nam khác gieo xuống hàng thế kỷ trước đã mọc và lớn lên trong mưa bão. Hạt giống dân chủ khơi mầm tại miền Nam cũng không chỉ bắt đầu sau khi đất nước bị chia đôi 1954 mà đã có từ hàng trăm năm trước. 

Lợi dụng chính sách Nam kỳ tự trị của thực dân, các nhà cách mạng tại miền Nam có cơ hội học hỏi và áp dụng phương pháp đấu tranh nghị trường, tiếp cận các tư tưởng dân chủ Tây phương, mở mang dân trí làm nền tảng cho chế độ cộng hòa sau này. Đó không phải là sản phẩm của Tây hay Mỹ mà là vốn quý của dân tộc đã được đổi bằng máu, mồ hôi, nước mắt của nhiều người. Đó không phải là tài sản của riêng miền Nam mà của tất cả những người Việt cùng ôm ấp một ước mơ dân chủ. Những ai biết gạt bỏ định kiến Bắc Nam, tháo gỡ lớp màn “căm thù Mỹ Ngụy” ra khỏi nhận thức, sẽ thấy đó chính là hành trang cần thiết cho nỗ lực mưu cầu một xã hội công bằng và tốt đẹp hơn cho các thế hệ mai sau. Không cần phải tìm giải pháp từ Miến Điện, Nam Phi, Ai Cập, Libya hay tìm chân lý ở Anh, ở Mỹ mà ngay ở đây, giữa lòng đất nước Việt Nam. 

Phục hưng VNCH không có nghĩa là phủ nhận công lao của những người đã hy sinh trong chiến tranh chống thực dân Pháp. Như kẻ viết bài này đã nhấn mạnh nhiều lần, cuộc chiến chống thực dân Pháp là cuộc chiến chính nghĩa. Đó là cuộc đấu tranh đầy gian khổ nhưng rất anh hùng của một dân tộc bị nô lệ đã đứng lên chống lại một thực dân tàn bạo. Việc tham gia vào đảng phái, kể cả việc tham gia vào đảng Cộng sản của một số người Việt Nam trong thời kỳ chống Pháp, chủ yếu là để được tổ chức hóa nhằm mục đích hợp đồng chiến đấu, đạt đến chiến thắng dễ dàng hơn. Những người Việt yêu nước thời đó chọn lựa đảng phái như chọn một chiếc phao để đưa dân tộc sang bờ độc lập nhưng đối với đảng CS chiếc phao lại chính là dân tộc. 

Nhiều người yêu nước chọn tham gia vào đảng CS nhưng bản thân đảng CS như một tổ chức chính trị dựa trên ý thức hệ CS chưa bao giờ là một đảng yêu nước. Những nông dân hiền hòa chất phác, những công nhân đầu tắt mặt tối làm sao biết được con đường họ đi không dẫn đến độc lập, tự do, hạnh phúc mà dẫn đến nghèo nàn, lạc hậu, độc tài và làm sao biết được chiếc phao họ bám cũng là chiếc bẫy buộc chặt chẳng những cuộc đời họ mà còn gây hệ lụy cho cả dân tộc đến ngày nay. Dù sao, người yêu nước bằng tình yêu trong sáng, không đánh thuê, đánh mướn cho một chủ nghĩa, một ý thức hệ ngoại lai vong bản hay cho một quyền lợi đế quốc nào sẽ không bao giờ chết, không bao giờ bị lãng quên. Lịch sử sẽ đánh giá, tổ quốc sẽ ghi công họ một cách công bằng. 

Phục hưng VNCH không có nghĩa là tái thực thi hiệp định Paris. Dân tộc Việt Nam là một thực thể thống nhất và tất cả các hòa ước Patenôtre, hiệp định Geneva hay hiệp định Paris đều là những chiếc còng của thực dân và đế quốc áp đặt lên đầu lên cổ dân tộc Việt Nam trong giai đoạn Việt Nam yếu kém và phân hóa. Trước 1975, trong đáy lòng của bất cứ một người Việt yêu nước nào cũng mong một ngày dân tộc Việt Nam từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau sẽ được đoàn viên trong tự do, dân chủ và thịnh vượng. Tuy nhiên, ngoài trừ lãnh đạo CSVN chủ trương CS hóa toàn cõi Việt Nam bằng súng đạn của Nga, Tàu, không ai muốn đoàn viên phải trả bằng giá của nhiều triệu sinh mạng người dân vô tội, đốt cháy một phần đất nước, để lại một gia tài nghèo nàn lạc hậu cho con cháu. Hôm nay, dù không tự mình chọn lựa, dân tộc Việt Nam cũng đã là một và không có một thế lực nào làm Việt Nam phân ly lần nữa. 

Lịch sử Việt Nam như một dòng sông, có khi cuồn cuộn lúc âm thầm, có chỗ sâu chỗ cạn nhưng chưa bao giờ ngưng chảy. Đó là sự thật. Khoảng thời gian từ khi Mã Viện, danh tướng nhà Đông Hán, đánh bại Hai Bà Trưng (năm 43) đến khi Lý Nam Đế đánh bại quân Lương Vũ Đế và dựng nước Vạn Xuân (năm 543) là tròn 500 năm. Biết bao nhiêu lớp người đã sinh ra và chết đi trong suốt 5 thế kỷ sống trong bóng tối nô lệ nhưng sức sống Việt Nam vẫn tồn tại và lớn lên. Việt Nam là một trong số rất ít quốc gia trên thế giới trong đó người dân gọi nhau bằng hai tiếng đồng bào thân thương và trìu mến. Đối mặt với một kẻ thù đông hơn nhiều và mạnh hơn nhiều, chưa bao giờ sức mạnh tổng hợp của 90 triệu người Việt trong nước và 3 triệu người Việt ở hải ngoại cần thiết như hôm nay. Đảng CS có 3 triệu đảng viên nhưng đa số trong số 3 triệu người này trong thực tế cũng chỉ là nạn nhân của một tập đoàn lãnh đạo đảng tham quyền và bán nước. Chỉ có sức mạnh toàn dân tộc phát triển trên cơ chế dân chủ tự do mới mong thắng được Trung Cộng và mọi kẻ thù có âm mưu xâm lược Việt Nam. Tổ tiên Việt Nam đã làm được rồi các thế hệ Việt Nam ngày nay cũng sẽ làm được. 

Người viết biết rằng, đối với một số người Việt đã bị bộ máy tuyên truyền đầu độc quá lâu và các bạn trẻ bị nhào nặn hoàn toàn trong hệ thống giáo dục một chiều CS, để có một nhận thức đúng về lịch sử là một quá trình đấu tranh tư tưởng khó khăn. 

Nếu vậy, tạm gác qua chuyện thế kỷ trước mà hãy nhìn thẳng vào thực tế đất nước sau 39 năm vẫn là một nước lạc hậu về mọi mặt từ kinh tế, chính trị, quốc phòng và đời sống. Việt Nam còn thua xa những nước ở châu Phi như Ghana, Sierra Leone, Namibia vì những quốc gia đó còn nghèo nhưng hãnh diện vì chính phủ họ do nhân dân họ bầu lên. Nếu vậy, tạm gác qua chuyện thế kỷ trước mà hãy nhìn vào cách giải quyết tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa với Trung Cộng của lãnh đạo CSVN. Ngoài những lời phản đối đọc như kinh nhật tụng họ không có và cũng không thể có một chọn lựa dứt khoát nào chỉ vì quyền lợi trước mắt của một nhóm người lãnh đạo được đặt lên trên quyền lợi lâu dài của đất nước. Như người viết đã trình bày trong bài trước, rồi mai đây, sau trận đánh ghen HD-981, lãnh đạo CSVN lại lên đường sang Bắc Kinh triều cống, lại 16 chữ vàng, lại ca ngợi tình đồng chí, nghĩa anh em thắm thiết. Cơn hờn giận giữa hai đảng CS theo thời gian có thể sẽ nguôi ngoai nhưng trên các vùng biên giới, trong lòng biển Việt Nam, máu của ngư dân Việt Nam, của người lính biển Việt Nam sẽ không ngừng chảy. Thảm trạng xã hội Việt Nam hôm nay, những lạc hậu kinh tế hôm nay, những yếu kém về quốc phòng hôm nay, những cô đơn trong bang giao quốc tế hôm nay là những câu trả lời cho những ai còn do dự, còn một chút tin tưởng nào đó ở lãnh đạo đảng CSVN. 

Sau hải chiến Hoàng Sa đầy hy sinh xương máu, VNCH lần nữa lại được lịch sử giao trọng trách đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa trong tay Trung Cộng. Cuộc tranh đấu mới sẽ khó khăn nhưng là con đường đúng nhất của dân tộc trong cùng hướng phát triển của nhân loại. Giống như hầu hết các nước cựu CS ở Đông Âu và khối Liên Xô, thể chế Cộng Hòa là chọn lựa đương nhiên và dứt khoát. Các quốc gia sẽ bình đẳng trước công pháp quốc tế. Những khẩu hiệu tuyên truyền rất sến như “16 chữ vàng”, “hữu nghị Việt Trung” sẽ bị chôn sâu theo xác của ý thức hệ CS. Dân tộc Việt Nam sẽ vượt qua những khó khăn để phát triển thành một quốc gia hiện đại về cả kinh tế lẫn quốc phòng. Các nhà lãnh đạo VNCH trong cuộc đấu tranh mới trên mặt trận ngoại giao sẽ hành xử xứng đáng với tư cách của một cấp lãnh đạo chính danh, thay mặt cho một nước VNCH thống nhất, dân chủ, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và chắc chắn sẽ được sự ủng hộ của đại đa số con người yêu chuộng tự do, hòa bình trên thế giới. Giành lại Hoàng Sa và bảo vệ Trường Sa là một cuộc tranh đấu gian nan, gai góc, bị chi phối bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, nhưng chính nghĩa và chân lý cuối cùng sẽ thắng.

*

Trích đoạn từ bài viết "Việt Nam Cộng Hòa, lối thoát của Hoàng Sa và dân tộc" của tác giả Trần Trung Đạo.


Trần Trung Đạo

Ngày Quân Lực VNCH



Ngày 19 tháng 6 là Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà [QLVNCH]. Đó là ngày ghi nhớ ơn nghĩa của những nam nữ quân nhân Việt Nam Cộng Hoà đã vì nước hy sinh, vì dân chiến đấu khi còn ở nước nhà. Và những người ấy bây giờ đã lớn tuổi mà không nghỉ ngơi, vẫn tiếp tục chiến đấu bằng tay không với ý chí kiên cường, tinh thần bất khuất trong một cuộc “chiến tranh khác” – là cuộc chiến tranh chánh trị, đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN ở hải ngoại để hỗ trợ cho đồng bào người Việt Quốc gia trong nước. Chớ ở hải ngoại tại các nước định cư ở Tây Âu, Bắc Mỹ và Úc châu, tự do, bình đẳng, dân chủ, nhân quyền đã có thừa người Việt không cần đấu tranh cho mình nữa.

00

Một, người chiến sĩ VNCH trong chiến tranh Quốc Cộng ở nước nhà VN. Trong cuộc chiến tranh chống lại sự xâm lược của CS Bắc Việt, QLVNCH là những người Việt Bắc, Trung, Nam, Thượng đem những ngày hoa mộng của đời mình để chiến đấu cho tự do, dân chủ của đồng bào trước làn sóng xâm lược của CS. Chiến đấu hào hùng, bẻ gãy mọi cuộc tấn công của CS. Dù mới thành lập nhưng kiên cường chiến đấu suốt hai thời đệ nhứt và đệ nhị VNCH, trở thành một quân lực hùng cường nhứt ở Đông Nam Á. Không một xóm, một làng, một quận nào của Miền Nam từ Bến Hải đến mũi Cà mau, CS tấn công mà CS chiếm giữ được.

Có trên 300,000 quân nhân VNCH đã hy sinh cho Tổ Quốc. Nếu so với dân số Mỹ và số 2 triệu thương vong Mỹ trong cuộc Chiến Tranh Nam Bắc của Mỹ, tỷ lệ tổn thất của QLVNCH cao gấp đôi của Mỹ. Nếu không thực sự dũng cảm chiến đấu, thì không thể tổn thất lớn lao như vậy.

Với độ lùi thời gian quá đủ, với tài liệu về Chiến tranh VN Mỹ giải mật gần hết, những nhà nghiên cứu và lịch sử đã trả lại chân lý cho QLVNCH một thời bị Phản Chiến Mỹ gieo tiếng oán một cách oan sai trên truyền thông và công luận Mỹ. Rõ rệt như trong cuộc Tổng Công Kích Tết Mậu Thân của Cộng sản Bắc Việt, quân nhân VNCH đã chống trả một cách quyết liệt và hữu hiệu. Không một đơn vị nào bị tan rã, không một thành phố nào CS chiếm giữ được.

Trái lại quân của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam bị nướng gần hết. Các sư đoàn xâm nhập của CS Bắc Việt bị phản công điên đảo phải rút qua biên giới Miên, Lào “dưỡng quân”, tạo một thời kỳ hậu Mậu Thân rất yên ổn cho VNCH.

Lúc bấy giờ tinh thần quân dân như cá với nước lên cao làm thanh niên VN tình nguyện vào QLVNCH quá đông khiến QLVNCH ngưng tuyển mộ và cho quân nhân gốc giáo chức biệt phái về trường tiếp tục dạy học.

Trong trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, CS Bắc Việt pháo kích như mưa, dùng chiến xa tấn công liên tục. QLVNCH đã anh dũng tử thủ chiến trường An Lộc. Một tiểu đội hạ được hai xe thiết giáp của CS Bắc Việt. Để rồi đánh đuổi bộ đội CS Bắc Việt bao vây, làm ngạc nhiên Mỹ và thế giới.

Trong trận Khe Sanh, báo chí phản chiến của Mỹ ở Saigon, ăn ngủ trong phòng lạnh chê QLVNCH. Trái lại người quân nhân Mỹ ở chiến truờng rất kính phục. Trên Báo Armed Forces Journal của Mỹ số 19 tháng 4 năm 1972, Đại tá Robert Monelli, một sĩ quan Hoa Kỳ có mặt trong mặt trận đó đã kể lại "Một tiểu đoàn VNCH với 420 binh sĩ bị bao vây liên tiếp trong ba ngày bởi một trung đoàn Cộng Sản độ 2.500 đến 3.000 tên. Quân đội Hoa Kỳ không thể tiếp tế cho họ được. Họ phải chiến đấu cho tới khi gần hết đạn, rồi mở đường máu bằng khí giới tịch thu của địch. Họ đã mang theo tất cả binh sĩ bị thương và cả một số xác chết. Không ảnh thám sát chụp được rõ ràng có 637 xác địch rải rác chung quanh căn cứ. Về phía quân đội VNCH, tiểu đoàn trên chỉ còn lại có 253 binh sĩ sau khi đến được vòng đai bạn.”

Trong thời kỳ Mỹ việt nam hoá chiến tranh và thi hành Hiệp Định Paris năm 1973, các cuộc nghiên cứu sau này của những chiến lược gia Mỹ, đặc biệt là ở ở Đại Học Texas cho biết nếu Quân lực Mỹ bị cúp quân viện như QLVNCH, thì Quân Lực Mỹ chỉ có thể chịu đựng ba tháng mà thôi, chớ không phải ba năm như QLVNCH.

Và trận chiến sau cùng khi VNCH bị Mỹ bức tử. Mỹ cúp viện trợ chánh quyền VNCH, cúp quân viện QLVNCH, kể cả đạn dược và xăng dầu thiết yếu. Thế nhưng một sư đoàn của QLVNCH đã anh dũng cầm cự chiến đấu với bốn sư đoàn quân Bắc Việt trong suốt hai tuần lễ tại Xuân Lộc.

Hai, người chiến sĩ VNCH trong chiến tranh chánh trị ở hải ngoại. Ngày Quân Lực là ngày thán phục những quân nhân VNCH sau nhiều năm tù cải tạo còn da bọc xương, đi tỵ nạn chánh trị ở các nước, nhưng không ai coi mình đã giải ngũ. Tướng Mac Athur tài danh của Mỹ nói, người lính già không chết mà chỉ mờ khuất trong lịch sử thôi. Những người lính gìa của QLVNCH cùng toàn quân dân, cán, chính vẫn tiếp tục cuộc chiến đấu. Chuyển sang hình thái chiến tranh mới, chiến tranh chánh trị, đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN. Có tự do, dân chủ nhân quyền là không có CS độc tài đảng trị toàn diện.



Ngày Quân Lực là ngày quân dân cán chính VNCH tự hào mình đã tiếp tay khai nguyên, xây dựng được một Việt Nam Hải Ngoại đối kháng với chế độ CS ở nước nhà VN, như quân nhân và kháng chiến quân Pháp và những người Pháp yêu nước cùng Tướng De Gaulle kết họp lại thành France d Outre mer, làm đầu cầu cùng đồng minh đánh đuổi quân Đức Quốc xã ở nước nhà Pháp và ở Âu châu. Không sống được ở VN với CS, quân dân cán chính VNCH và hậu duệ đem VN theo mình. Tương kế tự kế vận động giương cao ngọn cờ VN nền vàng ba sọc đỏ tại các nước định cư ở Tây Âu, Bắc Mỹ và Úc châu dù VNCH bây giờ không còn pháp nhân công pháp đối với Liên Hiệp Quốc.

40 năm sau, chỉ một thế hệ xã hội học thôi, non nửa đời người thôi, bất cứ nơi nào có cộng đồng người Việt là có các tổ chức chánh trị, hội đoàn, văn hóa, xã hội ngoại vi, thân hào nhân sĩ vừa là đối tượng vừa là chủ thể của một Việt Nam Hải Ngoại.

Trong những người Việt còn gắn bó với vận mạng nước non nhà, phần lớn có anh chị em QLVNCH. Bỏ công bỏ của riêng, “ăn cơm nhà ra vác ngà voi hàng tổng” để phục vụ cộng đồng. Bất cứ nơi nào có biểu tình chống Cộng là có mặt anh chị em quân nhân VNCH đảm trách vai trò xương sống và an ninh nổi chìm cho cuộc đấu tranh. Khen thì ít, chê lại nhiều, nhưng tinh thần cộng đồng trong tim óc vẫn mạnh hơn những lời ra tiếng vào vốn phải có trong sinh hoạt tập thể ở các nươc tự do.

Ba, Ngày Quân Lực VNCH là ngày nhớ ơn những người mẹ, ngưởi vợ, người chị, người em gái, ngươi con của quân nhân QLVNCH đã buôn gánh bán bưng, lo tần lo tảo, chắc mót để dành đi “thăm nuôi chồng con em” là quân nhân QLVNCH bị đi tù cải tạo.

Ngày Quân Lực là ngày lớp trẻ của các gia đình quân dân cán chính VNCH dành cơ hội tự vấn lương tâm, nhận thức và khẳng định mình từ đâu, nhờ ai mà đến được những vùng đất hứa này để tiến thân ngàn lần hơn những người đồng trang lứa còn kẹt trong nước. Để từ đó tiếp nồi truyền thống hào hùng và tinh thần bất khuất của những cha anh là chiến sĩ VNCH đi trước. Đó là những người nay dù già rồi vẫn tiếp tục con đường đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN mà hơn 90 triệu đồng bào trong nước rất hy vọng và tin tưởng/.

Vi Anh
 

Thứ Tư, 17 tháng 6, 2015

GIỌT MƯA

Thảm Họa Bắc Thuộc

Thảm họa Bắc thuộc: Phim Tài liệu
Kính Hòa, phóng viên RFA
2015-06-15
Hình bìa bộ phim Tài liệu Thảm họa Bắc thuộc
Hình bìa bộ phim Tài liệu Thảm họa Bắc thuộc

 Một nhóm làm phim tại hải ngoại vừa cho ra đời một bộ phim tài liệu mang tựa đề Thảm họa bắc thuộc, nói về quan hệ Việt nam Trung quốc. Sau đây là trao đổi giữa Kính Hòa và ông Chu Lynh, một trong những người thực hiện bộ phim về việc xây dựng bộ phim cũng như nội dung của nó. Ông Chu Lynh cho biết:

Ông Chu Lynh: Cuốn phim Thảm họa bắc thuộc đã được thực hiện trong hơn hai năm, với cái nội dung chính yếu là nhận diện cộng sản Trung Hoa, và nhận diện cộng sản Việt nam trong cái thảm kịch đưa đất nước Việt nam vào tình trạng thảm họa bắc thuộc. Sau đó chúng tôi có nói tới, đề cập tới một phần khá quan trọng, đó là những ngọn lửa Việt xuất phát từ trong quá khứ của lịch sử Việt nam cho đến ngày hôm nay. Những người trong nước, đặc biệt là giới trẻ, tổ chức thành những đoàn thể để mà lên tiếng về cái thảm họa bắc thuộc ngày hôm nay. Và sau cùng là chúng tôi cũng gửi đi một thông điệp, thông điệp này trước tiên là của tiền nhân, kế tiếp là của những nạn nhân trong thảm kịch bắc thuộc.

Kính Hòa: Hiện nay Việt nam là một quốc gia độc lập, thế thì cái đe dọa là như thế nào để Việt nam lệ thuộc Trung Hoa như ông vừa nói, thì ông có thể nói rõ hơn không?

Ông Chu Lynh: Chuyện Bắc thuộc không phải chỉ có bây giờ mà nó xuất phát từ trong quá khứ. Nhưng mà người Tàu không làm gì được nước Việt nam, bởi vì lúc đó triều đình với dân là một để chống lại quân xâm lăng từ phía bắc. Nhưng ngày hôm nay, triều đình tức là cộng sản Việt nam không đứng về phía dân chúng, tức là không đứng về phía dân tộc, cho nên người dân rất khó lòng chống lại người Tàu. Ngược lại thì cộng sản Việt nam đã toa rập, thần phục, tiếp tay cho người Tàu để mở cửa, từ biên giới cho đến các lĩnh vực khác, để người Tàu chiếm các cuộc đấu thầu, những cuộc đấu thầu có tính chiến lược về kinh tế và quốc phòng đều lần lượt nằm trong tay người Tàu. Chúng tôi không đi vào chi tiết vì trong cuốn phim có nõi rõ những lãnh vực đó.

Nội dung chính yếu là nhận diện cộng sản Trung Hoa, và nhận diện cộng sản Việt nam trong cái thảm kịch đưa đất nước Việt nam vào tình trạng thảm họa bắc thuộc
Ông Chu Lynh

Chúng tôi nghĩ rằng nếu mà ngày nay, cộng sản Việt nam trở về với dân tộc và đứng về phía dân chúng, thì chúng tôi nghĩ sẽ không có thảm họa bắc thuộc.

Kính Hòa: Thưa ông Chu Lynh, đây là một bộ phim tài liệu, vậy thì ông có thể cho biết những nguồn tài liệu nào đã được sử dụng và những nhân vật nào xuất hiện trong phim?

Ông Chu Lynh: Tài liệu về thảm họa bắc thuộc trôi nổi trên Internet rất là nhiều. Mà nếu mình lấy tài liệu trên Internet thì phải nói là rất khó khăn vì có quá nhiều tài liệu. Có nhiều bài báo có tính cách nghiên cứu, mà nhận định cũng không thuần nhất, thì cái nhiệm vụ của chúng tôi khi làm phim tài liệu là lọc và hệ thống hóa tất cả những dữ diệu trong quá khứ, và hiện tại. Chúng tôi lọc ra và chọn những tài liệu. Cộng với một số nhà nghiên cứu có uy tín ở hải ngoại, đồng thời chúng tôi cũng có phỏng vấn một số người trong nước.

Đặc biệt chúng tôi có mời ba nhân vật ngoại quốc là đạo diễn David Setter, ông là đạo diễn của bộ phim The age of Delirium, hình như dịch ra là Thời đại mê sảng. Giáo sư Stephen Young, ông là Giáo sư tại trường Đại học Hamline, Minnesota. Và sau cùng là Giáo sư Carlyle Thayer là chuyên viên về Đông Nam Á, rất nổi tiếng chuyên về bình luận vấn đề thời sự của Đông Nam Á. Nói tóm lại chúng tôi phỏng vấn 21 người.

Kính Hòa: Thưa ông Chu Lyng, trờ về với cái vấn đề bắc thuộc, có vẻ như người ta nói một trong những nguyên nhân của nó là do sự đồng ý thức hệ giữa hai đảng đang cầm quyền ở Trung quốc và Việt nam, có phải đó là nguyên nhân mà nhóm làm phim cho rằng dẫn tới thảm họa bắc thuộc của dân tộc Việt nam hay không?

Ông Chu Lyng: Trong cuộc phỏng vấn, Giáo sư Carlyle Thayer có nói cái vấn đề là trước đây là ý thức hệ, nhưng cộng sản Việt nam không ngờ là ý thứ hệ bây giờ không còn nữa, mà bây giờ là ý thức dân tộc, quyền lợi của dân tộc. Cộng sản Việt nam đâu có ngờ rằng bây giờ là quyền lợi của Trung quốc. Khi nhận ra bây giờ đã quá muộn rồi, cái ý thức hệ bây giờ không còn nữa.

Kính Hòa: Dạ thưa ông, người ta cũng hay nói rằng là Việt nam đang thực hiện một chính sách gọi là chính sách đu dây giữa các cường quốc. Và dường như là họ cũng có những nổ lực như là mua sắm vũ khí, đôi khi họ cũng lên tiếng mạnh mẽ chống lại Trung quốc. Thì liệu khi nói rằng họ sẽ dẫn tới thảm họa bắc thuộc thì có quá đáng hay không?

Giáo sư Carlyle Thayer có nói cái vấn đề là trước đây là ý thức hệ, nhưng cộng sản Việt nam không ngờ là ý thứ hệ bây giờ không còn nữa, mà bây giờ là ý thức dân tộc, quyền lợi của dân tộc
Ông Chu Lynh

Ông Chu Lynh: Chúng tôi không phải là những bình luận gia về thời cuộc, tuy nhiên nói về phương diện tài liệu, thì nếu bây giờ cộng sản Việt nam sắm tàu bè thì theo chúng tôi cũng là một cái điều cần, nhưng những cái lực lượng đó chưa chắc đối lại nổi với Trung quốc. Cái vấn đề bây giờ là nội lực của mình là chính chứ không phải là những vũ khí đó. Những vũ khí đó nếu đi kèm với nội lực, cộng sản Việt nam nếu khía thác được cái tinh thần dân tộc của mình, cái độc lập. Viện trợ của các nước chỉ là phần nhỏ.

Nếu nói là đu dây thì theo tôi nghĩ cộng sản Việt nam họ không có đủ khả năng để đu dây. Bởi vì đu dây là đu dây đường dài, chứ còn họ đu dây trong một thời gian thì người ta thấy cái sự man trá của họ.

Kính Hòa: Trước khi dừng lời, ông còn có ý nào nữa không về bộ phim này để nói với quí khán thính giả?

Ông Chu Lynh: Dạ thưa đó là một điều chưa được đề cập đến, hoặc đề cập đến mà quá sơ sài. Nếu ông Trung tá thủy quân lục chiến Hoa Kỳ James Zumwalt có nói về biến cố đá Garma, ông nói rằng đó là một thảm sát mà thế giới chưa biết đến, nhưng có một tổn thất lớn nhất là dân chúng tại biên giới sáu tỉnh phía bắc. Đây cũng là một thảm sát mà thế giới chưa biết đến. Người dân Việt nam trong nước hay ngoài nước nên chú ý tới cái điều này. Chúng tôi nghĩ là nếu ở trong nước có những nhà báo độc lập, những nhà làm phim độc lập, chứ không phải của nhà nước, làm một cuốn phim, một phóng sự, một bài viết về tình tại biên giới, về cái thảm kịch của họ, từ chiến tranh 1979 cho đến giờ, thì chúng tôi nghĩ là rất hữu ích cho đất nước.

Kính Hòa: Xin cám ơn ông.

Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2015

Thao Thức tại Thung Lũng Hoa Vàng



Tường thuật trên Nguyệt San Sóng Thần
(Phóng viên Vân Hằng thực hiện)









Giới thiệu thi tập THAO THỨC  tại Thung Lũng Hoa Vàng (San Jose / California)


Thứ bảy ngày 23 tháng 5 năm 2015 vừa qua là tuần lễ long weekend ngày Chiến Sĩ Trận Vong. Từ bỏ mọi cuộc vui,mọi lời mời gọi đi chơi xa để là Người ở lại San Jose, Phóng viên Tạp Chí Sóng Thần đã đóng đô ở Câu Lạc Bộ Mây Bốn Phương host chương trình cho buổi ra mắt Thi Tập Thao Thức của Nhà thơ Cao Nguyên đến từ Washington DC. 

Đứng chung sân khấu với Vân Hằng trong vai trò MC còn có Nhà báo đàn anh Lê Văn Hải. 

Giới Văn Thi Hữu San Jose gồm có Nhà văn Thanh Thương Hoàng, Nhà văn Diên Nghị, Nhà thơ Song Nhị, Nhà Thơ Chinh Nguyên- Chủ Tịch Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt, Nhà Thơ Hồng Hà, Nhà Thơ Hoàng Vĩnh Phước, Nhà thơ Cung Diễm, Nhà thơ Mai Hoài Thu, Nhà thơ Phương Vy, Nhà thơ Hồ Duy Hạ, Giáo sư Nguyễn Trung, Phóng viên Phương Thúy- SBTN San Jose, Nhiếp ảnh gia Trương Xuân Mẫn tuần báo Việt Tribune, Reporter Stanley Cao Ly Sam- đài truyền hình VietTV, Nhà Báo Cao Ánh Nguyệt - Chủ nhiệm kiêm chủ bút tuần báo Phụ Nữ Cali và bạn đọc yêu thơ đã chào đón một cây bút nặng tình với thế giới Thi ca. 

Vâng không nặng tình và nặng lòng sao được khi mà 
"Chữ Việt Nam viết bằng nhịp thở
của mỗi trái tim từ đó ra đi"
 

Có đến ba thế hệ cùng đến với tác giả của Thi Tập Thao Thức. Từ những cây bút tên tuổi lão làng đến các phóng viên trẻ thuộc thế hệ tiếp nối và các em thiếu nhi sanh trưởng ở Hoa Kỳ. 

Nhà báo Lê Văn Hải đã rất tài tình khéo léo trong phần dẫn chương trình, dẫn người tham dự đi từ ngạc nhiên này đến xúc động khác khi anh giới thiệu về tác giả Cao Nguyên. Chủ nhiệm báo Thằng Mõ nhận định Cao Nguyên vừa bị bệnh vừa bị điếc. Căn bệnh của anh là căn bệnh cứ háo hức làm thơ, cái điếc của anh là cái điếc mà anh đã không nghe lời khuyên của bạn bè từ bỏ thi ca mà cứ mải mê sống với thế giới của những con chữ. Khi mà thực tế đắng lòng của đời sống thơ ca hiện nay không còn được đón nhận sự rộn ràng từ phía người đọc nếu không muốn nói là ruồng rẫy. Thơ in ra rồi đem cho không biếu không cũng chẳng có mấy ai chịu đọc free? 

Ấy thế mà Cao Nguyên vẫn cầm bút làm thơ với nỗi thao thức : 
"Làm sao ngủ khi trái tim vẫn thức
vui thế nào nước mắt cứ rưng rưng?"
 

Nếu không Thao Thức về vận mệnh đất nước như tác giả Cao Nguyên thì chúng ta là những người không có trái tim. Nhà báo Lê Văn Hải khẳng định. Chính vì thế cuộc sống này rất cần những người bị bệnh và bị điếc như Cao Nguyên để đóng con chữ vào Thơ, để "chở thật thà vào lòng dối trá" 

Diễn giả Song Nhị - Cơ Sở Thi Văn Cội Nguồn đã phác hoạ chân dung tác giả Cao Nguyên: "Là một người lính chiến VNCH xuất thân từ trường Võ Khoa Thủ Đức, Cao Nguyên đi vào chiến trận trong suốt 10 năm cho đến khi tàn cuộc chiến. 

Người lính trẻ Cao Nguyên cùng với Quân Lực ấy đã kiên cường chiến đấu bảo vệ miền Nam, ngăn chặn hành động xâm lược thôn tính, nhằm nhuộm đỏ phần đất Tự Do của hơn ba mươi triệu người dân không chấp nhận chủ nghĩa tham tàn cộng sản. Tác giả, từ đó đã nhoài theo vận nước trong vai trò sứ mệnh của một nhà thơ. 

Diễn giả cao tuổi nhất trong buổi hội ngộ thân hữu này là nhà văn Diên Nghị. Nhà văn ngoài 80 tuổi hiền lành phúc hậu này luôn sống hết lòng với anh em cầm bút. Ông chia sẻ :"Giọt nước mắt của con người trước đoạ đầy, cùng khốn của tha nhân, giữa vòng vây của xã hội tràn ngập tội ác, cũng là nguồn an ủi, chia sẻ chính đáng. Cao Nguyên nhìn vào nhân thế bằng sự xót thương…! 

Giây phút của sự mong đợi đã đến là giây phút cả khán phòng im lặng lắng nghe lời tâm tình của tác giả - người đã làm bùng nổ cảm xúc trong lòng bạn đọc với những dòng thơ lưu vong của Ông. 

Riêng với người viết bài này, thuộc thế hệ hậu sinh, sau khi đọc xong tác phẩm Thao Thức của thi sĩ Cao Nguyên mới thấy thương những câu thơ hay và thấy quý tấm lòng khoan dung, nhân ái của một cựu tù nhân cộng sản người-lính-nhà-thơ Cao Nguyên. 
"Là một người Việt Nam
trái tim tôi bị đau
kể từ khi bỏ nước
sống nhập cuộc lưu vong
Lời viết cho Quê Hương
bằng tha thiết yêu thương
trộn niềm đau se thắt"
 

Bị tù đày ngót đến 10 năm dưới chế độ bạo tàn của cộng sản nhưng sao lạ quá, ở nhà thơ không có những biểu lộ của sự hận thù dành cho những người đã ra tay trù dập, đối xử tệ bạc với mình. 
Đó là một điểm son mà thế hệ cầm bút trẻ của chúng tôi - những người đã ít nhiều rớt vào lòng những dòng nước mắt khi xem lại những thước phim buồn của một thời đất nước điêu linh mà thế hệ cầm bút Cha - Chú trải qua, hứng chịu và trả giá đắt cho hai chữ Tự Do. 

Dáng người gầy, bước đi nhẹ nhàng, nào ai biết được những vần thơ mạnh mẽ của Ông đã xoáy vào tim đã dâng vào hồn sự thổn thức không nguôi…! 

Chương trình văn nghệ của một số giọng hát miền Thung Lũng Hoa Vàng, Kim Thư với nhạc phẩm Ngọc Lan của cố nhạc sĩ Dương Thiệu Tước đã mang lại cho buổi hội ngộ thân hữu thêm phần sinh động. 
Giọng hát trong như pha lê của thần đồng nhí Vân Nghi và nét diễn đầy xúc cảm qua nhạc phẩm Chiến Sĩ Vô Danh của cố nhạc sĩ Phạm Duy. 
Bé Thiên Nghi với nhạc phẩm Cám Ơn Anh của cố nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng đã kết thúc buổi ra mắt Thi Tập Thao Thức trong niềm vui của một buổi chiều thứ bảy êm đềm, ý nghĩa. 

Rời Câu Lạc Bộ Mây Bốn Phương ra về tôi cứ nghĩ, cuộc đời này ắt hẳn sẽ đẹp, sẽ bình yên biết bao nhiêu khi còn có những người thơ ấy - những cánh cò thi sĩ - người đã rung lên những sợi tơ đàn sâu kín nhất trong tâm hồn con người. Xin cảm ơn Thi sĩ Cao Nguyên đã không quản ngại đường bay xa xôi mà đến. 

VÂN HẰNG 

Cờ Vàng Trên Trời Xanh

Phỏng Vấn Thiếu Tá Không Lực Hoa Kỳ Lê Hưng
- Người từng lái máy bay L.19 kéo đại kỳ VNCH trên bầu trời Little Saigon
(VienDongDaily.Com - 28/05/2015)
Bài THANH PHONG

LITTLE SAIGON - Hẳn bạn đọc còn nhớ, cách đây không lâu, vào những dịp mừng Ngày Quân Lực 19 tháng 6 hay dịp Tết Nguyên Đán, trên bầu trời Little Saigon , Nam California thường xuất hiện một máy bay trinh sát L.19 kéo theo lá đại kỳ Quốc Gia Việt Nam và tấm biểu ngữ “Mừng Ngày Quân Lực” v.v... Nhìn lá cờ vàng ba sọc đỏ bay lượn trên bầu trời, nhiều người trong chúng ta không khỏi xúc động và cũng rất tự hào về lá cờ vàng, biểu tượng của Người Việt Quốc Gia yêu chuộng tự do, dân chủ. Người đem đến niềm tự hào dân tộc và sự xúc động trong lòng mọi người chính là Thiếu Tá Phi Công Lê Hưng. Nhân dịp ông về Nam Cali tham dự ngày Đại Hội 3 các Phi Đoàn Quan Sát của Không Quân VNCH, chúng tôi được dịp gặp người phi công VNCH mà đến giờ này vẫn còn “đi mây về gió”. Chúng tôi rất ngưỡng mộ ông nên đã mời ông đến tòa soạn Viễn Đông để làm cuộc phỏng vấn, và khám phá ra nhiều điều thú vị về cuộc đời của một phi công tài hoa, nhiều may hơn rủi.


                         Thiếu tá phi công Lê Hưng và hiền thê của ông (Thanh Phong/Viễn Đông)

Sinh ra và lớn lên tại thành phố biển Nha Trang, nơi có Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân, hàng ngày anh nhìn thấy những máy bay quân sự lên xuống, và những chàng trai khôi ngô, tuấn tú trong bộ đồ bay oai phong ngồi trong phòng lái và phút chốc bay vút lên không trung đã làm anh say mê, ngưỡng mộ và mong ước sẽ trở thành một phi công của Không Lực VNCH . Niềm mơ ước đó được thực hiện vào tháng 5 năm 1972 khi anh được trúng tuyển vào binh chủng Không Quân và thụ huấn tại TTHL Không Quân Nha Trang 1 tháng rưỡi, sau đó về Saigon thi Anh văn. Sau khi đậu Anh văn, anh là nhóm đầu tiên trong khóa đi du học Hoa Kỳ vào năm 1973 để trau dồi Anh ngữ và qua trường học lái máy bay. Tốt nghiệp xong, anh về nước vào tháng 9/1974 và được chuyển về Quân Đoàn IV tại Cần Thơ, lái A.37. Thời gian này là thời gian đất nước sắp bị mất vào tay giặc cộng, anh về Saigon và sau đó rời khỏi Việt Nam trên một chuyến máy bay vận tải qua Utapao, Thái Lan. Vài ngày sau anh được qua Guam và chừng một hai tuần sau thì được đưa qua Hoa Kỳ. Đặt chân đến trại tỵ nạn Fort Chaffee, Arkansas vào tháng 5/1975, lúc đó anh mới 22 tuổi. Phi công Lê Hưng nghĩ tới người thầy cũ đã huấn luyện và bảo lãnh mình là một vị Đại Tá Mỹ, anh liên lạc với vị Đại Tá đó, và được ông giúp đỡ tận tình. Vì tuổi đời còn quá trẻ, mộng bay bổng trên không trung chưa đạt, anh quyết chí vừa đi học vừa đi làm để nuôi mộng trở lại cầm lái máy bay. Sau khi hoàn tất bằng Cử Nhân Cơ Khí tại Đại học Texas Tech, anh xin gia nhập Không Lực Hoa Kỳ.
Dù đã thụ huấn xong về chương trình điều khiển phản lực cơ F5 từ những năm 1973 nhưng anh vẫn phải học lại từ đầu về căn bản quân sự, chịu huấn nhục gần nửa năm, sau mới được chuyển qua một Trung Tâm Huấn Luyện bay học gần 2 năm. Tại đây, tùy theo số điểm học, mỗi học viên được chỉ định học lái một loại phi cơ khác nhau từ phản lực cơ chiến đấu đến phi cơ vận tải, trực thăng các loại. Với điểm số tối ưu, anh Lê Hưng được chọn học lái oanh tạc cơ phản lực tại căn cứ gần Corpus Christi, Texas. Sau khi tốt nghiệp, anh được đưa về căn cứ Không Quân San Diego, California và giao cho lái chiếc S3, một loại khu trục phản lực chuyên săn tàu ngầm của Liên Xô trên vùng biển Đông.
Sau khi phục vụ tại đây hơn một năm, phi công Lê Hưng được chuyển sang phục vụ tại Hạm Đội 7 Thái Bình Dương, đóng tại Phi Luật Tân, bay trên vùng trời Đông Nam Á. Anh kể, vài lần anh bay tuần thám trên biển Đông, anh đã nhìn thấy những chiếc thuyền vượt biên của đồng bào ta. Anh bay sà xuống quan sát thấy ghe chết máy trôi vật vờ trên biển, đồng bào mình nằm la liệt trên ghe, anh đã thả máy đánh dấu tọa độ rồi gọi tàu Hải Quân Hoa Kỳ đến cứu. Có một lần, sau khi vớt người xong, Hải Quân cho trực thăng bốc anh đến gặp đồng bào mình. Mọi người hết sức ngạc nhiên không ngờ trong Không Lực Mỹ lại có một phi công Việt Nam có tình đồng bào tốt đẹp cao quý như thế. Họ cho biết ghe đã bị trôi lênh đênh trên biển 20 ngày rồi, không đồ ăn, nước uống, nếu không có anh kịp thời giúp đỡ thì không biết số phận họ ra sao. Trở về căn cứ, anh đem quần áo, thuốc men đến giúp đồng hương mình tại trại tỵ nạn, anh cũng gặp lại một số đồng đội xưa, cuộc trùng phùng diễn ra thật cảm động. Một vài lần khác, khi bay ngang vùng Cà Mau, anh đã nhìn thấy những đồng bào mình đang đốt rừng làm rẫy, mở tần số đài phát thanh Saigon, anh nghe hát bội, hát cải lương mà lòng dạ xót xa!
Là một phi công Hải Quân Hoa Kỳ, anh bắt buộc phải học đáp máy bay trên Hàng Không Mẫu Hạm (HKMH), và đã từng đáp phi cơ nhiều lần trên đó, anh nói, mặc dù đã được huấn luyện rất kỹ lưỡng nhưng lần đáp đầu tiên anh vẫn cảm thấy rất hồi hộp vì khi bay ngang thấy phi đạo nó ngắn quá, nhưng chỉ vài lần đáp là quen và thích thú lắm. Tuy nhiên, bất cứ người phi công Hải Quân Hoa Kỳ nào cũng phải hồi hộp, căng thẳng khi phải đáp xuống HKMH vào ban đêm, không có lần đáp nào giống nhau, mỗi lần đáp đều khác nhau . Anh cũng từng lái loại máy bay tiếp tế nhiên liệu trên không. Khi chúng tôi tỏ vẻ thán phục về việc làm thế nào để hai chiếc máy bay có thể ráp nối ống dẫn xăng nhỏ xíu từ chiếc máy bay này qua máy bay kia. Anh Lê Hưng đáp: “Khi hai chiếc bay cùng một tốc độ thì không có gì khó khăn cả, hơn nữa máy bay của Mỹ trang bị dụng cụ rất tối tân, người phi công được huấn luyện rất chu đáo nên việc điều khiển phi cơ ném bom hay tiếp tế nhiên liệu trên không hoặc khi phải đáp khẩn cấp đều không có gì khó khăn trở ngại.

Trong cuộc chiến vùng Vịnh, phi công Lê Hưng cũng từng lái oanh tạc phản lực cơ A6 Intruder đi ném bom tại Iraq mặc cho hỏa lực phòng không của địch thi nhau nhả đạn, nhưng anh vẫn đánh trúng mục tiêu và bay về căn cứ an toàn.
Sau khi giải ngũ, anh được thuê mướn chuyên chở các khách VIP và các yếu nhân nước ngoài. Anh đã từng làm việc ở Arabia Saudi , Kualalumpua, Ấn Độ, Kazakistan, qua Ai Cập và bây giờ lái máy bay tư nhân bên Nigeria (Phi Châu) hai năm nay. Trả lời một câu hỏi khác của Viễn Đông, phi công Lê Hưng cho biết, anh cảm thấy anh là người rất may mắn, được công ty bên Canada chọn và giao cho anh những phi cơ đặc biệt chở các yếu nhân và nhiều lần chở các tài tử nổi tiếng (anh kể khá nhiều tên các giai nhân ) đi đây đi đó, và họ rất có thiện cảm với anh. Biết anh là một phi công Việt Nam, họ rất thán phục và quý mến. Loại phi cơ anh đang lái là loại máy bay chỉ có 14 chỗ ngồi. Trước đây lái phi cơ quân sự có vẻ chật hẹp với đầy những khí cụ và nút bấm, bây giờ lái loại máy bay này anh thấy nó rộng rãi, thoáng và tối tân, mình điều khiển dễ như một em nhỏ chơi game vậy; chỉ có lúc cất cánh và đáp thôi còn khi đã lên cao rồi thì cứ như ngồi chơi game vậy, computer làm việc hết cho mình.

Trả lời câu hỏi của chúng tôi rằng có khi nào anh nghĩ đến việc viết hồi ký hay viết sách về cuộc đời bay bổng của mình? Phi công Lê Hưng trả lời: “Tôi không hiểu tại sao, trong lòng tôi lúc nào cũng say mê vấn đề bay bổng; hiện tại tôi đang say mê ngồi trên buồng lái, bay bổng trên không trung, đi huấn luyện cho những phi công trẻ ở các nước khác và gặp gỡ những nhân vật quan trọng trên thế giới, đi đây đi đó, học hỏi được rất nhiều, nhìn thấy những tiến bộ và các sinh hoạt của các quốc gia khác để có dịp so sánh với đất nước mình, nên lúc này chưa thể làm chuyện đó vì đang rất bận bịu với công việc.”

Vào năm 1994 đến 1997, Thiếu tá phi công Lê Hưng là người khởi xướng việc kêu gọi các anh em cựu quân nhân QL/VNCH tại Nam Cali mặc lại quân phục, anh đã mua cả ngàn bộ quân phục về để phân phát cho các cựu quân nhân mình, nhưng một số niên trưởng tỏ ra ái ngại vì mặc cảm thua trong cuộc chiến, không mặc, nhưng sau này khi biết rõ ràng chúng ta không thua Việt cộng về mặt quân sự, chúng ta thua về chính trị thôi nên không lấy thế mà mặc cảm. Và sau đó, không chỉ ở Cali mà khắp nơi trên thế giới có phong trào các cựu quân nhân VNCH hãnh diện mặc lại bộ quân phục của mình. Ngay chính tại VN bây giờ, các bạn trẻ cũng đang thích thú được mặc quân phục của người lính VNCH. Anh cũng từng bay chở các chiến sĩ nhảy dù biểu diễn trong ngày khánh thành Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ tại Westminster, ngày Tết tại Garden Grove Park và bay nhiều lần trên bầu trời Little Saigon, Nam Cali kéo theo đại kỳ VNCH cũng như biểu ngữ, đóng phim và cuộc tranh cử Nghị Viên Westminster vào năm 1992, đem trực thăng đến tham dự trong những dịp diễn hành Tết Nguyên Đán tại Little Saigon... Anh cho đó là những việc đóng góp vào việc phục vụ cộng đồng..
Trước khi kết thúc cuộc phỏng vấn, chúng tôi xin anh đưa ra một lời khuyên đối với giới trẻ VN tại hải ngoại để họ có thể tiếp nối các anh, đem khả năng của mình phục vụ đất nước Hoa Kỳ và sau này khi chế độ cộng sản sụp đổ, họ có thể trở về xây dựng quê hương? anh Lê Hưng nói: “Khi về đây, tôi có sinh hoạt với Cộng Đồng, với Hội Không Quân miền Trung Cali, tôi thấy một điều đáng tiếc là có nhiều anh em Không Quân có nhiều kinh nghiệm phi hành nhưng không có cơ hội, không có chương trình để truyền lại kinh nghiệm cho giới trẻ và cho con em mình trong tương lai. Tôi thiết nghĩ, một ngày nào đó tôi mong muốn làm được điều đó, vì trong quá khứ tôi đã huấn luyện cho những người bạn bè cùng khóa đi bay, lấy bằng bay, bay biểu diễn v.và Tôi đã giúp một em lúc đó mới 17 tuổi nay đã trở thành một phi công dân sự. Trong tương lai, tôi hy vọng thành lập một công ty, xin được học bổng của những công ty lớn và cấp học bổng cho những con em mình thích về phi hành, dân sự cũng như quân đội, để các em sẽ trở thành những phi công cho Không Lực Hoa Kỳ và cho tương lai của ngành Hàng Không VN khi đất nước mình không còn cộng sản.”

Anh tâm sự: Trong suốt cuộc đời anh, anh chỉ tiếc một điều là chưa có dịp đem những điều đã được học hỏi, đem kiến thức và khả năng của mình phục vụ quê hương vì quê hương đã rơi vào tay giặc cộng. Trong hàng ngũ tướng lãnh VNCH, anh rất ngưỡng mộ Chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang, Tư Lệnh Sư Đoàn 6 Không Quân, vị Tướng đã chấp nhận ở lại chiến đấu với địch quân và bị chúng bắt đi tù 17 năm. Chuẩn Tướng Sang qua đời tại Nam California ngày 08.12.2002, phi công Lê Hưng đã cùng hai đồng đội lái 3 chiếc máy bay Cessna bay lượn trên bầu trời để tiễn biệt cố Chuẩn Tướng về an nghỉ nơi cõi vĩnh hằng.
---------------------------------------
Cờ Vàng Trên Trời Xanh: Tựa do Cao Nguyên đặt .

Xôn Xao

Tranh: Họa Sĩ Lê Thúy Vinh

@

Xôn Xao 

Mai mình theo dòng sông hát rong
đừng quên nhắc đất từng nhịp thở
nợ phù sa từ thuở khơi dòng 
khi nước qua cánh đồng đất trở 


Khi dòng sông hát cùng với em
đất sẽ gọi mùa xuân trở lại
ngắm mây hồng trời xanh tịnh yên
nghe xôn xao những mầm nụ mới! 


Cao Nguyên