Chủ Nhật, 15 tháng 2, 2015

Năm Mùi Nói Chuyện Dê



THÂN THẾ VÀ THÂN THUỘC DƯƠNG TỘC
Năm 2015 là năm Ất Mùi tức là năm con dê.  Tên Hán- Việt của dê là Dương.  Tên  khoa học của dê là Capra hircus hay dài dòng hơn là Capra aegagrus hircus thuộc gia đình Bovidae như trâu bò. Dê là loài động vật có vú, có xương sống, có máu đỏ, sinh con.
Dê có vóc dáng của nai và chó.  Khác với chó, dê có sừng.  Sừng dê ngắn.  Sừng nai dài và có nhiều nhánh.  Dê đực và dê cái đều có râu và có móng đặc.  Dê có mặt giống thỏ.  Cả hai loại thú này đều ăn cỏ, lá cây, các loại lá có mùi nồng như lá bù xít  Ageratum conyzoides.  Nhiều nơi ở Việt Nam gọi bù xít là hoa cứt lợn.  Người Anh gọi là goat’s weed có lẽ vì dê thích ăn loại lá có mùi hôi nồng này.  Dê con ăn cả lá dứa, lá bã đậu và cây xương rồng.  Lá so đũa Sesbania grandiflora là thức ăn ưa thích nhất của dương tộc.  Dê đực già có râu và có sừng.  Thỏ chỉ có tai dài.  Dê và thỏ đều sợ ẩm.  Phân dê và phân thỏ đều cứng và không có công dụng lớn trong đời sống nông nghiệp ở Việt Nam. Ở Việt Nam chỉ có cộng đồng người Ấn hay người Chàm nuôi dê để ăn thịt và uống sữa mà thôi.
Dê được các dân tộc Á Châu và đông Địa Trung Hải thuần hóa cách đây 9,000 năm.  Ngày nay dê được nuôi khắp thế giới.  Dê có thể sống ở vùng khí hậu khô hạn, miền núi và miền khí hậu ôn đới, lạnh hay bán hàn đới như Alaska, tây bắc Canada và Hoa Kỳ. Có 600 giống dê khác nhau trên thế giới. 
Ở Trung Đông và Hy Lạp có nhiều loại dê hoang.  Loại dê núi lông trắng, thẳng và dày ở Alaska, tây bắc Canada và tây bắc Hoa Kỳ là loại dê hoang.  Loài dê này có thể nhảy từ vách núi này sang vách núi kia một cách dễ dàng.  Điều này cho thấy chân của dương tộc rất khỏe nên có thể leo cây, leo núi và nhảy từ mõm đá này sang mõm đá khác dễ dàng.


Giống dê nhỏ nhất là dê lùn Pakistan cao lối 46 cm (1.5 feet) và cân nặng 09 ki-lô (20 pounds).  Trái lại dê Ibex Capra aegagrus sống hoang dã trong miền núi ở Trung Á, Nubia, Ai Cập, núi Alps, Tây Bá Lợi Á cao đến 1.07 m (3.45 feet) và cân nặng đến 135 ki-lô (300 pounds). 
Về màu sắc dê có lông màu đen, trắng, xám, đỏ và hung đỏ.  Dê đực và cái đều có râu.  Dê đực già có sừng cứng, dài và nhiều râu.  Loại dê Tahr trên dãy Hi Mã Lạp Sơn Hemitragus jemlahicus, dê núi Oreamnos americanus ở tây bắc Canada và Hoa Kỳ, dê Markhor Capri falconeri có lông dài và dày để chống lạnh. Dê từ 01 tuổi đến 1.5 tuổi rưỡi có thể bắt cặp. Dê mang thai trong 145- 150 ngày thì sinh con. Mỗi con dê cái sinh từ 02 đến 03 con.  Dê mới sinh có thể đứng dậy vài phút sau khi sinh.  Dê con lớn rất nhanh.  Sau khi sinh hai ngày dê con vừa bú sữa mẹ vừa tập ăn lá cây và tập leo, nhảy trên các mõm đá.  Dê mẹ sinh con sau 05 tháng thì có thể bắt cặp để có những lứa dê con khác.
Người ta nuôi dê Saanen, Toggenberg, Alpine để lấy sữa. Một con dê Saanen ở Thụy Sĩ có thể cho 900 lít sữa mỗi năm. Dê Nigeria cung cấp da.  Dê Angora cho lông trắng mịn rất đẹp dùng để dệt vải mohair nổi tiếng. Dê La Mancha  và dê Tây Ban Nha Capra pyrenaica (tiếng Tây Ban Nha: cabra montes) cho nhiều thịt, sữa, lông và da.
Thân thuộc gần của dê là trừu mang tên khoa học Ovis aries.  Về hình dáng và trọng lượng dê và trừu gần như nhau. Tuổi bắt cặp (1.5 tuổi) và thời gian mang thai của trừu và dê cũng ngang nhau: 145- 150 ngày.  Trừu có nhiều lông hơn dê.  Những loại dê vùng khí hậu ôn, hàn đới cũng có lông dày.  Lông dê thẳng; lông trừu dày và xoăn lại.  Đuôi dê và trừu đều ngắn.  Đuôi dê dỉnh lên; đuôi trừu cụp xuống. Dê năng động, leo trèo khi ăn lá cây trên cao. Trừu có vẻ chậm chạp và hiền hòa hơn. Tuy dê và trừu là thân thuộc rất gần, sự pha chủng giữa dê và trừu đến nay vẫn chưa được kiểm chứng rõ ràng ngoại trừ một trường hợp thành công khi chủng giống giữa một con dê đực và một con trừu cái.  Nhưng đây là một trường hợp thành công đơn lẻ.


Sơn dương (chamois) mang tên khoa học Rubicapra rubicapra là thân thuộc của dê ở miền núi.  Móng chân sơn dương rất đặc biệt nên khi phóng nhảy trên vách núi đá không bị trợt hay té ngã.  Sơn dương được tìm thấy nhiều trên bán đảo Balkans, dãy núi Caucasus, Altai, Alps.  Ở miền Nghệ An và Hà Tĩnh có một loại sơn dương được liệt vào loài sơn dương hiếm quí vì  ít thấy trên thế giới.
Linh dương (antelope) là thân thuộc xa của dê có vóc dáng to lớn, sừng dài và uốn khúc trong khuôn mặt dê, trừu và thân xác khá to của bò con.  Có những con linh dương Eland cân nặng đến 1,000 ki- lô!  Địa bàn sống của linh dương là các thảo dã Phi Châu.  Các loài linh dương thường thấy là linh dương Kudu Tragelaphus strepsiceros, linh dương Eland Taurotragus oryx rất nặng cân, linh dương Nilga Boselaphus tragocamelus, linh dương Duiker Sylvicapra grimmia ăn lá cây, trái cây, chuột, ếch, nhái và có thể nhịn khát trong một thời gian dài.  Khi trời mưa chúng không cần uống nước.  Linh dương Duiker cái to lớn và nặng cân hơn linh dương đực.  Linh dương Statunga Tragelaphus spekei thường được tìm thấy ở các đầm lầy.

Linh dương Eland
 DƯƠNG TỘC TRONG XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI
Loài người biết thuần hóa dương tộc từ 9,000 năm trước.  Dê trừu được nuôi thành đàn để lấy thịt, sữa, lông và da.  Trên thế giới hiện nay có gần 01 tỷ con dê và trên 01 tỷ con trừu.  Trung Hoa có 150 triệu con dê; Ấn Độ: 125 triệu con.  Á Châu là nơi có nhiều dê nhất thế giới với 512 triệu con; Phi Châu: 295 triệu; Úc Đại Lợi: 3.5 triệu; Âu Châu: 16 triệu và Mỹ Châu: 38 triệu.  Trung Hoa nuôi nhiều trừu nhất thế giới với 136 triệu con; Úc Đại Lợi: 80 triệu; Ấn Độ: 65 triệu; Iran: 53 triệu; Tân Tây Lan: 34 triệu; Anh: 33 triệu.
Người Ấn Độ dùng thịt dê để nấu cà ri.  Người Trung Hoa cho rằng dương nhục bổ dương nên trân quí món dương nhục hầm thuốc Bắc.  Người Hy Lạp, Ý Đại Lợi, các dân tộc Trung Á, Phi Châu, Châu Mỹ La Tinh thích ăn thịt dê, huyết dê, gan dê và ngoại thận của dê. 
Da dê dùng làm giày, bóp, túi xách.  Ngày xưa ở Âu Châu người ta dùng da dê làm bình chứa rượu nho.
Lông dê dùng để sản xuất vải Mohair. 
Sữa dê dùng để uống, làm yogurt, làm phô- mai (cheese).  Sữa dê bổ và dễ tiêu hóa hơn sữa bò.  Vùng Brie thuộc hạt Seine et Marne ở Pháp nổi tiếng về việc sản xuất phô- mai từ sữa bò và sữa dê. Phô- mai làm từ sữa dê gọi là chèvre (con dê).  Vùng Poitou và thung lũng sông Loire nổi tiếng về phô- mai sữa dê.  Truyền thống này có từ thế kỷ VIII khi đạo quân Hồi Giáo Moors đánh chiếm Tây Ban Nha và tiến về Tây Nam nước Pháp nên việc chăn nuôi dê phát triển với sự hiện diện của đạo quân Hồi này.  Người Ý gọi phô- mai sữa dê là caprino
Chân của loài dê rất mạnh nên người ta dùng xương dê kết hợp cùng xương cọp (hổ cốt), xương trăn, xương khỉ để nấu cao.
Người Ấn Độ, các dân tộc du mục ở Trung Á ăn nhiều thịt dê. Các nước Ả Rập theo đạo Hồi ở Trung Đông ăn nhiều thịt trừu hơn thịt dê.  Các món ăn thịt trừu được các dân tộc sống quanh biển Địa Trung Hải (người Hy Lạp, Ý, Pháp, Tây Ban Nha và các dân Ả Rập theo đạo Hồi) ưa thích.  Sữa trừu được dùng như sữa dê.  Nó dùng để uống, làm yogurt, làm phô- mai Roquefort ở Pháp, Manchego (Tây Ban Nha), Pecorino romano (Ý) v.v.  Úc Đại Lợi nuôi nhiều trừu để khai thác lông.  Trừu nuôi được 06 tuổi mới bắt đầu cắt lông dùng trong kỹ nghệ dệt len, sản xuất áo ấm.  Thịt trừu cũng được ưa thích tại đây. 
Có lối 800 loại trừu khác nhau trên thế giới.  Các giống trừu nổi tiếng là trừu Merinos, Rambouillet, Lincoln, Leicester, Costwold, Romney, Suffolk, Hampshire.  Dê và trừu mang nhiều lợi ích kinh tế cho loài người.  Dê tương đối khỏe mạnh hơn trừu.  Về  lợi ích kinh tế trừu có vẻ quan trọng hơn dê vì cho nhiều thịt, sữa nhất là lông.  Vào thế kỷ XVII, XVIII Tây Ban Nha nổi tiếng với trừu Merinos.  Họ cấm xuất cảng loại trừu này.  Nhưng cũng vì chăn nuôi nhiều trừu mà nhiều đất đai của Tây Ban Nha trở nên cằn cỗi vì bị xâm thực.  Vào thế kỷ XIX trừu bị bịnh than (anthrax)  và chết rất nhiều ở Pháp và Âu Châu.  Nhà bác học Louis Pasteur nghiên cứu vi trùng bịnh than Baccilus anthracis và bào chế ra thuốc chích nhằm chận đứng chứng bịnh tệ hại này hầu cứu vãn ngành chăn nuôi trừu của Pháp.
Ở các xã hội du mục ở Trung Á, Trung Đông, Phi Châu, sự giàu có được đánh giá qua đàn dê, trừu hay bò.  Dê núi Ibex được người Ba Tư và Ai Cập sớm thuần hóa.  Trong các mộ cổ của vua chúa Ba Tư ngày xưa có tượng dê Ibex.  Hình ảnh dê cũng được tìm thấy trong mộ của vua Ai Cập Tutankhamun.
Trong ngôn ngữ Việt Nam chữ dê xồm  trở thành một hinh dung từ ám chỉ người đàn ông thích tán tĩnh người khác phái.  Cho đến bây giờ người viết cũng chưa hiểu  rõ ý nghĩa bóng gió của hai câu thơ sau đây:
Dê xồm ăn trái khổ qua,
Ăn nhằm đậu đũa chết cha dê xồm.
Đó là thức ăn ngon của dê?  Hay dê ăn các món đó thì ngã lăn ra chết?  Khổ qua và đậu đũa có hợp chất hóa học gì kỵ nhau?  Dê ăn  xương rồng có gai và nhựa vẫn không bị trúng độc.  Câu thứ hai nói về đậu đũa Vigna unguiculata? hay so đũa Sesbania grandiflora mà dê ưa thích?
-Trừu tổ cũng có nghĩa tương đương với dê xồm.
- Cà dái dê Solanum melongena là trái cà tím có hình giống ngoại thận của con dê đực.
Treo đầu dê bán thịt chó là những cụm từ nói lên sự phỉnh gạt của người buôn bán bày hàng tốt nhưng bán hàng xấu.
Dâm dương hoắc là một loại thảo mộc mang tên khoa học Epimedium grandiflorum được dùng làm thuốc kích dục dựa vào thói quen của loài dê  thường hay tìm dê cái giao tình sau khi ăn lá cây dâm dương hoắc.  Người Trung Hoa gọi là Yin yang huo (Âm Dương Hoắc) hay Tiên Linh Bì (Xian ling pi).  Chữ Dương trong Âm Dương Hoắc không liên hệ gì đến loài dê cả (Âm -; Dương +).  Chữ Âm (Yin) được âm trại thành Dâm.  Người Anh gọi dâm dương hoắc là horny goat weed (dương giác thảo).
-   Dương giác (sừng dê), dương can (gan dê), dương huyết (huyết dê),dương nhu (sữa dê), dương nhục (thịt dê), dương thận (ngoại thận của dê đực) được xem như những bài thuốc bổ dương trong Đông Y.
-   Cừu non là từ ngữ ám chỉ người ngây thơ, thiếu kinh nghiệm.  Chữsheep ngoài nghĩa là con trừu con có nghĩa là ngây thơ, nhút nhát.
Tương truyền rằng năm 1883, lúc vua Hiệp Hòa làm lễ đăng quang, nhà vua thấy một đàn dê đi qua cầu.  Vua cho đó là điềm bất lành vì dê là Dương.  Người Âu Châu kể cả Pháp được gọi là người Tây Dương.  Lúc bấy giờ người Pháp muốn thiết lập nền bảo hộ ở Bắc và Trung Kỳ.  Vua Hiệp Hòa muốn thương nghị với Pháp để loại bỏ ảnh hưởng của hai quan nhiếp chánh lộng quyền lúc bấy giờ là Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường.  Hiệp ước năm Quí Mùi 1883 (hòa ước Harmand) được ký kết công nhận sự bảo hộ của Pháp ở Trung- Bắc Kỳ.  Hiệp ước vừa ký xong vua Hiệp Hòa bị ép uống thuốc độc chết.  Quan phụ chánh Trần Tiễn Thành bị giết chết tại nhà vì không cùng đường lối cực đoan với hai quan phụ chánh Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường.
Từ khi đề 40 con được phổ biến sâu rộng ở Nam Bộ, dương tộc mang số 35.  Từ đó số 35 tượng trưng cho người có nhiều dương tính thích ve vãn phụ nữ.
Trong truyện Tàu có Tô Vũ (Su Wu), sứ giả nhà Hán, bị Hung Nô đày lên Bắc Hải chăn dê.
Trong khoa phong thủy (geomancy) Trung Hoa có thế đất Hổ trục quần dương (cọp đuổi đàn dê) được xem là thế đất tốt mang lại lợi lộc và quyền hành.
Văn sĩ Alphonse Daudet của Pháp có viết về dê trong Le Chèvre de Monsieur Seguin.  Văn sĩ Rabelais đề cập đến Dê trong Garguantua et Pantagruel
La Fontaine có bài ngụ ngôn Le Loup et l’Agneau (Chó Sói và Cừu Non) mở đầu bằng câu La raison du plus fort est toujours la meilleure (Lý kẻ mạnh bao giờ cũng thắng) như một chân lý cay đắng phũ phàng bất di dịch với không gian và thời gian.
Capra là tiếng La Tinh chỉ con Dê.  Những chữ capri, capric, caprice, capricious (hay thay đổi), Capricorn đều có liên hệ đến dương tộc. 
Ở Ý có đảo Capri rộng 14 km2.  Vào thập niên 1950, 1960 ở Âu Châu có một loại xe gắn máy hiệu Capri.
Ở Namibia (Phi Châu) có dải Caprivi Strip dài 450 km và rộng từ 30- 105 km.
Capri fig hay goat fig là một loại trái sung mang tên khoa học Ficus carica sylvestris.
Capric acid hay Decanoic acid C10 H20 O2 là ác xít tìm thấy nhiều trong sữa dê.  Ác xít capric có mùi khó ngửi.  Nó được dùng trong ngành sản xuất nước hoa, đồ plastic, cao su, kỹ nghệ dược phẩm, mỡ dầu cho máy xe.
Goat weed là cây bù xít có mùi rất nồng.  Nông dân thường chặt cây bù xít đặt dưới các mô khoai lang để khoai có nhiều củ.
Tiếng Pháp chèvre là con dê. Chèvrefeuille là kim ngân hoa Lonicera japonica.
Trong thực vật học có gia đình dương diệp Caprifoliaceae.
Trong thiên văn học có sao Capricorn tức Dương Tinh.  Chòm saoCapricorn nằm giữa chòm sao Sagittarius và Aquarius
Trong la bàn tử vi Tây Phương sao Capricorn nằm trên cung thứ 10.  Người sinh trong khoảng thời gian từ ngày 22 tháng 12 đến 19 tháng giêng dương lịch chịu ảnh hưởng của sao Capricorn.  Người Anh cũng dùng chữ Goat (Dê) để ám chỉ người dâm loạn. 
Trong 40 số đề Dê chiếm số 35 sau con Nai (số 34) và trước con Chồn (số 36).
Dê là một trong 12 con giáp được biết dưới tên Mùi hay Vị.  Năm Mùi theo sau năm Ngọ và đứng trước năm Thân.  Năm Mùi là năm Âm (-).  Ta có:
-   Ất Mùi (1895, 1955, 2015, 2075)- Hành Kim
-   Đinh Mùi (1907, 1967, 2027, 2087)- Hành Thủy
-   Kỷ Mùi (1919, 1979, 2039, 2099)- Hành Hỏa
-   Tân Mùi (1871, 1931, 1991, 2051, 2111)- Hành Thổ
-   Quí Mùi (1883, 1943, 2003, 2063)- Hành Mộc
Giờ Mùi kéo dài từ 01 giờ trưa đến 03 giờ trưa
Tháng Mùi là tháng 06 Âm Lịch.
Năm Mùi ứng vào sao Thiên di (thường hay di chuyển, sống xa sinh quán, làm công việc có tính cách lưu động v.v.).  Người có mắt dê (goat’s eyes) thì cô đơn, ương ngạnh và sớm mồ côi.
Tuổi               Hợp                              Không Hợp
Mùi                 Mão, Hợi, Ngọ           Thìn, Tuất, Sửu, Tí (Chuột)

BIẾN CỐ LỊCH SỬ QUAN TRỌNG VÀO NĂM MÙI CỦA THẾ KỶ XX
-   1907: Phong Trào Duy Tân ở Việt Nam; Trường Đông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội; hội nghị hòa bình La Haye
-   1919:  Hiệp ước Versailles; sự ra đời của Cộng Hòa Weimar ở Đức; Phong Trào Ngũ Tứ ở Trung Hoa; Chương Trình Tám Điểm của Nhóm Ngũ Long ở Paris do Nguyễn Tất Thành (Hồ Chí Minh sau này) mang đến hội nghị Versailles.; Hoa Kỳ thực hiện chuyến bay vượt Đại Tây Dương lần đầu tiên trên thế giới; sự ra đời của Camicia Nera ở Ý (Đội Quốc Gia Chiến Đấu Áo Đen); sự thành lập Tổ Chức Quốc Tế Lao Động (ILO)
-   1931: Báo động ở Quảng Ngãi dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản Đông Dương; Nhật chiếm Mukden (bây giờ là Shenyang- Thẩm Dương) ở Mãn Châu; tác phẩm Good Earth của Pearl Buck, nữ văn sĩ Hoa Kỳ biết nhiều về phong tục, tập quán của người Trung Hoa; Mao Zedong (Mao Trạch Đông) lập Cộng Hòa Sô viết Giang Tây (Jiangxi)
-   1943: Trận đánh Stalingrad; quân Hoa Kỳ đổ bộ lên Ý Đại Lợi; Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ chiếm đảo Gilbert tức đảo Kiribati bây giờ (Thái Bình Dương); hội nghị thượng đỉnh ở Teheran (Churchill- Stalin- Roosevelt); hội nghị Quebec (Anh và Hoa Kỳ).
-   1955:  Hội nghị thượng đỉnh Anh- Pháp- Hoa Kỳ- Liên Sô ở Geneva; trưng cầu dân ý ở miền Nam Việt Nam nhằm lật đổ quốc trưởng Bảo Đại (23-10); hiệp ước Thân Hữu, Hợp Tác và Hổ Tương ký ở Warsaw giữa Liên Sô và 07 quốc gia Cộng Sản Đông Âu (không có Liên Hiệp Nam Tư- Yugoslavia).
-   1967:  Hội nghị Manila giữa tổng thống Hoa Kỳ Johnson và tướng Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ; hiến pháp đệ nhị VNCH; tướng Nguyễn Văn Thiệu đắc cử tổng thống; chiến tranh 06 ngày giữa Do Thai- Ai Cập+ Syria+ Jordan.
-   1979: Chiến tranh biên giới giữa CHXHCNVN và CHNDTQ sau khi quân Cộng Sản Việt Nam xâm chiếm Cambodia lật đổ chánh quyền Pol Pot theo chủ nghĩa Maoist; vua Pahlavi của Iran bị lật đổ; Iran trở thành Cộng Hòa Hồi Giáo Iran; 63 người Hoa Kỳ bị bắt làm con tin.
-   1991:  Chiến tranh vùng Vịnh; đảo chánh ở Liên Sô; Gorbachev bị lật đổ.  Ông trở thành người lãnh tụ Cộng Sản cuối cùng.  Liên Sô tan rã.
-   2003:  Phi thuyền con thoi Columbia bốc cháy, 07 phi hành gia tử nạn; Liên Bang Yugoslavia (Nam Tư) đổi quốc hiệu Serbia & Montenegro; chiến tranh Iraq do Anh và Hoa Kỳ chủ động; Hu Jintao (Hồ Cẩm Đào) cầm quyền ở CHNDTQ (chủ tịch và tổng bí thơ đảng Cộng Sản); Trung Quốc phóng phi thuyền Shenzhou 5 (Thẩm Châu) có người; bức nhiệt ở Paris (44 độ C- 112 độ F- 144 người chết; cựu tổng thống Iraq Saddam Hussein bị bắt ở nơi sinh quán Tikrit (13- 12).

NHÂN VẬT QUAN TRỌNG SINH VÀO NĂM MÙI
1. Mikhail S. Gorbachev (1931- ) là người lãnh đạo trẻ tuổi nhất ở Liên Sô (54 tuổi).  Gorbachev có tư tưởng cởi mở hơn tất cả các nhà lãnh đạo Cộng Sản ở Liên Sô từ thời Stalin đến Chernenko.  Người ta cho rằng ông chịu ảnh hưởng của vợ ông, Raisa, người từng dạy ông ở đại học.  Thực tế ông Gorbachev ghê sợ chế độ Cộng Sản.  Gia đình của ông là nạn nhân của chế độ và trải qua những phút kinh hoàng dưới thời Đại Thanh Trừng  do Stalin phát động.  Đường danh vọng của ông mở rộng nhờ khả năng và sự nhẫn nhục của ông nhất là sự giúp đỡ tận tình của ông Andropov, người đồng hương với ông.  Andropov (1914- 1984) là trùm KGB và lãnh đạo của Liên Sô  từ năm 1982 đến 1984 sau khi Brezhnev chết.  Gorbachev lên cầm quyền với tư cách chủ tịch nhà nước và tổng bí thơ đảng năm 1985 sau khi Chernenko chết đột ngột. Ông thực thi perestroika nhằm cải cách kinh tế và xã hội và glasnost tức đường lối cởi mởlành mạnh hóa xã hội chống tham nhũng và tệ đoan xã hội.  Đối với các nước Tây Phương ông chủ trương tài giảm binh bị. Năm 1988 Liên Sô rút quân khỏi Afghanistan.  Năm 1989 chế độ Cộng Sản sụp đổ ở các nước Đông Âu.  Đông và Tây Đức thống nhất.  Năm 1989 là năm Gorbachev ban hành luật bầu cử bắt buộc đảng viên Cộng Sản phải ra tranh cử đương đầu với ứng cử viên không Cộng Sản.  Năm 1990 ông được bầu làm tổng thống đầu tiên của Liên Sô.  Cũng năm này ông lãnh giải thưởng Nobel Hòa Bình.  Năm 1991 Gorbachev bị đảo chánh. Chế độ Cộng Sản cáo chung ở Liên Sô. 
2.  Boris Yeltsin (1931- 2007) là tổng thống Nga đầu tiên sau khi chế độ Cộng Sản sụp đổ ở Liên Sô.  Yeltsin xuất thân từ một gia đình nông dân khá giả trước cách mạng tháng 10.  Vì lẽ đó cha ông bị xem là thành phần chống chế độ Cộng Sản và bị đưa vào trại cải tạo tập trung lao động.  Khác với Gorbachev, Yeltsin không phải là một người học giỏi mà một người hiếu động, thích thể thao, đánh vật.  Vì trộm một trái lựu đạn và vì không biết sử dụng lựu đạn nên lựu đạn nổ làm có một bàn tay của ông bị mất gần hết các ngón.  Yeltsin được sự nâng đỡ của Gorbachev.  Ông là người mạnh dạn xé thẻ đảng Cộng Sản và công khai chỉ trích Gorbachev cải cách quá chậm.  Khi xe tăng đảo chánh Gorbachev xuất hiện ở Moscow ông đứng trên xe tăng lên án các quân nhân chủ trương đảo chánh. Cá nhân ông Gorbachev được an toàn nhưng ông phải từ chức.  Liên Sô giải thể.  Yeltsin được  bầu làm tổng thống đầu tiên của Liên Bang Nga (1991).  Dưới thời cai trị của ông  nước Nga rơi vào tình trạng hỗn loạn, vô trật tự do tệ nạn du đãng, tứ đổ tường, sự suy lụn kinh tế gây ra.  Yeltsin là người nghiện rượu.  Trong cuộc khủng hoảng giữa hành pháp và lập pháp ông giải tán quốc hội và cho nã đạn bắn vào quốc hội.  Năm 1996 ông tái đắc cử.  Nhưng sự lãnh đạo của ông càng ngày càng kém cỏi hơn.  Năm 1999 ông từ chức và chọn Putin xử lý quyền tổng thống cho đến khi tổ chức cuộc bầu cử khác.  Ông mất năm 2007.
3. John Maynard Keynes (1883- 1946) là nhà kinh tế lỗi lạc của Anh giữa hai thế chiến và giáo sư đại học Cambridge nơi cha ông giảng dạy và bản thân ông từng tốt nghiệp đại học nổi tiếng này.  Ngay từ lúc mới vào lớp mẫu giáo Keynes đã nổi tiếng về khả năng toán học.  Ông đậu cử nhân toán với điểm số cao nhất vào năm 1904.  Giáo sư  và là nhà kinh tế nổi tiếng Alfred Marshall khuyến khích Keynes theo học kinh tế học.  Năm 1909 bài viết kinh tế đầu tiên của Keynes được phát hành.  Năm 1911 ông là chủ bút tờ Economic Journal.  Ông Keynes có tham dự hội nghị Versailles năm 1919.  Ông khó chịu trước những đòi hỏi bồi thường quá nặng của Pháp đối với Đức.  Ông viết The Economic Consequences of Peace (Những Hậu Quả Kinh Tế Thời Bình) để tiên liệu những khó khăn kinh tế mà Đức phải đương đầu sau hiệp ước Versailles.  Ông Keynes chỉ trích Anh duy trì kim bảng vị.  Đồng bảng Anh có giá trị cao nhưng gây trở ngại cho việc xuất cảng hàng hóa Anh, nạn thất nghiệp tăng vọt thời hậu đệ nhất thế chiến.  Trong cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới Hoa Kỳ và Anh bị ảnh hưởng nặng nề.  Kinh tế gia Keynes chủ trương chống tăng thuế, chống chánh sách khắc khổ, chống việc sụt giảm chi tiêu của chánh phủ.  Ông chủ trương chánh phủ phải can thiệp để chấm dứt khủng hoảng kinh tế, gia tăng vay mượn nợ và chi xài để tạo công ăn việc làm cho một số tài nguyên nhân lực thất nghiệp ngồi nhà chịu đói khổ vì không có công ăn việc làm.  Năm 1942 John Maynard Keynes được phong tước quí tộc.  Ông tham dự hội nghị Bretton Woods với Hoa Kỳ và có vai trò quan trọng trong dự án thành lập World Bank (Ngân Hàng thế giới) và International Monetary Fund (Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế).  John Maynard Keynes mất năm 1946.
4. Benito Mussolini (1883- 1945) là nhà độc tài phát xít Ý gốc là một giáo viên, một hạ sĩ trong đệ nhất thế chiến.  Ông đả kích những sắp xếp của hội nghị Versailles và thành lập đảng cực hữu cấp tiến gọi là đảng Phát Xít (fascio: bó, chùm tượng trưng cho sự liên kết, liên minh).  Mussolini thành công trong việc cướp chánh quyền bằng bạo lực năm 1922.  Ông có tham vọng biến nước Ý thành một đế quốc như đế quốc La Mã ngày xưa.  Năm 1936 Ý sáp nhập Ethiopia.  Trong ba quốc gia trong phe Trục, Nhật ở Á Châu; Đức và Ý ở Âu Châu,  Ý là quốc gia yếu nhất trong phe Trục.  Từ tham vọng đế quốc Mussolini phải nhờ sự giúp đỡ và bảo vệ của Đức Quốc Xã.  Quân Đồng Minh đổ bộ vào miền Nam nước Ý năm 1943.  Mussolini lẩn trốn  ở Salo ở miền Bắc.  Năm 1945 ông bị Cộng Sản Ý bắt cùng với tinh nhân là Clara Petacci.  Cả hai bị xử bắn ở làng Giulino di Mezzegra.  Thầy của Mussolini bị treo ngược đầu ở thành phố Milan.
5. Juan Dominico Peron (1895- 1974) là nhà độc tài quân nhân  ở Argentina.  Ông làm tổng thống ba lần: 1. từ 1946- 1951,  2. từ 1951- 1955 (bị đảo chánh),  3. 1973- 1974.  Ông có ba đời vợ.  Bà vợ thứ nhất là Aurelia Tizon chết năm 1938.  Bà vợ thứ hai là Eva Duarte là người đã giúp ông trên đường danh vọng.  Người vợ thứ ba là Isabel Martinez.  Ông cưới bà Isabel năm 1961 sau khi mất chánh quyền 06 năm.  Năm 1955 Peron bị lật đổ.  Ông bỏ chạy sang Panama rồi sống lưu vong ở Tây Ban Nha dưới sự che chở của nhà độc tài Franco.  Năm 1973 Peron về nước và được đắc cử tổng thống.  Vợ ông, bà Isabel, là phó tổng thống.  Năm 1974 ông mất.  Bà Isabel trở thành nữ tổng thống đầu tiên ở Tây Bán Cầu.  Bà vợ thứ hai và thứ ba của Juan Peron đều sinh vào năm Mùi và có tên tuổi lớn trên chánh trường Argentina.
Bà Eva Duarte Peron được biết dưới tên Evita (1919- 1952) là một ngôi sao điện ảnh.  Bà trở thành một huyền thoại ở Argentina.  Chính những công tác xã hội và tôn giáo của bà giúp cho tướng Peron thành công lớn trong sự nghiệp chánh trị.  Bà luôn luôn đấu tranh cho nữ quyền, cho người lao động, cho những người mình trần không áo che thân (Descamisados).  Bà giữ chức tổng trưởng Y Tế và Lao Động dưới thời tổng thống Peron.  Năm 1951 bà được Peron đưa lên làm phó tổng thống.  Năm sau bà mất vì bịnh nan y trước sự thương tiếc của giới lao động, các nhà hoạt động từ thiện Thiên Chúa Giáo.  Hàng trăm ngàn người tiễn đưa bà đến nơi an giấc ngàn thu.  Giới quân phiệt và thượng lưu giàu có ở Argentina không có thiện cảm với bà. Evita (Tiểu Eva) là tựa đề của một cuốn phim nói về cuộc đời và những hoạt động xã hội, cứu tế và nhân quyền của bà.  Bài hát Don’t Cry For Me, Argentina (Argentina, Xin Đừng Khóc Cho Tôi) nổi tiếng là bài hát tán tụng công đức của bà đối với quê hương Argentina của bà.
Bà Isabel Peron (1931- ) là vợ thứ ba của Peron.  Bà là một nữ ca sĩ gặp ông Peron năm 1955 ở Panama sau khi Peron bị lật đổ.  Năm 1961 Peron cưới bà làm vợ và đưa bà về Tây Ban Nha.  Năm 1965 bà Isabel về Argentina móc nối với các ủng hộ viên của tổng thống Peron.  Năm 1973 Peron từ Tây Ban Nha về nước tham dự cuộc bầu cử tổng thống và được đắc cử.  Bà Isabel trở thành phó tổng thống.  Năm 1974  Peron mất.  Bà Isabel trở thành tổng thống xứ Argentina.  Khác với bà Evita, bà Isabel là người thất nhân tâm, không được sự mến chuộng của dân chúng Argentina.  Bà không có đường lối hay chánh sách gì rõ rệt mà mải mê bói toán.  Bà áp lực tổng thống Peron trọng dụng thầy bói José Lopez Raga trong chánh phủ.  Ông này điều khiển tổ chức 3A (AAA) tức Liên Minh Argentina Chống Cộng (Argentina Anti- Communist Alliance) gây khủng khiếp cho các đảng viên Cộng Sản, những người tả khuynh thân Cộng và những người đối lập với bà Isabel, chỉ nhắm mục đích củng cố địa vị cho nữ tổng thống.  Năm 1976 quân đội đảo chánh.  Bà Isabel Peron bị cầm tù đến năm 1981 mới được thả và sống lưu vong ở Tây Ban Nha.  Chánh phủ Argentina đòi dẫn độ bà về xứ để làm nhân chứng về những hoạt động đẫm máu của tổ chức 3A nhưng chánh phủ Tây Ban Nha từ chối viện lẽ bà đã già yếu (2008).

PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I.
           

Thư Xuân



(Mến gởi: 
Đinh Nguyên Kha, Nguyễn Đặng Minh Mẫn, Việt Khang ... 
và những người bạn tù nhân lương tâm)


Em đang đọc thư Mẹ gởi vào tù 
Gợi anh nhớ thuở trong tù anh nhận thư 
Âm thầm khóc qua từng nét chữ 
Cha anh dặn: "Hãy giữ lòng tin

đời là một hành trình khó nhọc 
mỗi bước đi phải thật đàng hoàng 
và biết sống với lòng tử tế 
ngẩng cao đầu nhìn mặt kẻ thù!"

Cảm ơn em cũng vì tình dân tộc 
Đã lên đường nhập cuộc đấu tranh 
Em bước tới với chân thành tâm nguyện 
Vì dân sinh quên tuổi trẻ chính mình

Anh và Em, hai thế hệ một kẻ thù 
Hai không gian nhưng cùng chung dòng máu 
Vững tin nhé, những người em yêu dấu 
Đường đi lên cần phấn đấu nhiệt thành

Bao mùa xuân em nhìn qua song cửa 
Tù giam em chứa đầy ắp hận thù 
Chúng giam em cho chùng lòng tranh đấu 
Mà quên cùng một dòng máu Việt Nam

Nếu phải khóc vì lá thư Mẹ gởi 
Khóc đi em cho Tổ Quốc hài lòng 
Vì Quê Hương còn những người như thế 
Trong đau thương vẫn ngạo nghễ tiếng cười!

Cao Nguyên 
Mùa Xuân 2015

@
Việt Nam Tôi Đâu và Anh Là Ai
Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ:

Thứ Tư, 11 tháng 2, 2015

Hà Nội Ngày Tháng Cũ (Phim Kiếp Hoa)

Hà Nội Ngày Tháng Cũ

“Kiếp hoa” – nét son của Hà Nội ngày tháng cũ


“Kiếp hoa” là một trong những bộ phim có âm thanh đầu tiên hoàn toàn do người Việt Nam sản xuất (trước đó cũng có rất nhiều phim truyện hoặc do người Pháp hoặc do người Việt thực hiện với tài tử – cảnh trí Việt Nam, song thời lượng thường rất ngắn và chất lượng nội dung cũng kém). Được quay tại Hà Nội năm 1953 và trình chiếu trên toàn quốc năm 1954, bộ phim “Kiếp hoa” là sự kiện vô tiền khoáng hậu lúc bấy giờ, đồng thời gây nên làn sóng ái mộ trên khắp ba miền – điều mà trước đó chỉ dành cho phim ảnh nhập cảng từ ngoại quốc.

Tờ rơi quàng cáo phim Kiếp hoa 1

“Kiếp hoa” vốn chỉ là một dự án phim mang tính gia đình, bởi thời đó chưa có nhà làm phim chuyên nghiệp. Để chuẩn bị cho sự ra đời của tác phẩm điện ảnh do chính mình chỉ đạo sản xuất, ông bầu Long (tức Trần Viết Long, nghệ danh Trần Lang, trưởng đoàn hát Kim Chung) đã tổ chức một cuộc thi sáng tác truyện phim và chọn ra kịch bản tâm đắc “Kiếp hoa” từ 300 tác phẩm ứng thí.
Các tài tử của bầu Long ban ngày thì đóng phim, đến chập tối lại phải lên sâu khấu diễn cải lương. Ngoại cảnh “Kiếp hoa” được quay tại Hà Nội, nhưng nội cảnh thì phải sang Hồng Kông quay. Vì thế, cứ vài ngày, tiền bán vé cải lương lại được ông bầu Long gom lại và đổi thành dollar Hồng Kông để lo kinh phí quay phim tại Hồng Kông. Đạo diễn và nhà quay phim đều là người Hồng Kông. Nội cảnh nhà nhân vật nam chính được sắp đặt y hệt nội thất tự gia của ông bầu Long đang ở lúc đó – nơi ngày nay là số 84 phố Nguyễn Du (Hà Nội) ; sau khi bộ phim gặt hái doanh thu lớn, ông bầu Long đã mua hẳn tòa biệt thự từng được thuê để quay phim đó. Phim quay gấp nhằm cạnh tranh với bộ phim “Bến cũ” cũng đang sản xuất tại Sài Gòn, kết quả là “Kiếp hoa” ra rạp trước “Bến cũ” gần một tháng. Theo lời tài tử Tiêu Lang (em ruột của bà Kim Chung), “Bến cũ” tuy là phim màu nhưng chỉ là phim 16 ly quay bằng máy cầm tay, nên độ chuyên nghiệp vẫn kém phim 35 ly “Kiếp hoa”.
Truyện phim “Kiếp hoa” mô tả số phận nổi trôi của hai chị em Ngọc Lan – Ngọc Thủy với những tình tiết vô cùng éo le, gai góc ; bối cảnh phim là giai đoạn trong và sau cuộc tản cư kháng Pháp của người dân Hà Nội. Ngọc Thủy nhí nhảnh, hồn nhiên bên cạnh người chị đa đoan mà bạc mệnh. Đảm nhiệm vai Ngọc Lan là nữ tài tử Kim Chung (phu nhân của ông bầu Trần Viết Long), nữ tài tử Kim Xuân (em dâu của bà Kim Chung) đóng vai Ngọc Thủy ; nhân vật nam chính – Thiện – do tài tử Trần Quang Tứ thủ diễn (chủ yếu do ông có chiều cao tương xứng với nữ tài tử Kim Chung, bởi ông vốn là một thương gia buôn gạo ở phố Hàng Chiếu chứ không phải diễn viên chuyên nghiệp).
Để tăng phần hấp dẫn cho “Kiếp hoa”, các nhà làm phim đã mượn giai điệu của một số ca khúc đang nổi tiếng bấy giờ làm nhạc nền : Giai điệu “Dư âm” (Nguyễn Văn Tý) làm nền cho cối cảnh đô thị ; cảnh trí thôn dã thì có “Làng tôi” (Chung Quân) ; cảnh ly loạn có “Giọt mưa thu” (Đặng Thế Phong) ; ca khúc “Cây đàn bỏ quên” (Phạm Duy) được một nhân vật nam nghêu ngao hát ở quán cà phê để tán tỉnh mỹ nữ. Ca khúc “Làng tôi” đã làm nên danh tiếng của nhạc sĩ Chung Quân (lúc đó mới 16 tuổi) khi vượt lên nhiều ca khúc khác trong cuộc thi chọn nhạc nền cho phim.

Kim Chung và Trần Lang
Ông bầu Trần Viết Long và phu nhân Kim Chung trong ngày khai chiếu phim “Kiếp hoa” tại rạp Đại Nam, 1953.
Một khán giả từng có dịp xem “Kiếp hoa” ngay khi bộ phim mới trình diện công chúng – ông Mai Văn Minh, nay đã ở tuổi bát tuần – cho biết : “Ngày đó, ‘Kiếp hoa’ thực sự là một sự kiện nghệ thuật đình đám của đất Thăng Long. Tôi vẫn nhớ cảm giác choáng ngợp khi nhìn thấy người ta quảng bá bộ phim này bằng cách thuê nguyên một máy bay trực thăng rải các tờ bướm quảng cáo quanh hồ Gươm. Trong những lần chiếu đầu tiên, bao giờ rạp cũng đông kín người. Nghe nói tiền bán vé thu được sau một thời gian công chiếu đã giúp ông bầu sắm được một ngôi biệt thự sang trọng“. Thực vậy, các tài liệu nghiên cứu về lịch sử điện ảnh Việt Nam đều thừa nhận, “Kiếp hoa” được xem là phim nội địa đầu tiên hay nhất, doanh thu hơn 10 triệu đồng (vào thời điểm 1954 là một con số khổng lồ) khiến đoàn Kim Chung có nội lực để phát triển trong rất nhiều năm về sau (đoàn Kim Chung là gánh hát cải lương lớn nhất trong suốt thời Việt Nam Cộng hòa). Bộ phim “Kiếp hoa” ra đời trong thời hoàng kim của nghệ thuật cải lương, trong khi điện ảnh vẫn còn rất xa lạ với đại chúng ; trong phim, hẳn bất cứ ai cũng thấy cách dàn dựng còn nặng tính ước lệ, lối diễn xuất cũng như kỹ thuật hóa trang chưa thoát khỏi ảnh hưởng của ca kịch – song so với mặt bằng chung của điện ảnh thế giới đương thời thì thực trạng như vậy không hề tệ. Tác giả Ngành Mai nhận định : “Vào thời ấy, sau thất bại về kỹ thuật của hai phim ‘Trận phong ba’ và ‘Cánh đồng ma’ của Đàm Quang Thiện quay năm 1930, ‘Kiếp hoa’ ra mắt như một cuốn phim đầu tay hoàn hảo về kỹ thuật và khá điêu luyện về diễn xuất“.
Ở Hà Nội, suốt tháng 10 năm 1953, “Kiếp hoa” chiếu một lúc tại rạp Đại Nam (phố Huế) và Bắc Đô (Hàng Giấy), chênh nhau nửa giờ. Cứ xong một cuộn ở rạp này, lại có người chạy xe Mobilet mang sang rạp kia chiếu tiếp. Ở Sài Gòn, phim cũng chiếu cùng lúc hai rạp Nam Quang và Nam Việt. Theo ông Tiêu Lang, nghề đầu cơ vé xem phim ở Việt Nam bắt đầu từ phim này. Tiền bán vé “Kiếp hoa” cũng giúp ông bầu Long có thể đầu tư phát triển tới 7 đoàn Kim Chung đi diễn khắp miền Nam về sau.
Bà Kim Xuân hồi tưởng, thay vì trả thù lao cho em dâu (chồng của bà Kim Xuân là tài tử Tiêu Lang), bầu Long mua tặng bà chiếc nhẫn kim cương 1 carat. Sau này, bà bán chiếc nhẫn được 5 triệu đồng, phụ vào số tiền 13 triệu mua căn nhà số 46 phố Bát Đàn mà vợ chồng bà đang ở bây giờ.
Ông Tiêu Lang kể : “Mới đầu, anh chị tôi hợp tác với bà Ái Liên thành đoàn Kim Chung – Ái Liên. Có nghề rồi, anh chị tôi mới tách riêng“. Cũng theo ông Tiêu Lang, ông bầu Long xuất thân từ một gia đình điền chủ, sở hữu hàng ngàn mẫu thượng đẳng điền ở tỉnh Vĩnh Yên cũ (nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc), có đồn điền Văn Lãng ở huyện Bình Xuyên (thuộc tỉnh Phúc Yên cũ, nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc). Đoàn Ái Liên không lâu sau cũng đầu tư sản xuất các phim “Nghệ thuật và hạnh phúc” và “Phạm Công – Cúc Hoa”, những ít được công chúng biết đến.
Trước thành công vượt bậc của bộ phim “Kiếp hoa”, ông bầu Long đã lên kế hoạch chuyển thể tiểu thuyết “Trống mái” của nhà văn Khái Hưng thành phim. Thế nhưng, dự án này chỉ mới ở khâu tuyển lựa tài tử thì phải kết thúc vì vấp phải những biến cố chính trị sau Hiệp định Genève. Phần lớn thành viên đoàn hát Kim Chung vội vã di cư xuống Nam phần vĩ tuyến 17 (ông Tiêu Lang và phu nhân vẫn ở lại Hà Nội), từ đó về sau đoàn hát này chỉ chuyên tâm phát triển cải lương và không thực hiện thêm bất cứ dự án điện ảnh nào nữa. Tại miền Nam, phim “Kiếp hoa” được chiếu đi chiếu lại nhiều lần với đối tượng khán giả chính là những người Bắc di cư còn nặng lòng hoài cổ và tưởng nhớ cố đô đã ở bên kia giới tuyến, lần cuối cùng “Kiếp hoa” xuất hiện là năm 1974.
Suốt nhiều thập niên, tưởng chừng “Kiếp hoa” đã vĩnh viễn mất tích khỏi làng giải trí Việt Nam, may thay trước khi từ trần (2008) nữ danh ca Kim Chung đã gửi tặng Viện Lưu trữ phim Việt Nam 8 cuộn băng gốc của bộ phim “Kiếp hoa”. Các chuyên viên kỹ thuật của cơ quan này đã bắt tay ngay vào việc phục chế bộ phim và hoàn tất vào năm 2012. Bản phim lưu hành trên các kệ đĩa và mạng xã hội hiện nay chính là bản phim đã qua công đoạn phục chế, với độ phân giải cao hơn bản gốc, đồng thời các vết ố và đoạn âm thanh bị rè đã được khắc phục.

Tờ rơi quàng cáo phim Kiếp hoa 2

KIẾP HOA

Năm sản xuất : 1953
Quốc gia : Quốc gia Việt Nam
Nhà sản xuất : Kim Chung Điện ảnh Công ty
Đạo diễn – Biên kịch : Trần Lang
Tài tử : Kim Chung (Ngọc Lan), Kim Xuân ( Ngọc Thủy), Trần Quang Tứ (Thiện), Ngọc Toàn ( Nhạc), Tuấn Sửu (Tam), Nhã Ái (mẹ Ngọc Lan), Tiền Phong (cha Thiện), Tiêu Lang (người mua thuốc lá)…
Trên đường tản cư hai chị em Lan và Thúy dìu dắt mẹ già đi lánh nạn. Lần đầu tiên trong đời, hai cô gái thị thành từng quen với cảnh lầu cao cửa kín kia tiếp xúc với cuộc sống gai lửa, vất vả do thời chinh chiến tạo nên. Họ đã vượt qua bao chặng đường nguy hiểm, người mệt lả bụng đói mà bên tai thì tiếng súng đạn vẫn réo lên từng hồi. Mệt quá mẹ của Lan ngồi nghỉ dưới gốc cây, mà trong lúc này cơn đau tim của bà lại nổi lên, khiến cho hai chị em Lan và Thúy vô cùng lo lắng.
Kiếp hoa 4
Trời gần tối không biết đêm nay tá túc nơi đâu, họ cố gắng đi một đoạn đường nữa và trông thấy một ngôi nhà to lớn hiện ra trước mắt. Lan đánh bạo đến ngỏ lời với một người đàn ông mà nàng đoán là ở trong ngôi nhà kia, và theo lời giới thiệu của người này, nàng được gặp một thanh niên khôi ngô tuấn tú tên là Thiện. Vừa nghe hai chị em Lan trình bày cảnh ngộ Thiện vội vàng mời ba mẹ con vào ở lại nhà chàng, Thiện tỏ ra lễ phép, sốt sắng giúp đỡ khiến ba mẹ con Lan vô cùng cảm kích. Bữa cơm thanh đạm được dọn ra, gia đình tị nạn và ông chủ nhà cùng ăn uống, chuyện trò vui vẻ. Thời loạn lạc khiến người ta dễ thân nhau nên chẳng mấy chốc họ thấy những lề lối khách sáo mất dần, thay vào đó Lan cũng như Thúy đã gọi Thiện bằng “anh” thân mật, và Lan cảm thấy có một cái gì vui vui chợt hiện đến với nàng.
Kiếp hoa 5
Lần đầu xa nhà, Thúy không thể nào nhắm mắt được và ngoài trời trăng sáng quá, đêm thôn quê tĩnh mịch trầm lặng chan hòa ánh trăng. Cây lá lao xao, động đậy uốn mình dưới ánh trăng, khiến lòng người thiếu nữ yêu mến cảnh vật, và nàng rón rén ra khỏi nhà, lần đi theo hàng hiên ra khỏi vườn.

Kiếp hoa 6
Kiếp hoa 7
Kiếp hoa 8
Kiếp hoa 9
Trăng sáng gió dịu, Thúy tự nhiên cất tiếng hát réo rắt ngân nga giữa không gian tịch mịch của đêm trường. Vui chân nàng như quên rằng đêm đã khuya, và chỗ mình đang ở là một vùng đất lạ. Bỗng nàng kêu thét lên, một bóng người ở đâu xông ra ghì chặt lấy nàng, cố đặt cái hôn lên má nàng. Nàng vùng vẫy nhưng y mạnh quá, siết chặt nàng như bị thúc đẩy bởi sức mạnh của ngọn lửa nhục dục bừng bừng. Thúy cố dằn co và hét to lên. Ðang ngủ, nghe tiếng la Lan vội vùng dậy và Thiện cũng nghe thấy. Hai người hốt hoảng chạy về phía có tiếng động, thì ra kẻ ấy chẳng ai khác hơn là gã đày tớ của Thiện. Phẫn nộ, Thiện đã giáng cho y một trận nên thân.

Kiếp hoa 10
Sau hôm đó Thúy và Lan cũng thấy yên lòng bên cạnh sự che chở đùm bọc của Thiện và Thúy vẫn nhí nhảnh ca hát theo bản tính hồn nhiên của nàng. Lan nhiều tuổi hơn em, nàng tỏ ra lo lắng cho tình cảnh mình không biết là ngày mai sẽ ra sao đây, khi nàng phải bỏ nơi này mà đi, phải xa người thanh niên mà nàng đã bắt đầu yêu mến. Sống gần bên nhau hai người không thể kéo dài sự yên lặng được, nên một hôm nọ Thiện thú thật nỗi lòng mình, và từ đó mối tình nồng thắm bắt đầu nảy nở giữa những ngày khói lửa súng đạn.
Kiếp hoa 11
Kiếp hoa 12
Một hôm đang sum họp vui vẻ thì họ được lệnh phải tản cư gấp, Lan và Thúy vội sửa soạn hành lý dìu mẹ lên đường, nhưng bà cụ mệt quá không đi được, bịnh đau tim lại nổi lên hành hạ bà già không gượng được, nhắm mắt trút hơi thở cuối cùng trong tay Lan – Thúy, hai nàng gào khóc thê thảm. Mẹ chết phải chạy loạn không biết ngày nào mới hết khổ, Lan và Thúy chỉ còn một nguồn an ủi là Thiện. Hôm từ biệt nhau, Thiện lấy một tấm hình của mình ra trao cho Lan, và chàng xin Lan một tấm để làm kỷ niệm, để khi nào nhớ nhau thì lấy ra xem. Họ cầm tay nhau, ngậm ngùi hẹn nhau ngày gặp và sáng hôm sau Lan cùng Thúy lên đường, hai chị em dắt dìu nhau qua nhiều chặng đường gai gốc mà khói lửa vẫn đuổi theo bên lưng họ.

Kiếp hoa 13
Sau một thời gian vất vả họ chạy về đến Thái Bình, ở đó Thiện đã hẹn với chị em Lan Thúy nhưng lại không gặp và Thiện chờ mãi nhưng hai nàng lại đang rẽ sang một lối khác. Nửa giờ sau Thiện đạp xe đến tìm Lan Thúy thì hai chị em đã đi xa rồi. Buồn rầu chàng toan đạp xe đi thì gặp Nhạc là bạn của Thiện chủ tiệm cà phê, có tài đàn hát cũng vừa dẹp quán chạy tản cư. Gặp nhau họ mừng rỡ vô cùng.
Thiện vội hỏi :
- Anh có gặp chị em Lan và Thúy đâu không ?
Thấy vẻ vồ vập của Thiện, Nhạc mỉm một nụ cười tinh quái :
- Không !
Thiện rút trong ví ra chiếc ảnh của Lan, lật phía sau đề vài câu nhắn gặp nàng tại một chỗ nhất định, xong chàng chìa cho Nhạc :
- Anh làm ơn trao bức ảnh này cho Lan nếu anh gặp nàng, bảo rằng tôi vẫn đợi, nếu nàng không tin thì tấm hình này sẽ là một bằng cớ chắc chắn, chứng tỏ rằng tôi đã nhờ anh, mong anh vui lòng giúp tôi việc ấy.
- Vâng, tôi sẽ làm theo lời anh.
Họ chia tay nhau, trông theo bóng Thiện khuất sau rặng cây, Nhạc đưa tấm hình của Lan lên ngắm nghía. Một nụ cười bí mật thoáng nở trên môi, y nhớ lại hôm Thiện dẫn Lan và Thúy đến quán cà phê của y. Lúc đó y đã lợi dụng tài đàn ngọt, hát hay để cám dỗ Lan, nhưng cô gái này đã gởi trái tim cho Thiện nên đã trả lời bằng cái nhìn lạnh lẽo, không thiện cảm. Càng nhớ lại càng khó chịu. Y nhìn chiếc ảnh một lần nữa và cất kỹ vào túi áo.

Kiếp hoa 14
Nghe tin Thiện đã hồi cư về Hà Nội, Lan và Thúy một sáng kia cũng lần mò trở về đây. Sau ngày chính biến thay đổi khá nhiều, trông điêu tàn đổ nát, nhà cửa của mẹ Lan đã tiêu tan trong cơn binh lửa, bà con thân thích cũng chẳng có một ai. Hai chị em tìm đến nhà Thiện hỏi thăm thì ra Thiện vẫn chưa về. Chán nản buồn rầu, Lan – Thúy lại thất thểu ôm gói áo quần lang thang qua hầu hết các hè phố, người mệt bụng đói không biết tối nay sẽ ngủ ở vỉa hè hay tá túc nơi đâu. Ðang đi bỗng Lan véo vai Thúy, reo lên :
- Thúy ơi! Ai như là anh Tam bán mì ngày trước quen với nhà ta.
Thúy ngẩn nhìn và mắt nàng sáng lên :
- Ðúng rồi, gặp người quen rồi, vào đi.
Họ bước vào ngôi quán bán mì đông nghẹt cả khách ăn. Vừa trông thấy họ, Tam vui vẻ :
- Kìa cô Lan cô Thúy, các cô về bao giờ thế ?
- Thưa anh, chúng tôi vừa mới về.
- Cụ đâu ?
Buồn rầu, Lan đáp :
- Mẹ tôi mất rồi anh ạ !
Mùi xào nấu thơm phức bay lên khiến Thúy không nén khỏi cơn đói cồn cào như vò xé ruột gan. Nàng nhìn vào tô mì nóng hổi mà Tam vừa làm xong. Biết ý, Tam liền mời hai chị em ăn, họ ăn rất ngon lành như đói đã lâu ngày.

Kiếp hoa 15
Bây giờ thì Lan và Thúy ở hẳn nhà Tam, ngày ngày Lan đi chợ mua hàng, Thúy giúp Tam công việc trông hàng tiếp khách, họ sống ẩn nhẫn để chờ Thiện về. Một hôm đang xách làn đi chợ ngang cửa ô thì Lan gặp Nhạc đang đạp xe qua đường. Thấy Lan, Nhạc vội thắng xe đứng lại :
- Ô kìa, cô Lan !
- Anh Nhạc, anh về bao giờ thế, anh có gặp anh Thiện đâu không ?
Một ý nghĩ thoáng qua đầu Nhạc :
- Có gặp nhưng mà câu chuyện dài lắm, còn nhắc đến làm chi cho thêm đau lòng.
- Anh Nhạc, anh nói sao ? Trời ơi anh làm ơn kể lại cho tôi nghe đi !
- Chuyện còn dài, ngày mai đúng 9 giờ cô đến hồ Tây, tôi sẽ kể hết cho cô nghe.

Kiếp hoa 16
Ðúng giờ hẹn, Nhạc chải chuốt ăn mặc bảnh bao chờ Lan ở trên một chiếc ghế đá và khi hai người đã ngồi yên bên bờ hồ, Lan giục :
- Thế nào anh Thiện ra làm sao hở anh ?
Nhạc nói giọng nghiêm trọng :
- Thiện đã chết.
Lan òa ra khóc :
- Trời ơi, anh Thiện đã chết thật rồi sao ?
Nhạc yên lặng rút trong mình tấm ảnh của Thiện gửi cho gã và đưa ra cho Lan. Mặt sau ảnh y đã tẩy xóa hết những dòng chữ của Thiện và tự tay y điền vào những câu khác.

Kiếp hoa 17
Lan cầm tấm ảnh lên ngắm nghía đúng là tấm ảnh của nàng đã trao cho Thiện lúc chia tay. Và lật ra sau lưng bức ảnh để xem những dòng chữ Thiện gởi cho nàng mà do Nhạc đã bịa ra : “Em Lan, anh trúng đạn, không sống nổi, vĩnh biệt em” !
Tim Lan như tan nát, cảnh vật trước mặt Lan như tối sẩm hẳn lại, nàng nghẹn ngào :
- Anh Thiện ơi !
Trong lúc nàng đưa tay ôm lấy mặt, nước mắt nàng ứa ra, Nhạc xốc cổ áo, bước đến bên Lan :
- Thôi cô đừng buồn nữa, Thiện chết đi thì đã có…
Lan quay phắt lại :
- Anh bảo gì ?
Nhạc ấp úng :
- Thiện chết đi thì đã… có tôi, buồn mà làm gì ?
Lan tức giận :
- Anh nói thế mà cũng nghe được ư ? Ðồ đểu giả, bạn anh vừa mới chết chưa bao lâu mà anh nỡ đối xử với tôi như thế ư ?
Nhạc sấn tới cầm tay Lan.
- Bởi vì tôi yêu Lan từ hôm gặp nhau lần đầu. Em đẹp quá !
Một cái tát của Lan làm Nhạc tối tăm mày mặt, y xấu hổ chuồn như con chó ăn vụng bị người ta bắt gặp.

Kiếp hoa 18
Về đến nhà, Lan buồn rầu bỏ cả cơm suốt ngày bần thần rũ rượi. Tam liền bày trò mời Lan và Thúy đi xem hát cho đỡ buồn. Tan hát họ đưa nhau vào một tiệm ăn nhưng Lan từ chối không ăn uống gì cả, nàng còn đâu tâm trí mà nghĩ đến chuyện uống ăn. Thừa cơ Thúy về nhà mời Ân, bạn của Tam, còn một mình gả với Lan, gả liền ép Lan uống rượu, Lan càng từ chối y càng khẩn khoản mời mọc. Nể quá, Lan uống một ly, rồi hai ly, ba ly… chưa bao lâu nàng đã say mèm không còn hay biết gì nữa. Tam nở một nụ cười đắc ý và khi trả tiền xong hắn dìu Lan vào một phòng ngủ. Thế là trong đêm bất hạnh ấy người thiếu nữ trong trắng kia đã bị dập liễu vùi hoa, tấm thân trinh bạch đã bị hoen ố vì tên bán mì. Tỉnh dậy việc đã lỡ, Lan đành ngậm đắng nuốt cay gọi tên gian xảo làm chồng. Từ đây mất Thiện, đời nàng chẳng còn nghĩa lý gì nữa, và tên sở khanh kia không phải chỉ đểu cán chừng ấy mà thôi, làm nhục chị chưa đủ, y còn muốn dòm ngó Thúy nữa, ra cái điều “hoa thơm thì chiếm cả cụm”.
Thế là một buổi sớm kia vì không chịu nổi tủi nhục, Lan và Thúy dắt dìu nhau ra khỏi nhà Tam, trong tay không có một đồng một chữ, ngay đến chiếc nhẫn vàng hai đồng cân, Lan cũng đã tháo ra trả lại cho gã bán mì.
Nhờ sự giúp đỡ của vài người quen biết, hai chị em Lan mở một quầy thuốc lá sống đắp đổi qua ngày, một hôm họ trông thấy Thiện ăn mặc sang trọng, lái xe hơi ngang qua chỗ mua bán của hai nàng. Thấy chị em Lan, Thiện không nén nỗi vui mừng, liền xuống xe bước vào, chàng tưởng Lan sẽ niềm nở đón tiếp, ngờ đâu Lan tự nghĩ thân mình đã nhơ nhớp không xứng đáng với Thiện, liền quay mặt đi. Nàng lạnh nhạt với Thiện nhưng khi trở về một mình trằn trọc trên giường, nàng lại không nén nổi nước mắt tủi buồn khóc cho đời mình.
Thiện vẫn yêu Lan như ngày nào, nên chàng vẫn luôn để tâm tìm kiếm dù Lan cố tình trốn tránh. Rốt cuộc Lan tự nghĩ không thể sống xa Thiện được nên nàng để cho trái tim toàn thắng.
Kiếp hoa 19
Kiếp hoa 20
Kiếp hoa 21
Kiếp hoa 22
Kiếp hoa 23
Kiếp hoa 24
Kiếp hoa 25
Kiếp hoa 26
Kiếp hoa 27
Kiếp hoa 28
Lễ cưới của Thiện – Lan được cử hành trong một khung cảnh long trọng tưng bừng, mọi người đều tấm tắc khen cô dâu ngoan và đẹp. Thiện thì hoàn toàn sung sướng, nhưng than ôi ! Giờ âm u đã điểm, trong lúc nâng ly rượu mừng, Lan bỗng tái mặt vì trông thấy gã bồi bưng rượu cho mình không ai khác hơn là bạn của Tam bán mì và hắn cũng nhận ra Lan. Một nỗi lo sợ xâm chiếm tâm hồn, khiến nàng như mất trí vội vàng cáo ốm lên trên gác, nàng nghĩ đến lúc tên bồi kia tố cáo tất cả những sự nhơ nhớp của nàng, đến đoạn đời đen tối khi sống tại nhà gã Tam.
Và nàng nghĩ đến Thiện, đến thanh danh của cái gia đình đã lầm tưởng nàng là người chính chuyên đức hạnh. Không, nàng không muốn cho Thiện biết tất cả sự thật xấu xa của nàng che dấu bấy lâu nay, tưởng đến cái phút Thiện nghe hết những lời tố cáo của tên bồi kia, Lan như muốn chết ngay lúc đó. Không, nàng phải đi khỏi nơi này ngay, thân nàng xấu xa nhơ nhớp, đâu xứng đáng với tình yêu cao cả của Thiện.
Kiếp hoa 29
Kiếp hoa 30
Trong đêm giông tố, Lan lặng lẽ ra đi như người mất hồn. Mưa gió phũ phàng như vô tình toa rập với nghịch cảnh của cuộc đời, vùi dập thêm kiếp hoa cho tan tác rã rời. Ðến núp dưới một bức tường, Lan mơ màng nghĩ đến hai người thân thích trong đời nàng – Thiện và Thúy – mà từ đây nàng không bao giờ còn gặp lại. Mưa gió vẫn cuồng loạn, một trận gió hung hãn thổi đến đẩy tường ngã xuống, vôi gạch rơi ào ào đè lên mình Lan, nàng lịm đi trong cơn giông bão. Ðến lúc Thiện và Thúy đánh xe đi đến nơi thì Lan chỉ còn là một cái xác không hồn.
Mưa đã tạnh nhưng trong đêm khuya tiếng rao hàng của một anh bán mì lảnh lót vẫn vang lên trong cái im lặng của đêm dài. Thúy hốt hoảng choàng mình thức dậy, nàng vừa tỉnh một cơn mơ hãi hùng, trong giấc mơ cả dĩ vãng chua xót vừa sống lại, rõ ràng trước mặt tiếng rao hàng đều đặn của gã bán mì vẫn dai dẳng như một ám ảnh nặng nề. Nó theo đuổi Thúy, châm chọc Thúy gợi lại một tấn kịch đau thương làm nàng bỗng khóc lên rưng rức. Ở phòng bên, Thiện không ngủ được, nghe tiếng khóc liền bước sang. Nhìn Thúy, một nét buồn hiện rõ trên gương mặt người đàn ông đau khổ. Ngoài kia tiếng rao mì vẫn lanh lảnh kéo dài, ngân nga trong cái tĩnh mịch hiu hắt của đêm trường.
Kiếp hoa 1
Kiếp hoa 2
Kiếp hoa 3

Thứ Ba, 10 tháng 2, 2015

Hậu Chuyện Kể Năm 2000

Bùi Ngọc Tấn và Hậu Chuyện Kể Năm 2000

hau chuyen ke nam 2000
Bùi Ngọc Tấn sinh năm 1934 tại làng Câu Tử Ngoại, xã Hợp Thành, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng. Ông gia nhập làng báo sau khi theo đội Thanh Niên Xung Phong vào tiếp quản Hà Nội tháng 10-1954 với vai trò phóng viên cho tờ Tiền Phong. Thời gian này, ông ký bút danh Tân Sắc và bắt đầu sáng tác văn nghệ, dù có lệnh cấm nhà báo viết văn nên phải viết chui tức ký bút danh khác. Cái lệnh kỳ quái này không cản được Bùi Ngọc Tấn sáng tác và ông đã gửi một truyện ngắn — Chị Trúc — dự thi giải văn nghệ của báo Văn Nghệ. Truyện của ông được Tô Hoài khen hay nhưng không được in và tất nhiên không được chấm giải, vì bị cho là nói đến những mất mát của chiến tranh “hơi quá liều lượng.” Tất nhiên sau đó Bùi Ngọc Tấn phải điều chỉnh cách viết để có thể tiếp tục góp mặt trong sinh hoạt văn nghệ nhưng đã cố giữ khoảng cách với “hàng ngũ nhà văn cung đình.”
Cuối năm 1959, ông chuyển về Hải Phòng làm biên tập viên báo Hải Phòng Kiến Thiết, đồng thời tiếp tục viết văn và đã có một số tác phẩm được xuất bản. Về khoảng thời gian này, trong một lần trả lời phỏng vấn, ông đã tâm sự “chuyển về thành phố quê hương Hải Phòng với ước mong thâm nhập công nông để viết được tác phẩm của đời mình.”
Chưa kịp viết tác phẩm ấy thì tháng 11-1968, Bùi Ngọc Tấn bị tống vào tù với tội danh “tuyên truyền phản cách mạng” trong vụ án “nhóm xét lại chống Đảng, làm tay sai cho nước ngoài” có mặt các bạn ông như nhà văn Vũ Thư Hiên, nhà điện ảnh Huy Vân, nhà báo Vũ Huy Cương, nhà báo Kỳ Vân… dù Bùi Ngọc Tấn chưa bao giờ là đảng viên đảng Cộng Sản Việt Nam và không hề biết cái tội mình bị quy kết kia mặt ngang mũi dọc ra sao. Từ đây, khúc ngoặt cuộc đời Bùi Ngọc Tấn mở ra với bước khởi đầu là 5 năm sống trong các trại tù mang mỹ danh “trại tập trung cải tạo.”
Đầu tháng 4-1973, đúng 2 tháng 7 ngày sau khi Hiệp Định chấm dứt chiến tranh Việt Nam ký kết tại Paris, Bùi Ngọc Tấn được ra khỏi nhà tù. Tuy nhiên, những ngày sống ngoài nhà tù lại u ám ghê hãi hơn cả cảnh sống giữa những bức vách nhà tù — như ông ghi lại:
“Trong những năm tháng hậu tù thất nghiệp đi bốc vác, kéo xe bò… thoi thóp kinh hoàng ấy, tôi có làm một cuộc khảo sát đời sống: Ra đầu phố những giờ đi làm và tan tầm, nhìn những người đạp xe qua Ngã Sáu và phát hiện một điều: Tất cả những người trên đường không một ai cười. Giống nhau. Xam xám. Đăm chiêu. Đồng phục quần áo. Đồng phục mặt người ……
Khi tôi kêu lên: “Các ông ấy bần cùng hóa nhân dân ghê quá”, Nguyên Bình nghiêm mặt bảo tôi: “Cuộc sống này gần với cuộc sống loài vật. Đâu phải cuộc sống con người.”
Thực tế không dừng tại đó.
Giữa cảnh đọa đầy đẩy con người xuống ngang loài vật ấy, Bùi Ngọc Tấn lại chỉ được xếp vào hạng phó người — chính xác hơn là thua cả loài vật. Cùng với những cực nhọc lam lũ do bị vây hãm bởi nhu cầu cơm áo trong thân phận phó người sống bên lề xã hội phải lao vào đủ loại việc mưu sinh khổ ải nhếch nhác là mạng lưới công an mật vụ luôn vây bọc từng giờ từng phút. Bùi Ngọc Tấn không ngừng bị cách ly, bị theo dõi, bị kiểm tra, bị dọa nạt… dưới nhiều hình thức khiến không tránh khỏi mối ám ảnh luôn bị đeo bám bởi một “người vô hình” : “… Ai cũng có một người vô hình để mà trình bày, để mà sợ sệt và thầm cãi lại. Người vô hình luôn bên cạnh mỗi người như hình với bóng, cả trong giấc ngủ …
Tôi thấy rợn hết cả người khi nghĩ đã có mấy thế hệ theo dõi tôi, săn đuổi tôi, vu cáo tôi. Họ đã già đi. Đã về nghỉ, hưu trí an nhàn. Nhiều người đã chết. Một thế hệ khác tiếp tục việc theo dõi. Rồi một thế hệ tiếp theo nữa. Đời này sang đời khác.
Tất cả đều là Gia-ve. Những Gia-ve với lòng dạ đen tối, không phải tìm sự thật mà chỉ nhăm nhăm hãm hại người lương thiện…”
Cuộc sống không còn là cuộc sống mà chỉ là sự tồn tại.
Ý nghĩa duy nhất về sự tồn tại của bản thân với Bùi Ngọc Tấn thời kỳ này là “sống vì những đứa con.” Nhưng mục đích này cũng không dễ theo đuổi vì toàn bộ gia đình thân thuộc của lớp phó người đều phải gánh chung thân phận phó người. Những đứa trẻ ngây thơ vô tội kể cả đứa chỉ mở mắt chào đời khi người cha đã bị đưa vào tù vẫn bị ngăn trở mọi sinh hoạt, kể cả việc cắp sách tới trường … khiến luôn thúc đẩy những cơn tự dằn vặt rồi bùng sôi phẫn nộ : …Tôi càng thấm thía tội lỗi làm bố của mình. Chỉ vì tôi. Chỉ vì tôi nên con tôi có thể thất học… Người tôi sôi lên. Hỡi bọn chó đểu kia. Chúng mày làm gì tao thì làm, bỏ tù lại tao cũng được. Nhưng đừng triệt hạ con tao!!”
May mắn duy nhất với Bùi Ngọc Tấn là không thể từ bỏ cây bút, dù cầm bút là chuyện thiên nan vạn nan. Vì thế kiếp sống phó người đã hiện thành những trang sách để cuối cùng góp mặt với cái tên Chuyện Kể Năm 2000. Đây là tác phẩm được Bùi Ngọc Tấn khởi viết từ cuối năm 1990 sau hơn 20 năm rời xa chữ nghĩa và tiếp tục hoàn chỉnh gần 10 năm cho tới khi có cơ hội ấn hành vào đầu năm 2000. Thế nhưng ngay khi vừa in xong, tác phẩm đã bị gom lại ghiền nát, ngâm thành bột “như thi hành án một tội phạm tử hình với khâu cuối cùng là bác sĩ khám nghiệm tử thi và chôn cất.” Riêng tác giả chưa kịp hưởng “niềm vui trúng số” vì tác phẩm được chào đời đã phải nai nịt và ngụy trang mỗi khi ra đường vào thời điểm đó: “… Mũ Nin-da, thứ mũ có lưỡi trai, trùm kín đầu kín tai kín mặt, xuống tận cổ, chỉ để hở hai con mắt. Rất lợi hại… Trùm vào ấm đã hẳn, người ta lại còn không biết mình là ai. Chưa kể nó bảo vệ mặt tránh được những ca át-xít… Cái cảm giác có đuôi ngày nào trước khi bị bắt năm 1968 lại phả hơi lạnh, hơi bẩn sau gáy.”
Hậu Chuyện Kể Năm 2000 ghi lại nhiều diễn biến quanh tác phẩm Chuyện Kể Năm 2000 từ các đoạn đường hoàn thành tới khi tác phẩm chào đời và những ngày kế tiếp. Tựa đề đầu tiên của Hậu Chuyện Kể Năm 2000 là Thời Biến Đổi Gien được Hoàng Hưng diễn giải là “Một thời đại ghê gớm trên quê hương chúng ta mà cái “gien” NGƯỜI đã bị biến đổi đến thảm hại!”
Đó là thời đại quét sạch mọi quyền sống căn bản của con người buộc toàn thể xã hội luôn cúi đầu quỳ gối tôn thờ những kẻ thủ đoạt quyền lực — thời đại mà hết thẩy người dân không được phép có một hành vi, một ý nghĩ nào khác ngoài việc tự biến thành công cụ phục vụ ý đồ của kẻ thủ đoạt quyền lực được coi là tín ngưỡng tối cao độc nhất vô nhị. hưng những dòng hồi ức Hậu Chuyện Kể Năm 2000 cho thấy mọi thủ đoạn bất nhân, mọi chủ trương tàn ác không hoàn toàn đáp ứng đúng tham vọng của kẻ thủ đoạt quyền lực. Qua những điều gần như vụn vặt nhỏ nhoi nhất trong cuộc sống, tình người vẫn luôn vươn lên bằng mọi cách thuộc mọi lúc và ở mọi nơi.
Vợ con người tù tới thăm mộ chồng không dám cất tiếng khóc vì đã có lệnh cấm khóc, nhưng không lệnh nào có thể cấm được nỗi đau dâng lên trong trái tim họ. Cũng không có lệnh nào hỗ trợ nổi cho các luận điệu dối trá nói trắng thành đen để buộc mọi người phải đặt trọn niềm tin vào những điều vu cáo.
Sự câm lặng của người vợ và những đứa con trước mộ chồng, mộ cha cũng như những cái gật đầu của đám đông trước các luận điệu dối trá chỉ biểu tỏ một tâm thế chịu đựng nhất thời trong khi sức sống của tình người hướng về thương yêu, hướng về sự thật luôn kiên trì tồn tại với độ nóng có thể còn vượt mức độ bình thường.
Chính vì thế, cuốn sách bị kết án tử hình, bị ghiền thành bột đã lập tức phát tán khắp nơi qua mọi hình thức và được truyền tay từ người này sang người khác với số lượng khó thể ước đoán. Thêm nữa, những dòng hồi ức Hậu Chuyện Kể Năm 2000 đã ghi rõ tên tuổi từng người liên hệ tới mọi chuyện kể. Điều này không chỉ diễn tả tấm lòng tôn vinh sự thật mà còn cho thấy thái độ bất chấp mọi chủ trương trấn áp, mọi thủ đoạn bạo hành — thái độ bất khuất của ý chí kiên trì sự sống đúng nghĩa.
Năm 2012 tại Paris vào dịp Festival Livre Et Mer trao tặng giải thưởng cho tác phẩm Biển Và Chim Bói Cá của Bùi Ngọc Tấn, nhà văn kiêm kịch sĩ Francois Bourgeon đã phát biểu : “… Từ khi lập ra giải thưởng này, tác phẩm của Bùi Ngọc Tấn đã hoàn toàn làm chúng tôi thoả mãn. Tác giả là người Việt Nam. Bùi Ngọc Tấn tặng cho chúng ta một cuốn tiểu thuyết nhân văn… Bùi Ngọc Tấn biết cái giá của tự do. Tiểu thuyết của Bùi Ngọc Tấn là một tác phẩm không thể quên. Thậm chí có lẽ là… một tác phẩm làm cho ta tốt hơn.”
Dù chỉ nêu nhận định về tác phẩm Biển Và Chim Bói Cá, nhưng Francois Bourgeon đã cho thấy cái nhìn bao quát về thế giới chữ nghĩa của Bùi Ngọc Tấn trong đó không thể vắng tác phẩm Hậu Chuyện Kể Năm 2000. Và có thể nói kết luận của Francois Bourgeon về “một tác phẩm làm cho ta tốt hơn” càng chính xác khi dành cho Hậu Chuyện Kể Năm 2000 tức Thời Biến Đổi Gien.
Bởi Hậu Chuyện Kể Năm 2000 không chỉ phác họa trung thực chân dung “ba kiếp sống” của những thế hệ nạn nhân Việt Nam trong thời đại quyền lực độc tôn mặc tình tác ác mà đã cho thấy ý chí bất khuất và sức sống phi thường của tình người qua vô số diễn biến cụ thể trong cuộc sống thường ngày đang quằn quại dưới đủ mọi thủ đoạn bất nhân tàn khốc. Những dòng hồi ức của Bùi Ngọc Tấn qua Hậu Chuyện Kể Năm 2000 đã dựng lên hình ảnh một chân trời yêu thương đầm ấm với âm hưởng lời ca thúc đẩy những bước chân dũng cảm kiên trì vươn tới chân trời ấy để “làm cho ta tốt hơn” — như cảm nghĩ của Francois Bourgeon — hầu đạt tới cuộc sống tốt đẹp hơn.
© Uyên Thao

Thứ Hai, 9 tháng 2, 2015

Tết Nguyên Đán


Tết Nguyên Đán có từ đâu?

Sắp đến Tết Ta là Viễn Xứ cảm thấy buồn buồn, tủi tủi vì nghe nhiều người nói là New Year of China!!! (người ngoại quốc không biết đã đành nhưng nhiều người Việt cũng nói như vậy. Thật là buồn)

Thật ra Tết Nguyên Đán là Tiết lễ đầu tiên của năm, bị người Trung Quốc (chôm) của dân Việt ta....

Tết: do chữ Tiết (thời tiết) mà ra.
Nguyên: bắt đầu.
Đán: buổi sáng sớm.

Vậy Tết Nguyên Đán tức là Tết bắt đầu năm, mở đầu cho một năm mới.

Một câu hỏi đôi khi được đặt ra: Tại sao tiền nhân chúng ta không chọn tháng 3 để tổ chức Tết Nguyên Đán, như các dân tộc Miên, Thái hoặc Lào hoặc một tháng nào đó trong năm mà lại chọn đúng vào ngày đầu tháng Giêng âm lịch. Người Trung Hoa sau này cũng chọn cùng ngày này làm ngày Tết của họ. Vì sự trùng hợp ngẫu nhiên (hay chôm văn hóa của ta) này thêm vào sự liên hệ giữa hai dân tộc Việt-Hoa vốn đã có hàng nghìn năm trước khi Trung Hoa đô hộ nước ta, nên nhiều người VỘI CHO RẰNG dân tộc ta bắt chước người Trung Hoa về thời gian mừng Tết Nguyên Đán.

Thật ra, đây chỉ là sự ngộ nhận.

Dựa vào lịch sử Trung Hoa, trải qua nhiều triều đại, chúng ta được biết người Trung Hoa có tục lệ mừng Tết Nguyên Đán không phải vào đầu tháng Giêng âm lịch như hiện nay mà thật ra thời gian được chọn để tổ chức mừng Xuân được thay đi đổi lại rất nhiều lần. Chẳng hạn, vào đời Tam Vương nhà Hạ, người Trung Hoa chọn tháng Dần đầu năm để mừng Xuân. Đến đời nhà Thương người ta đổi lại tháng Sửu tức tháng Chạp. Qua đời nhà Chu, người ta lại chọn tháng Tý, tức tháng Một. Ba vị vua trên đây không phải vô cớ, tùy hứng mà chọn những tháng đó, mà là họ đã dựa vào ý nghĩa tốt xấu, căn cứ theo ngày giờ lúc mới tạo thiên lập địa. Họ tin tưởng giờ Tý là giờ thành, giờ Sửu đất nở và giờ Dần sinh ra người.

Đến đời nhà Đông Chu, Khổng Tử một lần nữa noi theo nhà Hạ, đổi lại ngày Tết vào tháng Dần. Qua đời nhà Tần người ta lại thay ngày Tết vào tháng Hợi tức tháng Mười. Cuối cùng, khi nhà Hán lên ngôi, bấy giờ người Trung Hoa lại noi theo gương Khổng Tử chọn ngày đầu tháng Dần, tức tháng Giêng để mừng Tết.

Mừng xuân vào dịp đầu năm âm lịch nói là của người Trung hoa là hoàn toàn không chấp nhận được.

Tiền nhân chúng ta khôn ngoan, lại xuất thân từ giới nông dân. Sở dĩ các ngài chọn ngày đầu năm âm lịch để tổ chức Tết Nguyên Đán, vì thời gian này nhằm vào đúng mùa xuân, một mùa đẹp nhất trong năm với thời tiết mát mẻ, dịu dàng, cây cối đâm chồi nảy lộc, khoe thắm sắc hương và mang một màu sắc xinh tươi, mới mẻ rất thích hợp trong việc thăm viếng bà con, thân thuộc, bạn bè.



Đây cũng là khoảng thời gian mà mọi công việc đồng áng đã hoàn tất, lúa gặt xong và được đem chứa vào những lẫm lúa. Người nông dân chân lấm tay bùn, sau một năm vất vả với công việc đồng áng, giờ đây được thảnh thơi hoàn toàn có thể cùng nhau hội họp, liên hoan, ăn uống vui vẻ với nhau để tỏ lòng biết ơn đối với Trời Đất và tưởng nhớ đến tổ tiên, ông bà cha mẹ, những người thân yêu ruột thịt đã qua đời!

Tết Nguyên Đán trước đây ta gọi là Tết Nhàn là Tết cổ truyền có từ thời Hùng Vương, sử cũ vốn ta có 12 tháng nhưng cách tính khác ngày này, 1 năm bắt đầu từ tháng chạp tức tháng 12, vì khi ấy dân ta bắt đầu hoạch lúa, tới tháng giêng thì xong, ngày đầu tháng giêng người Âu Lạc có tục cúng lễ tạ ơn tổ tiên trời đất sau 1 mùa lúa nước, ngày Tết diễn ra từ ngày 1/1 cho tới hết 30/3 và kết thúc là lễ hội ngày mùa để bắt đầu 1 vụ cấy mới, ngày Tết này ta sẽ thấy đến đời Hán Vũ đế bên Trung Hoa mới có, còn ta thì ai xem tích Bánh Chưng Bánh Dày thì đều thấy cả, mà tích này là từ thời Hùng Vương thứ 6 tức là trước đời Tần Thủy Hoàng rất là lâu chừng khoảng hơn 1000 năm, vậy mà ngày nay nó lại mang tên New Year of China.

Viễn Xứ hy vọng chúng ta cùng nhau chia sẻ, để cho người Ngoại Quốc cũng như con cháu chúng ta hiểu biết nhiều hơn về Lịch Sử và Văn Hóa dân tộc Việt.

P.S. vẫn còn nhiều thứ mà người Trung Hoa đã chôm văn hóa của người Việt ta rồi nhận là của họ.


Viễn xứ