Thứ Tư, 13 tháng 11, 2013
Thứ Hai, 11 tháng 11, 2013
Người Bắc Cầu Âm Nhạc
Nhạc Sĩ Lê Văn Khoa
Người Bắc Cầu Nối Các Thế Hệ Bằng Âm Nhạc
Khi nhạc sĩ Lê Văn Khoa rời Việt Nam sau biến cố đau thương của năm 1975, tôi chỉ vừa tròn sáu tuổi. Tuyệt nhiên tôi không có ký ức gì về những chương trình văn nghệ và giáo dục mà ông đã từng điều khiển trên đài T.V. trước năm 1975. Cũng như nhạc sĩ Phạm Duy, Lam Phương, Nam Lộc và một số nhạc sĩ tên tuổi khác, nhạc sĩ Lê Văn Khoa rời khỏi đất nước mang theo cả một gia tài âm nhạc và nghệ thuật nhiếp ảnh mà ông đã gầy dựng trước năm 1975.
Sau năm 1975, thế hệ của chúng tôi không còn được nghe gì về ông ngoài những chương trình bố tôi thỉnh thoảng bắt sóng được từ đài VOA, có đôi lần nói về ông. Những năm cuối của thập niên 70 và những năm đầu của thập niên 80, những thanh thiếu niên ở lứa tuổi chúng tôi chỉ còn được nhồi nhét bởi những bản nhạc ca ngợi chế độ, lãnh tụ, những bản tình ca ca ngợi các nam nữ "thanh niên xung phong", "em nông trường, anh biên giới", hay tâng bốc chế độ xã hội chủ nghĩa với những hình ảnh như "kìa xa xa ống khói kia nhà máy, con thấy có đẹp không?", v.v.... Thật hiếm hoi khi thỉnh thoảng được bố tôi lén mở cho nghe những cuốn tape "nhạc vàng" cũ kỹ còn sót lại trong chiếc máy phát nhạc cũng cũ kỹ không kém.
Xem Tiếp: http://www.caulacbotinhnghesi.com/
Thứ Hai, 4 tháng 11, 2013
Mùa Thu trong Thơ Văn
Ai đã từng đọc bài thơ nỗi tiếng " Chanson D’automne " của thi- sĩ lừng danh Pháp-quốc Paul Verlaine đều cảm thấy lòng mình bồi-hồi và xúc-động . Không xúc-động sao đựơc khi nhà thơ đa-tình này đã rung cảm hồn mình thành những dòng thơ bất-hủ sau đây để nức-nở về tình thu bên bờ sông Seine tuyệt đẹp năm nào:
" Les sanglots longs
Des violons
De l’automne
Blessent mon coeur
D’une langueur monotone
Tout suffocant
Et blême, quand
Sonne l’heures
Je me souviens
Des jours anciens
Et je pleure
Et je m’en vais
Au vent mauvais
Qui m’emporte
Decà delà
Pareil à la
Feuille morte "
" Tiếng đàn ai đó lê-thê
Vĩ- cầm réo-rắt ê-chề lòng đau
Bơ-vơ chuông đổ đồng-hồ
Lòng như héo-hắt thu tàn năm xưa
Bao kỷ-niệm, theo gió đưa
Cuốn theo lệ đổ chưa vừa xót-xa
Bao năm lữ thứ xa nhà
Giang-hồ phiêu-bạt lá vàng tả-tơi.. "
(Lãng-Du )
Thật vậy, mùa thu là mùa của tình yêu, mùa của lá vàng rơi rụng. Mùa thu là mùa của những cặp tình nhân dìu nhau đi dưới nắng thu để thưởng thức bầu không khí mát mẻ trong lành,rồi trao cho nhau những nụ hôn nồng cháy để rồi cùng nhau nhìn lá vàng rơi, rơi mãi tận cuối chân trời.
Mùa thu là mùa các thi-nhân đi tìm những vần thơ để sáng-tác thành những tuyệt-phẩm bất-hủ nghìn năm.
Ai đã từng đi qua phố vắng dưới ánh nắng chiều thu khi lá vàng bay bay khắp trời rồi lác-đác rơi qua mái đầu và rớt xuống đất, mới cảm thấy được cái đẹp tuyệt vời của mùa thu,mới rung cảm theo nhịp của lá vàng đang rơi,rung cảm theo những tia nắng thu dịu hiền vươn mãi đến tận chân trời xa thăm-thẳm. Nói đến mùa thu là nói đến mùa của lá vàng baybay, mùa của lá vàng rơi rơi, mùa của lá vàng khô rụng khắp mọi nẽo đường. " Thu đi cho lá vàng bay, lá rơi cho đám cưới về ". Ta hãy nghe các thi-nhân Việt-nam nói về lá vàng rơi mỗi độ thu về qua những dòng thơ trữ tình sau đây.
Hình ảnh nỗi bật nhất về lá rụng giữa mùa thu là hình ảnh trong hai câu thơ sau đây của thi-sĩ Tản- Ðà :
" Trận gió thu-phong rụng lá vàng
Lá bay hàng xóm lá bay sang "
Nhưng hình ảnh trữ tình và lãng-mạng nhất là hình ảnh con nai vàng ngơ-ngác giưã rừng thu qua bài " Tiếng Thu " của Lưu Trọng Lư với những câu thơ năm chữ nghe thật êm-đềm như khúc nhạc tình thu trong rừng vắng :
" Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào-xạc
Con nai vàng ngơ-ngác
Ðạp trên lá vàng khô "
Không phải chỉ có Tản Ðà hay Lưu Trọng Lư mơí nói đến lá vàng khi mùa thu tới; hầu hết các thi- nhân Việt-nam đều ca ngợi cái đẹp của mùa thu bằng cách diễn tả hình ảnh của lá vàng rơi giữa trời thu. Sau đây là những dòng thơ diễn tả về lá vàng mùa thu của một số thi- nhân Việt-nam :
" Sắc trời trôi nhạt dưới khe
Chim đi, lá rụng, cành nghe lạnh-lùng "
(Huy-Cận)
" Rặng liễu đìu-hiu đứng chịu tang,
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng
Ðây mùa thu tới mùa thu tới
Với aó mơ phai dệt lá vàng "
(Xuân-Diệu )
" Ao thu lạnh-lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo-teo
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo "
(Nguyễn Khuyến)
" Ai đâu trở lại mùa thu trước
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng "
(Chế lan Viên)
" Chẳng được như hoa vướng gót nàng
Cõi lòng man-mác giá như sương!
Ta về nhặt lấy hoa thu rụng
Ðặng giữ bên lòng nỗi nhớ thương "
(Thái Can)
" Gió vàng hiu-hắt cảnh tiêu-sơ
Lẻ-tẻ bên trời bóng nhạn thưa
Giếng ngọc sen tàn bông hết thắm
Rừng phong lá rụng tiếng như mưa "
(Ngô chi Lan)
" Ðêm thu khắc lậu canh tàn
Gió cây trút lá trăng ngàn ngậm sương "
(Nguyên-Du)
Ngoài lá vàng rơi là biểu-tượng của mùa thu, ta còn phải đề cập đến ánh trăng thu huyền-ảo.Nói đến mùa thu mà không đề-cập đến ánh trăng thu mờ-ảo sau áng mây trời giữa đêm khuya thanh-vắng làmột sự thiếu sót lớn lao đối với mùa thu .
Không phải đêm thu nào ánh trăng cũng vằng-vặc giữa trời trong khi lá vàng rơi nhè nhẹ giữa đêm khuya cô-tịch mà trái lại, có những đêm thu trăng buồn ảo-nảo gió heo may thổi về làm cho lòng người cảm thấy u-buồn man-mác trước cái lạnh không làm tê-buốt con tim như mùa đông, nhưng lắm lúc làm cho hồn ta bâng-khuâng giá rét, làm cho hồn ta nhung- nhớ lạnh-lùng.
Nếu thi-sĩ Thượng Quan- Nghi đời Ðường bên Trung-Quốc đã diễn-tả cái đẹp của ánh trăng thu qua hai câu thơ:
" Thước phi sơn nguyệt thự
Thuyền táo đã phong thu "
" Sườn non trăng sáng chim bay
Ðồng thu gió lộng ,ve say nhạc sầu "
(Chi-Ðiền dịch)
Thì tại Việt-Nam, rất nhiều nhà thơ đã tốn không biết bao nhiêu mực và giấy để diễn-tả chị Hằng giữa đêm thu huyền-diệu. Thật vậy nếu bài " Tiếng thu " của Lưu trọng Lư không đề cập đến ánh trăng mờ thì tòan bài thơ mất đi rất nhiều ý-nghĩa về mùa thu :
" Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn-thức "
Riêng nhà thơ Xuân-Diệu đã nhân-cách hóa ánh trăng thu khiến những dòng thơ trở thành bất tử:
" Thỉnh-thỏang nàng trăng tự ngẩn-ngơ
Non xa khởi sự nhạt sương mờ
Ðã nghe rét mướt luồn trong gió
Ðã vắng người sang những chuyến đò "
Tuy-nhiên nói đến trăng nhất là ánh trăng thu mà không nói đến thi-sĩ Hàn Mặc Tử là một sự thiếu sót vô cùng trọng đại.
Ta hãy nghe Hàn Măïc Tử nói về trăng thu qua những câu thơ bảy chữ với lối nhân-cách hóa làm cho ta có cảm tưởng như người đẹp Hằng -Nga đang rón-rén dời gót ngọc vào nhà ai giữa đêm thu trăng sáng :
" Bóng nguyệt leo song sờ-sẫm gối
Gió thu lọt cửa cọ mài chăn "
hay là :
" Ô kìa bóng nguyệt trần truồng tắm
Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe "
Ngoài Lưu trọng Lư, Hàn mặc Tử, Xuân-Diệu ra , ta cũng thấy rất nhiều nhà thơ nói về ánh trăng thu. Sau đây là một số bài thơ của một vài thi-nhân đãu ca-tụng ánh trăng thu qua những dòng thơ đủ các thể loại :
" Lòng anh giếng ngọt trong veo
Trăng thu trong vắt, biển chiều trong xanh
Lòng em như bụi kinh-thành
Ða-đoan vó ngựa chung-tình bánh xe . "
(Nguyễn-Bính)
" Nước biếc trông như tầng khói phủ
Song thưa để mặc bóng trăng vào "
( Nguyễn -Khuyến)
" Ðêm thu buồn lắm chị Hằng ơi !
Trần thế em nay chán nữa rồi "
( Tản-Ðà)
" Mặt trăng tỏ thường soi bên gối,
Bừng mắt trông sương gội cành ngô
Lạnh-lùng thay, bấy chiều thu,
Gió may hiu-hắt trên đầu tường vôi "
Ðặng trần Côn (Ðoàn thị Ðiểm địch)
" Vi lô san-sát heo may
Một trời thu để riêng ai một người
Dặm khuya ngất tạnh mù khơi
Thấy trăng mà thẹn những lời non sông
Rừng thu từng biếc chen hồng
Nghe chim như nhắc tấm lòng thần -hôn !"
( Nguyễn-Du )
"Ðêm thu gió lọt sông đào
Nửa vành trăng khuyết ,ba sao giữa trời "
( Nguyễn- Du)
" Hoa xuân nọ ,còn phong nộn nhị,
Nguyệt thu kia,chưa hé hàn-quang "
( Ôn như Hầu )
Nếu mùa thu có lá vàng rơi rụng, có trăng thu huyền ảo thì cũng có nắng thu nhẹ lướt trên đồi. Nắng mùa thu không gay-gắt rực lửa như mùa hạtrái lại rất mát diụ trong lành, nhất là những lúc trời xanh mây trắng nắng hồng. Ði dươiù nắng thu người ta thấy tâm-hồn rất thoải mái lâng-lâng ,nhất là những lúc trờiø chiều nhạt nắng có lá vàng bay bay rồi rụng khắp phố -phường. Nhiều cặp tình nhân thích đi dưới nắng thu để thưởng thức cái vẻ đẹp của mùa thu, nhặt những lá vàng rơi rồi nhìn những hàng cây khẳng-khiu chỉ còn những cành trụi lá dọc hai bên đại-lộ lúc chiều tà.
Ai cũng biết rằng các thi- nhân khi nói về mùa thu thường không quên đề-cập đến nắng thu. Nhà thơ Chế lan Viên đã làm cho ta ngạc-nhiên khi viết mấy câu thơ liên-quan đến nắng thu như sau:
"Chao ôi! thu đã tới rồi sao ?
Thu trước vừa qua mới độ nào
Mới độ nào đây hoa rạn vỡ
Nắng hồng choàng ấp dãy bàng cao ."
Nhưng ngạc-nhiên hơn nữa là hai câu thơ đầy nhạc tính của nhà thơ Bích-Khê sau đây làm cho ta cảm thấy thích thú khi đọc lên vì nghe như một giai-điệu tuyệt vời :
" Ô hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh-mông ."
Dĩ-nhiên, mỗi nhà thơ diễn-tả vẻ nắng thu một cách khác nhau, nhưng hầu hết đều ca-ngợi nắng thu như là hình ảnh tuyệt đẹp giữa gió chiều.
Nhà thơ Xuân-Diệu cũng nói về nắng thu với hai câu thơ thất-ngôn đầy lưu luyến trữ-tình :
" Nõn-nà sương ngọc quanh thềm dâu .
Nắng nhỏ bâng-khuâng chiều lỡ thi. "
Nhưng nếu ai đã đọc mấy câu thơ sau đây của nhà thơ Trúc-Ly đều cảm thấy hồn mình xao-xuyến bâng -khuâng :
"Tôi đứng bên nầy bờ dĩ-vãng
Thương về con nước ngại-ngùng xuôi
Những người con gái bên kia ấy
Ai biết chiều nay có nhớ tôi
Tôi muốn hôn bằng môi của em
Mùa thu tha-thiết nắng hoe thềm. "
Ngòai ra ta còn thấy rất nhiều nhà thơ khác cũng đã nói về nắng thu với những dòng thơ thật đẹp và thật buồn :
"Chiều nay nắng nhạt luyến chân đồi
Hơi lạnh tàn thu giục lá rơi
Sương xuống chiều đi lòng vắng vẻ
Thê-lương thêm bận khúc ly-hòai ."
hay là :
" Hát bài hát ngô-nghê và êm ái
Bên sườn non mục-tử cưỡi trâu về
Nắng chiều rây vàng bột xuống dân quê
Lúa chín đỏ theo gió nồm sắp mái . "
Nam-Trân Nguyễn học Sỹ
Nếu những hình ảnh đẹp của mùa thu là lá vàng rơi,là ánh trăng thu giữa đêm khuya thanh-vắng, và nắng chiều thu trong buổi hòang-hôn, thì hình ảnh buồn nhất của mùa thu là mưa thu. Chính những giọt mưa thu đã làm cho lòng người lạnh-lẽo,u-buồn, làm cho lòng người hoang vắng sầu thương, bơ-vơ giữa thế-giới mưa rơi buồn-bã.
Trước cảnh mưa thu ảm-đạm ở ngòai bệnh-viện, nhạc-sĩ tài ba Ðặng thế Phong đã xúc-động rồi sáng tác ngay bản nhạc " Giọt mưa thu. " trước khi vĩnh-biệt trần-gian để lại cho đời những giọt lệ thu sầu thương nức-nở, những giọt lệ tình ai-oán lâm-ly : " Ngòai hiên giọt mưa thu thánh-thót rơi. Trời lắng u-buồn mây hắt-hiu ngừng trôi.Nghe gió thỏang mơ-hồ trong mưa thu ai khóc ai than hờ "
Bởi vậy nói đến mưa thu là nói đến một trong những cảnh vật buồn-bã nhất của trần thế. Ðọc mấy câu thơ sau đây của Bà Huyện Thanh Quan, ta thấy cảnh mưa thu thật là tiêu-điều buồn-bã:
" Thánh-thót tàu tiêu mấy hạt mưa
Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu-sơ
Xanh um cổ-thụ tròn xoe tán
Trắng xóa tràng -giang phẳng-lặng tờ. "
Hay hai câu thơ sau đây của nhà thơ Xuân-Diệu cũng cho ta thấy cảnh lặng lẽ u-buồn :
" Gió thầm, mây lặng , dáng thu xa
Mới tạnh mưa trưa chiều đã tà. "
Tuy-nhiên nếu trăng thu,nắng thu, mưa thu ,là những đề tài bất-hủ cho các văn thi-sĩ,nhạc-sĩ lấy đó để sáng-tác thì sương thu là một đề tài không kém quan-trọng để các thi-nhân dệt thành thơ. Vào những lúc trời sáng tinh-sương, ai đã từng ra sau vườn,đều trông thấy nhưnõg giọt sương đọng trên cành cây,ngọn cỏ giống như những hạt kim-cương lóng lánh đẹp tuyệt vời. Cho đến ngày hôm nay,rất nhiều người Việt-nam đã thuộc lòng đọan văn của nhà văn Thanh-Tịnh tả về cảnh sương thu : " Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và đầy gió lạnh, mẹ tôi âu-yếm nắm tay tôi,dẫn tôi đi trên con đường làng dài và hẹp." Một nhà thơ nỗi tiếng như sóng cồn một thời vang bóng đã ca-ngợi sương thu qua bài thơ " Sương rơi. " Ðó là thi-sĩ Nguyễn-Vỹ với bài thơ hai chữ đã để lại cho đời một tác-phẩm bất-hủ về sương thu.:
" Sương rơi Rồi hạt Rơi sương
Nặng trĩu Sương trong Cành dương
Trên cành Tan-tác Liễu ngã
Dương-liễu Trong lòng Gió mưa
Nhưng hơi Tả-tơi Tơi-tả
Từng giọt
Gió bấc Em ơi ! Thánh-thót
Lạnh-lùng Từng giọt Từng giọt
Hiu-hắt Thánh-thót Tơi-bời
Thấm vào Từng giọt Mưa rơi,
Em ơi Ðiêu-tàn Gió rơi;
Trong lòng Trên nấm Lá rơi,
Hạt sương Mồ hoang !.. Em ơi ! .. "
Thành một Vết thương !..
Nguyễn-Vỹ.
Như đã được trình bày ở trên,mùa thu là mùa có lá vàng rơi lác-đác,có trăng thu mờ aỏ giữa đêm buồn,có những giọt mưa rơi thánh-thót thật lâm-ly. Ðã thế, nhiều lúc ánh nắng chiều thu làm cho người lữ-hành thêm cô-độc bâng-khuâng,luôn luôn cảm thấy như xa vắng lạc-lòai, như biệt-ly hiu-quạnh.Vì thế mà nhiều người đã cho rằng ,
mùa thu là mùa của biệt-ly,của xa cách nên tình thu thường nức-nở nghẹn-ngào. Mùa thu là mùa nhớ nhung từ đó và cũng là nhung-nhớ từ đây. Thế nên nói đến mùa thu là nói đến biệt-ly nhung-nhớ,là nói đến ngăn-cách xa nhau,là nói đến chia-ly buồn-bã và lắm lúc nói đến vĩnh-biệt ngàn đời để rồi " nghìn-trùng xa cách người đã đi rồi, còn gì đâu nữa mà khóc với cười ."
Sau đây, ta hãy nghe các thi-nhân Việt-nam nói về sự biệt-ly,sự nhung-nhớ cũng như những nỗi u-buồn giữa mùa thu :
" Mây vẫn từng không chim bay đi
Khí trời u-uất, hận chia-ly
Ít nhiều thiếu-nữ buồn không nói
Tựa cửa nhìn xa nghĩ-ngợi gì "
(Xuân-Diệu )
Hay những dòng thơ lục-bát đầy vẻ âm-u,tiêu-điều của Huy-Cận;
" Non xanh ngây cả buồn chiều
Nhân-gian e cũng tiêu-điều dưới kia . "
Hoặc những câu thơ đầy nhung-nhớ quằn-quại giữa mùa thu:
" Chao ôi! mong nhớ ! ôi mong nhớ
Một cánh chim thu lạc cuối ngàn."
(Chế lan Viên)
Hay hình ảnh xa vắng biệt-ly của người chinh-phu trong lòng người cô-phụ :
"Em không nghe rạo-rực
Hình ảnh kẻ chinh-phu
Trong lòng người cô-phụ. "
(Lưu trọng Lư)
Hoặc là những câu thơ đầy nỗi nhớ-thương của thi-nhân :
" Chẳng được như hoa vướng gót nàng ,
Cõi lòng man- mác giá như sương!
Ta về nhặt lấy hoa thu rụng
Ðặng giữ bên lòng nỗi nhớ thương "
(Thái-Can)
Nhưng sự biệt-ly đớn đau nhất hay nỗi nhớ-nhung quằn-quại triền-miên cũng như sự khổ đau cay đắng suốt đời mà ta có thể thấy được là những dòng thơ nức-nở lệ nhòa của nữ thi- sĩ T.T.KH, một nhà thơ đã sáng tác nên những bài thơ bất-hủ ngàn năm và đã trở thành huyền thọai trong thi-ca Việt-nam. Ta hãy nghe nhà thơ T.T.KH nức-nở những điệp-khúc tình Thu sau đây :
" Anh ạ, tháng ngày xa quá nhỉ ?
Một mùa thu cũ một lòng đau
Ba năm ví biết anh còn nhớ
Em đã câm lời có còn đâu !."
hay là :
"Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái-ân lạt-lẽo của chồng tôi
Mà từng thu chết, từng thu chết
Vẫn giấu trong tim một bóng người ."
Tóm lại qua thi-ca Việt-nam, ta thấy hầu hết các thi- nhân nước Việt đều nói đến mùa thu, ca ngợi mùa thu vì mùa thu có những đêm trăng mờ ảo, có những lá vàng rơi tuyệt đẹp, có những giọt mưa thu thánh thót rơi thật lâm-ly,bi-thảm vv.. Và cũng vì mùa thu là mùa của ngăn-cách ,của ly-biệt,là mùa của nức-nở nghẹn-ngào nên các thi-nhân Việt-nam không ai mà không xúc-động khi thấy mùa thu đến. Vì vậy ,qua thi-ca Việt-nam,ta thấy nhiều nhà thơ đã để lại cho đời những bài thơ trữ-tình bất-hủ về mùa Thu
D.V.D
" Les sanglots longs
Des violons
De l’automne
Blessent mon coeur
D’une langueur monotone
Tout suffocant
Et blême, quand
Sonne l’heures
Je me souviens
Des jours anciens
Et je pleure
Et je m’en vais
Au vent mauvais
Qui m’emporte
Decà delà
Pareil à la
Feuille morte "
" Tiếng đàn ai đó lê-thê
Vĩ- cầm réo-rắt ê-chề lòng đau
Bơ-vơ chuông đổ đồng-hồ
Lòng như héo-hắt thu tàn năm xưa
Bao kỷ-niệm, theo gió đưa
Cuốn theo lệ đổ chưa vừa xót-xa
Bao năm lữ thứ xa nhà
Giang-hồ phiêu-bạt lá vàng tả-tơi.. "
(Lãng-Du )
Thật vậy, mùa thu là mùa của tình yêu, mùa của lá vàng rơi rụng. Mùa thu là mùa của những cặp tình nhân dìu nhau đi dưới nắng thu để thưởng thức bầu không khí mát mẻ trong lành,rồi trao cho nhau những nụ hôn nồng cháy để rồi cùng nhau nhìn lá vàng rơi, rơi mãi tận cuối chân trời.
Mùa thu là mùa các thi-nhân đi tìm những vần thơ để sáng-tác thành những tuyệt-phẩm bất-hủ nghìn năm.
Ai đã từng đi qua phố vắng dưới ánh nắng chiều thu khi lá vàng bay bay khắp trời rồi lác-đác rơi qua mái đầu và rớt xuống đất, mới cảm thấy được cái đẹp tuyệt vời của mùa thu,mới rung cảm theo nhịp của lá vàng đang rơi,rung cảm theo những tia nắng thu dịu hiền vươn mãi đến tận chân trời xa thăm-thẳm. Nói đến mùa thu là nói đến mùa của lá vàng baybay, mùa của lá vàng rơi rơi, mùa của lá vàng khô rụng khắp mọi nẽo đường. " Thu đi cho lá vàng bay, lá rơi cho đám cưới về ". Ta hãy nghe các thi-nhân Việt-nam nói về lá vàng rơi mỗi độ thu về qua những dòng thơ trữ tình sau đây.
Hình ảnh nỗi bật nhất về lá rụng giữa mùa thu là hình ảnh trong hai câu thơ sau đây của thi-sĩ Tản- Ðà :
" Trận gió thu-phong rụng lá vàng
Lá bay hàng xóm lá bay sang "
Nhưng hình ảnh trữ tình và lãng-mạng nhất là hình ảnh con nai vàng ngơ-ngác giưã rừng thu qua bài " Tiếng Thu " của Lưu Trọng Lư với những câu thơ năm chữ nghe thật êm-đềm như khúc nhạc tình thu trong rừng vắng :
" Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào-xạc
Con nai vàng ngơ-ngác
Ðạp trên lá vàng khô "
Không phải chỉ có Tản Ðà hay Lưu Trọng Lư mơí nói đến lá vàng khi mùa thu tới; hầu hết các thi- nhân Việt-nam đều ca ngợi cái đẹp của mùa thu bằng cách diễn tả hình ảnh của lá vàng rơi giữa trời thu. Sau đây là những dòng thơ diễn tả về lá vàng mùa thu của một số thi- nhân Việt-nam :
" Sắc trời trôi nhạt dưới khe
Chim đi, lá rụng, cành nghe lạnh-lùng "
(Huy-Cận)
" Rặng liễu đìu-hiu đứng chịu tang,
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng
Ðây mùa thu tới mùa thu tới
Với aó mơ phai dệt lá vàng "
(Xuân-Diệu )
" Ao thu lạnh-lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo-teo
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo "
(Nguyễn Khuyến)
" Ai đâu trở lại mùa thu trước
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng "
(Chế lan Viên)
" Chẳng được như hoa vướng gót nàng
Cõi lòng man-mác giá như sương!
Ta về nhặt lấy hoa thu rụng
Ðặng giữ bên lòng nỗi nhớ thương "
(Thái Can)
" Gió vàng hiu-hắt cảnh tiêu-sơ
Lẻ-tẻ bên trời bóng nhạn thưa
Giếng ngọc sen tàn bông hết thắm
Rừng phong lá rụng tiếng như mưa "
(Ngô chi Lan)
" Ðêm thu khắc lậu canh tàn
Gió cây trút lá trăng ngàn ngậm sương "
(Nguyên-Du)
Ngoài lá vàng rơi là biểu-tượng của mùa thu, ta còn phải đề cập đến ánh trăng thu huyền-ảo.Nói đến mùa thu mà không đề-cập đến ánh trăng thu mờ-ảo sau áng mây trời giữa đêm khuya thanh-vắng làmột sự thiếu sót lớn lao đối với mùa thu .
Không phải đêm thu nào ánh trăng cũng vằng-vặc giữa trời trong khi lá vàng rơi nhè nhẹ giữa đêm khuya cô-tịch mà trái lại, có những đêm thu trăng buồn ảo-nảo gió heo may thổi về làm cho lòng người cảm thấy u-buồn man-mác trước cái lạnh không làm tê-buốt con tim như mùa đông, nhưng lắm lúc làm cho hồn ta bâng-khuâng giá rét, làm cho hồn ta nhung- nhớ lạnh-lùng.
Nếu thi-sĩ Thượng Quan- Nghi đời Ðường bên Trung-Quốc đã diễn-tả cái đẹp của ánh trăng thu qua hai câu thơ:
" Thước phi sơn nguyệt thự
Thuyền táo đã phong thu "
" Sườn non trăng sáng chim bay
Ðồng thu gió lộng ,ve say nhạc sầu "
(Chi-Ðiền dịch)
Thì tại Việt-Nam, rất nhiều nhà thơ đã tốn không biết bao nhiêu mực và giấy để diễn-tả chị Hằng giữa đêm thu huyền-diệu. Thật vậy nếu bài " Tiếng thu " của Lưu trọng Lư không đề cập đến ánh trăng mờ thì tòan bài thơ mất đi rất nhiều ý-nghĩa về mùa thu :
" Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn-thức "
Riêng nhà thơ Xuân-Diệu đã nhân-cách hóa ánh trăng thu khiến những dòng thơ trở thành bất tử:
" Thỉnh-thỏang nàng trăng tự ngẩn-ngơ
Non xa khởi sự nhạt sương mờ
Ðã nghe rét mướt luồn trong gió
Ðã vắng người sang những chuyến đò "
Tuy-nhiên nói đến trăng nhất là ánh trăng thu mà không nói đến thi-sĩ Hàn Mặc Tử là một sự thiếu sót vô cùng trọng đại.
Ta hãy nghe Hàn Măïc Tử nói về trăng thu qua những câu thơ bảy chữ với lối nhân-cách hóa làm cho ta có cảm tưởng như người đẹp Hằng -Nga đang rón-rén dời gót ngọc vào nhà ai giữa đêm thu trăng sáng :
" Bóng nguyệt leo song sờ-sẫm gối
Gió thu lọt cửa cọ mài chăn "
hay là :
" Ô kìa bóng nguyệt trần truồng tắm
Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe "
Ngoài Lưu trọng Lư, Hàn mặc Tử, Xuân-Diệu ra , ta cũng thấy rất nhiều nhà thơ nói về ánh trăng thu. Sau đây là một số bài thơ của một vài thi-nhân đãu ca-tụng ánh trăng thu qua những dòng thơ đủ các thể loại :
" Lòng anh giếng ngọt trong veo
Trăng thu trong vắt, biển chiều trong xanh
Lòng em như bụi kinh-thành
Ða-đoan vó ngựa chung-tình bánh xe . "
(Nguyễn-Bính)
" Nước biếc trông như tầng khói phủ
Song thưa để mặc bóng trăng vào "
( Nguyễn -Khuyến)
" Ðêm thu buồn lắm chị Hằng ơi !
Trần thế em nay chán nữa rồi "
( Tản-Ðà)
" Mặt trăng tỏ thường soi bên gối,
Bừng mắt trông sương gội cành ngô
Lạnh-lùng thay, bấy chiều thu,
Gió may hiu-hắt trên đầu tường vôi "
Ðặng trần Côn (Ðoàn thị Ðiểm địch)
" Vi lô san-sát heo may
Một trời thu để riêng ai một người
Dặm khuya ngất tạnh mù khơi
Thấy trăng mà thẹn những lời non sông
Rừng thu từng biếc chen hồng
Nghe chim như nhắc tấm lòng thần -hôn !"
( Nguyễn-Du )
"Ðêm thu gió lọt sông đào
Nửa vành trăng khuyết ,ba sao giữa trời "
( Nguyễn- Du)
" Hoa xuân nọ ,còn phong nộn nhị,
Nguyệt thu kia,chưa hé hàn-quang "
( Ôn như Hầu )
Nếu mùa thu có lá vàng rơi rụng, có trăng thu huyền ảo thì cũng có nắng thu nhẹ lướt trên đồi. Nắng mùa thu không gay-gắt rực lửa như mùa hạtrái lại rất mát diụ trong lành, nhất là những lúc trời xanh mây trắng nắng hồng. Ði dươiù nắng thu người ta thấy tâm-hồn rất thoải mái lâng-lâng ,nhất là những lúc trờiø chiều nhạt nắng có lá vàng bay bay rồi rụng khắp phố -phường. Nhiều cặp tình nhân thích đi dưới nắng thu để thưởng thức cái vẻ đẹp của mùa thu, nhặt những lá vàng rơi rồi nhìn những hàng cây khẳng-khiu chỉ còn những cành trụi lá dọc hai bên đại-lộ lúc chiều tà.
Ai cũng biết rằng các thi- nhân khi nói về mùa thu thường không quên đề-cập đến nắng thu. Nhà thơ Chế lan Viên đã làm cho ta ngạc-nhiên khi viết mấy câu thơ liên-quan đến nắng thu như sau:
"Chao ôi! thu đã tới rồi sao ?
Thu trước vừa qua mới độ nào
Mới độ nào đây hoa rạn vỡ
Nắng hồng choàng ấp dãy bàng cao ."
Nhưng ngạc-nhiên hơn nữa là hai câu thơ đầy nhạc tính của nhà thơ Bích-Khê sau đây làm cho ta cảm thấy thích thú khi đọc lên vì nghe như một giai-điệu tuyệt vời :
" Ô hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh-mông ."
Dĩ-nhiên, mỗi nhà thơ diễn-tả vẻ nắng thu một cách khác nhau, nhưng hầu hết đều ca-ngợi nắng thu như là hình ảnh tuyệt đẹp giữa gió chiều.
Nhà thơ Xuân-Diệu cũng nói về nắng thu với hai câu thơ thất-ngôn đầy lưu luyến trữ-tình :
" Nõn-nà sương ngọc quanh thềm dâu .
Nắng nhỏ bâng-khuâng chiều lỡ thi. "
Nhưng nếu ai đã đọc mấy câu thơ sau đây của nhà thơ Trúc-Ly đều cảm thấy hồn mình xao-xuyến bâng -khuâng :
"Tôi đứng bên nầy bờ dĩ-vãng
Thương về con nước ngại-ngùng xuôi
Những người con gái bên kia ấy
Ai biết chiều nay có nhớ tôi
Tôi muốn hôn bằng môi của em
Mùa thu tha-thiết nắng hoe thềm. "
Ngòai ra ta còn thấy rất nhiều nhà thơ khác cũng đã nói về nắng thu với những dòng thơ thật đẹp và thật buồn :
"Chiều nay nắng nhạt luyến chân đồi
Hơi lạnh tàn thu giục lá rơi
Sương xuống chiều đi lòng vắng vẻ
Thê-lương thêm bận khúc ly-hòai ."
hay là :
" Hát bài hát ngô-nghê và êm ái
Bên sườn non mục-tử cưỡi trâu về
Nắng chiều rây vàng bột xuống dân quê
Lúa chín đỏ theo gió nồm sắp mái . "
Nam-Trân Nguyễn học Sỹ
Nếu những hình ảnh đẹp của mùa thu là lá vàng rơi,là ánh trăng thu giữa đêm khuya thanh-vắng, và nắng chiều thu trong buổi hòang-hôn, thì hình ảnh buồn nhất của mùa thu là mưa thu. Chính những giọt mưa thu đã làm cho lòng người lạnh-lẽo,u-buồn, làm cho lòng người hoang vắng sầu thương, bơ-vơ giữa thế-giới mưa rơi buồn-bã.
Trước cảnh mưa thu ảm-đạm ở ngòai bệnh-viện, nhạc-sĩ tài ba Ðặng thế Phong đã xúc-động rồi sáng tác ngay bản nhạc " Giọt mưa thu. " trước khi vĩnh-biệt trần-gian để lại cho đời những giọt lệ thu sầu thương nức-nở, những giọt lệ tình ai-oán lâm-ly : " Ngòai hiên giọt mưa thu thánh-thót rơi. Trời lắng u-buồn mây hắt-hiu ngừng trôi.Nghe gió thỏang mơ-hồ trong mưa thu ai khóc ai than hờ "
Bởi vậy nói đến mưa thu là nói đến một trong những cảnh vật buồn-bã nhất của trần thế. Ðọc mấy câu thơ sau đây của Bà Huyện Thanh Quan, ta thấy cảnh mưa thu thật là tiêu-điều buồn-bã:
" Thánh-thót tàu tiêu mấy hạt mưa
Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu-sơ
Xanh um cổ-thụ tròn xoe tán
Trắng xóa tràng -giang phẳng-lặng tờ. "
Hay hai câu thơ sau đây của nhà thơ Xuân-Diệu cũng cho ta thấy cảnh lặng lẽ u-buồn :
" Gió thầm, mây lặng , dáng thu xa
Mới tạnh mưa trưa chiều đã tà. "
Tuy-nhiên nếu trăng thu,nắng thu, mưa thu ,là những đề tài bất-hủ cho các văn thi-sĩ,nhạc-sĩ lấy đó để sáng-tác thì sương thu là một đề tài không kém quan-trọng để các thi-nhân dệt thành thơ. Vào những lúc trời sáng tinh-sương, ai đã từng ra sau vườn,đều trông thấy nhưnõg giọt sương đọng trên cành cây,ngọn cỏ giống như những hạt kim-cương lóng lánh đẹp tuyệt vời. Cho đến ngày hôm nay,rất nhiều người Việt-nam đã thuộc lòng đọan văn của nhà văn Thanh-Tịnh tả về cảnh sương thu : " Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và đầy gió lạnh, mẹ tôi âu-yếm nắm tay tôi,dẫn tôi đi trên con đường làng dài và hẹp." Một nhà thơ nỗi tiếng như sóng cồn một thời vang bóng đã ca-ngợi sương thu qua bài thơ " Sương rơi. " Ðó là thi-sĩ Nguyễn-Vỹ với bài thơ hai chữ đã để lại cho đời một tác-phẩm bất-hủ về sương thu.:
" Sương rơi Rồi hạt Rơi sương
Nặng trĩu Sương trong Cành dương
Trên cành Tan-tác Liễu ngã
Dương-liễu Trong lòng Gió mưa
Nhưng hơi Tả-tơi Tơi-tả
Từng giọt
Gió bấc Em ơi ! Thánh-thót
Lạnh-lùng Từng giọt Từng giọt
Hiu-hắt Thánh-thót Tơi-bời
Thấm vào Từng giọt Mưa rơi,
Em ơi Ðiêu-tàn Gió rơi;
Trong lòng Trên nấm Lá rơi,
Hạt sương Mồ hoang !.. Em ơi ! .. "
Thành một Vết thương !..
Nguyễn-Vỹ.
Như đã được trình bày ở trên,mùa thu là mùa có lá vàng rơi lác-đác,có trăng thu mờ aỏ giữa đêm buồn,có những giọt mưa rơi thánh-thót thật lâm-ly. Ðã thế, nhiều lúc ánh nắng chiều thu làm cho người lữ-hành thêm cô-độc bâng-khuâng,luôn luôn cảm thấy như xa vắng lạc-lòai, như biệt-ly hiu-quạnh.Vì thế mà nhiều người đã cho rằng ,
mùa thu là mùa của biệt-ly,của xa cách nên tình thu thường nức-nở nghẹn-ngào. Mùa thu là mùa nhớ nhung từ đó và cũng là nhung-nhớ từ đây. Thế nên nói đến mùa thu là nói đến biệt-ly nhung-nhớ,là nói đến ngăn-cách xa nhau,là nói đến chia-ly buồn-bã và lắm lúc nói đến vĩnh-biệt ngàn đời để rồi " nghìn-trùng xa cách người đã đi rồi, còn gì đâu nữa mà khóc với cười ."
Sau đây, ta hãy nghe các thi-nhân Việt-nam nói về sự biệt-ly,sự nhung-nhớ cũng như những nỗi u-buồn giữa mùa thu :
" Mây vẫn từng không chim bay đi
Khí trời u-uất, hận chia-ly
Ít nhiều thiếu-nữ buồn không nói
Tựa cửa nhìn xa nghĩ-ngợi gì "
(Xuân-Diệu )
Hay những dòng thơ lục-bát đầy vẻ âm-u,tiêu-điều của Huy-Cận;
" Non xanh ngây cả buồn chiều
Nhân-gian e cũng tiêu-điều dưới kia . "
Hoặc những câu thơ đầy nhung-nhớ quằn-quại giữa mùa thu:
" Chao ôi! mong nhớ ! ôi mong nhớ
Một cánh chim thu lạc cuối ngàn."
(Chế lan Viên)
Hay hình ảnh xa vắng biệt-ly của người chinh-phu trong lòng người cô-phụ :
"Em không nghe rạo-rực
Hình ảnh kẻ chinh-phu
Trong lòng người cô-phụ. "
(Lưu trọng Lư)
Hoặc là những câu thơ đầy nỗi nhớ-thương của thi-nhân :
" Chẳng được như hoa vướng gót nàng ,
Cõi lòng man- mác giá như sương!
Ta về nhặt lấy hoa thu rụng
Ðặng giữ bên lòng nỗi nhớ thương "
(Thái-Can)
Nhưng sự biệt-ly đớn đau nhất hay nỗi nhớ-nhung quằn-quại triền-miên cũng như sự khổ đau cay đắng suốt đời mà ta có thể thấy được là những dòng thơ nức-nở lệ nhòa của nữ thi- sĩ T.T.KH, một nhà thơ đã sáng tác nên những bài thơ bất-hủ ngàn năm và đã trở thành huyền thọai trong thi-ca Việt-nam. Ta hãy nghe nhà thơ T.T.KH nức-nở những điệp-khúc tình Thu sau đây :
" Anh ạ, tháng ngày xa quá nhỉ ?
Một mùa thu cũ một lòng đau
Ba năm ví biết anh còn nhớ
Em đã câm lời có còn đâu !."
hay là :
"Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái-ân lạt-lẽo của chồng tôi
Mà từng thu chết, từng thu chết
Vẫn giấu trong tim một bóng người ."
Tóm lại qua thi-ca Việt-nam, ta thấy hầu hết các thi- nhân nước Việt đều nói đến mùa thu, ca ngợi mùa thu vì mùa thu có những đêm trăng mờ ảo, có những lá vàng rơi tuyệt đẹp, có những giọt mưa thu thánh thót rơi thật lâm-ly,bi-thảm vv.. Và cũng vì mùa thu là mùa của ngăn-cách ,của ly-biệt,là mùa của nức-nở nghẹn-ngào nên các thi-nhân Việt-nam không ai mà không xúc-động khi thấy mùa thu đến. Vì vậy ,qua thi-ca Việt-nam,ta thấy nhiều nhà thơ đã để lại cho đời những bài thơ trữ-tình bất-hủ về mùa Thu
D.V.D
Chủ Nhật, 27 tháng 10, 2013
QUÊ HƯƠNG BÊN TRỜI
QUÊ HƯƠNG BÊN TRỜI - Trường ca Vĩnh Điện.
www.youtube.com
QUÊ HƯƠNG BÊN TRỜI Trường ca Vĩnh Điện.
Lời, thơ : Vĩnh Điện, Nguyễn Thu Hà
Với các tiếng hát : Ngọc Quy, Ngọc Mai, Hoàng Quân, Diệu Hiền và Nhóm Cadillac.
Lời, thơ : Vĩnh Điện, Nguyễn Thu Hà
Với các tiếng hát : Ngọc Quy, Ngọc Mai, Hoàng Quân, Diệu Hiền và Nhóm Cadillac.
Thứ Ba, 15 tháng 10, 2013
Nhạc hội Hùng sử Việt
Các tiết mục 'Con Rồng cháu Tiên', 'Đáp lời sông núi'... trong Đại nhạc hội Hùng sử Việt lần thứ 10 tại Mỹ, đưa những người xa quê về lại trong không khí hào hùng của dân tộc và giúp các thế hệ con cháu nhớ về cội nguồn.
Đây là lần thứ 10 câu lạc bộ Hùng sử Việt tổ chức thành công chương trình nhạc hội Hùng sử Việt. Chương trình nhạc hội lần này có chủ đề "Tinh thần bất khuất chống ngoại xâm".
Chương trình nhạc hội Hùng sử Việt hội tụ nhiều tiết mục đa dạng, phong phú như nhạc kịch "Hòn Vọng Phu", thoại kịch "Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vua đất Bắc" cùng nhiều tiết mục ca múa nhạc truyền thống đặc sắc khác. Trong ảnh là tiết mục nhạc kịch "con Rồng cháu Tiên".
Thứ Tư, 2 tháng 10, 2013
Bão Cuồng
người ơi ! đốt lửa giùm em
cho tan đói lạnh, qua đêm bão cuồng
lũ dồn, sóng quặn, xoáy nguồn
xé rừng, toạt đất, vỡ cồn lúa khoai !
quê ta nghèo đói luân hồi
mãi râm ran khóc, rối bời ruột gan
năm nào bão chẳng dập ngang
còn đay nghiến gió cho oan nghiệt tràn !
mẹ ôm cái bóng ru dòn
thân con nước cuộn, hồn còn quẩn quanh
xót đời, cha níu mái tranh
đã tan hoang vỡ, tanh banh cột kèo !
tội em, náu giữa quê nghèo
đời qua đếm tuổi trên điều rủi may
chưa về, buồn đã quắt quay
gặp em, nước mắt chắc đầy ngợp tim!
chỉ đành đốt lửa giùm em
xua tan đói lạnh qua đêm bão cuồng
ngủ đi em nhé, ngủ ngon
đừng kinh hãi mẹ ru dòn bóng con !
cho tan đói lạnh, qua đêm bão cuồng
lũ dồn, sóng quặn, xoáy nguồn
xé rừng, toạt đất, vỡ cồn lúa khoai !
quê ta nghèo đói luân hồi
mãi râm ran khóc, rối bời ruột gan
năm nào bão chẳng dập ngang
còn đay nghiến gió cho oan nghiệt tràn !
mẹ ôm cái bóng ru dòn
thân con nước cuộn, hồn còn quẩn quanh
xót đời, cha níu mái tranh
đã tan hoang vỡ, tanh banh cột kèo !
tội em, náu giữa quê nghèo
đời qua đếm tuổi trên điều rủi may
chưa về, buồn đã quắt quay
gặp em, nước mắt chắc đầy ngợp tim!
chỉ đành đốt lửa giùm em
xua tan đói lạnh qua đêm bão cuồng
ngủ đi em nhé, ngủ ngon
đừng kinh hãi mẹ ru dòn bóng con !
Cao Nguyên
Trời Hành Cơn Lụt Mỗi Năm
Ký ức tuổi thơ là một thung lũng xanh, mà nơi đó thời gian đã phủ lên
từng phiến đá, gốc cây một lớp sương mù lãng đãng. Dù thực tế có gai góc
đến đâu, nhưng khi nghĩ về kỷ niệm ấu thời, những người lớn - hiểu như
là khách trần gian đang lần bước đến tuổi già - khi nào cũng thấy “ngày
xưa đó” một cách rất êm đềm và dịu ngọt.
Phải
chăng vì thế mà suốt gần 40 năm, bốn mươi mà nhân cho mỗi năm ít nhất
nhỏ to là 5 trận lụt, thành ra có đến hơn 200 cơn lụt Huế đã qua trong
đời tôi một cách... tĩnh mà mê, xuôi tay theo “trời xanh quen thói...”
(!)
Từ những ngày bé xíu chân quê ở làng Liễu Hạ, hàng năm, tôi
cũng như lũ bạn xóm Côi, xóm Cụt, xóm Bàu chuẩn bị tinh thần “nghênh”
lụt một cách rất...thơ! Sáp nhỏ, hình như đứa nào cũng thuộc lòng hai
câu vè “tiên tri” cá lên trời ăn sao. Chú Đoài, gã hát lời tiên tri,
miệng thường ngậm điếu thuốc lá ngọn to gần bằng ngón chân cái, hút bập
bập vài phát, rồi dắt điếu thuốc thời Âu Cơ lên mang tai. Khi nói vè,
mắt chú nhắm nghiền như đang vân du về một trận đại hồng thủy xẩy ra đâu
đó - không rõ từ trong hoài niệm quá khứ hay mường tượng về một tương
lai:
(Úi cha) Sông Ngân Hà (mà) vịt lội có ngời,
(Chơ) Cá to, cá nhỏ lên trời (mà) đớp sao (á...a)
Có
nhiều đêm trăng mùa tháng tám, dưới ánh trăng đồng quê chảy tràn lan
trên rơm rạ mới, tôi nằm giữa chiếc nong to phơi lúa ngoài sân mà vẽ ra
một cảnh lụt tuyệt vời. Tôi mường tượng thấy đàn vịt đủ màu của chú
Xang, chú Hói bơi lội “có ngời” trên dòng sông trời đầy nước bạc lung
linh. Và bầy cá mở miệng tròn xoe đớp những vì sao mọng nước óng vàng.
Tôi không cần ưu tư tự hỏi mình sẽ ngồi ở đâu khi nước đã lút tới trời!
Tuổi thơ là thơ không tuổi, nên mơ mộng và thực tế thường quyện vào nhau
man man như mây trời và áo trắng.
Bão năm Thìn (1924), lụt Năm
Ba (1953), Thất thủ Kinh Đô năm Ất Dậu (1885)... là những biến cố khủng
khiếp nhất trong khái niệm về tai trời ách nước của người dân xứ Huế.
Tôi
“suýt thấy cá ăn sao” năm lên bảy tuổi với trận lụt Năm Ba. Trận lụt
được xem là lớn nhất trong lịch sử nước lũ mưa nguồn của Huế vào thời
đó. Mùa Đông năm Quý Tỵ. Không ai nhớ mưa đã mấy ngày. Cơn lụt nhỏ bình
thường đến và sắp đi ngoài ngõ cũng chẳng làm ai ngạc nhiên hay sợ hãi.
Một đêm, tôi nghe những tiếng vọng ì ầm như có tiếng gì chuyển động nặng
nề từ dưới lòng đất sâu dội lên. Mẹ tôi gọi đó là “sấm đất”; rồi mẹ
giải thích rằng, sấm đất xảy ra là trời đang... “đổi chủ”. Ông chủ trời
mới thường hay ra oai bằng cách sai thần sấm, thần sét gõ búa đùng đùng;
bắt quyết, đọc bùa làm mưa to gió lớn.
Tôi ngủ quên trong tiếng mưa lũ xé lá bên ngoài và chuyện huyền
thoại đất trời do mẹ kể - như miếng ớt cay giúp quên mùi mắm mặn - hay
sự an ủi để đủ sức chịu đựng của mẹ, của dân làng khi mỗi năm trời hành
cơn lụt (?). Nửa đêm thì có tiếng o Cúc la lên là nước lụt đã vô nhà.
Mưa từng cơn ào ào xối xả. Thức dậy, tôi dụi mắt ngồi co ro từ trên
giường nhìn xuống ánh đèn dầu chiếu nước đã lênh láng khắp nhà. Mưa càng
lớn, nước càng lên nhanh. Nước leo dần lên giường, lên ghế, lên bàn,
lên cái cối xay, và sáng ra thì nước đã mấp mé khung cửa sổ. Cái giường
tre mỏng manh mỗi lúc được kê lên cao dần. “Lẽ sống” của cả bốn người
trong gia đình tôi chất gọn trên chiếc giường. Thức ăn, áo quần, mền
chiếu, bếp núc đều dồn lên trên bốn cái chân tre ốm yếu lắc lư theo đà
chao động của nước. Đến gần trưa thì bốn vó tre già từ từ gục xuống. Thế
là xong, lẽ sống chìm sâu trong nước. Biên giới cuối cùng giữa sống và
chết, giữa ước mơ và thực tại, giữa bây giờ và vĩnh cửu là cái thang tre
run rẩy dưới sức bám của bốn người. Chỉ còn một nơi “cao cả” nhất trong
nhà là cái “tra” đựng lúa. “Tra” là cái thùng gỗ an toàn có khung bắt
dính với rầm thượng và mái nhà, nằm phía trước bàn thờ chính ngay gian
giữa. Đó là cái kho an toàn đựng lúa và nơi cất giữ đồ quý báu của phần
đông dân quê Việt Nam.
Trời lạnh, quần áo ướt đầm mà tôi vẫn
thấy mồ hôi nhỏ dòng trên trán mẹ với da mặt đổi từ xanh xao sang màu
xám khi mẹ tôi quyết định mở tra, đổ lúa xuống nước chừa chỗ cho chúng
tôi chui vào. Dòng lúa như dòng máu vàng đẫm mồ hôi và nước mắt của
tháng ngày làm ruộng chảy xuống nước tỏa bụi mù, tung nước bọt. Chưa bao
giờ tôi thấy mẹ tôi lặng lẽ như phút đó. Tôi ngạc nhiên thấy mẹ tôi lấy
hết mo cơm bới để dành trong góc tra từ hôm trước và ép mọi người, nhất
là tôi, “gắng ăn no cho có sức”. Đã hai ngày, mỗi bữa chỉ được ăn một
vắt cơm độn với sắn lát, nay bỗng dưng được ăn cơm trắng ấm bụng, tôi
nuốt không kịp nhai với nỗi khoái cảm tuyệt vời mà không chắc đời sẽ có
được hai lần. Trong xó tra với ánh sáng mờ mờ do nước bạc hắt lên từ khe
hở trên cùng còn sót lại của khung cửa sổ, tôi thấy mẹ tôi mở cái tráp
mây cũ kỹ lấy đôi bông tai bằng thòa thời cưới hỏi xa xưa của mẹ đeo
lên. Xong mẹ bò xuống thang, lần mò tới mở sợi dây dừa cột giàn xay lúa
một nửa chìm xuống nước. Mẹ leo lên tra trở lại với sợi dây dừa và cái
mác trong tay. Chị tôi phải ôm mẹ bồng lên tra vì mẹ bỗng run lẩy bẩy.
Mẹ tôi túm tay chúng tôi lại, giọng lạc đi: “Cột tay lại! Cột tay lại!
Chặt đòn tay trổ nóc. Chết chung...” Tiếng mẹ tôi yếu dần trong cơn xúc
động. Bảy tuổi nhưng tôi đủ hiểu mẹ tôi muốn gì. O Cúc là người cuối
cùng đưa bàn tay sũng nước, trắng dẻ và nứt nẻ từng mảng da vì dầm nước
quá lâu, vào vòng dây thòng lọng. Tôi ấp bàn tay lạnh lẽo, tím ngắt của
mẹ vào lồng ngực bé xíu, nhưng còn âm ấm dưới hai tầng áo ướt của tôi,
cùng lúc với tiếng reo vui của chị Thuyền như vừa khám phá ra điều gì
vừa đột biến: “Nước cầm chừng rồi mạ ơi!”
Bốn mươi sáu năm sau,
từ phút “nước cầm chừng” nên tôi còn sống sót đến hôm nay, điện thư đầu
tiên của Dũng lọt ra khỏi Huế, đến Mỹ vào lúc nửa đêm sau cơn lũ lụt cao
hơn trận lụt 1953 quá 1 mét: “Đoàn ơi! Nước đang rút dần nhưng vùng
thượng nguồn mây vẫn còn vần vũ đe dọa. Nghe tin một làng nào đó ở Bãng
Lãng bị nước cuốn sạch. Trưa nay trước bình phong Quốc Học có hơn hai
chục xác người bị nước cuốn tấp vào bờ sông Hương vừa được vớt lên. Có
cả gia đình mọi người tay còn buộc dính vào nhau”. Tôi run lên, mắt mờ
đi. Lặng người vì xúc động, tôi sờ lên cườm tay. Cảm giác sợi dây dừa
ướt quàng quanh cổ tay, phập phồng theo nhịp đập của những trái tim
thương yêu, ràng buộc, đợi chờ đã nửa thế kỷ qua rồi sao vẫn còn nguyên
vẹn. Mưa bên trời quê hương mà cơn lũ trong lòng tôi cũng dâng lên từ
phương nầy, cuống quýt. Tội lắm. Huế ơi!
Ngày 2-11-1999. Tin khẩn
cấp số 1: “Lũ và lụt ào tới Huế từ lúc 4 giờ sáng ngày hôm nay. Lúc 9
giờ sáng, nước vào cầu Kho Rèn 40 cm. Trưa, ngập vào sân Mô-Ranh. Chiều,
tất cả các phương tiện hữu tuyến và vô tuyến đều bị ngập. Điện thoại
cầm tay cũng không liên lạc được. Đài truyền thanh và truyền hình Huế
ngưng phát sóng. Lúc 11 giờ đêm, mực nước sông Hương cao 5 mét 20. Cả
thành phố Huế chìm trong biển nước. Báo chí bình luận: Thừa Thiên Huế
đang trong cơn đại hồng thủy!”
Tôi sững sờ nhận tin “e-mail” từ
anh Hồ Đắc Duy ở Sài Gòn và tức tốc chuyển tin cho bạn bè, anh em, người
thân Việt Nam, nhất là các “Huế kiều”, rải rác khắp các nước trên thế
giới. Tôi thức trắng đêm chờ tin khẩn cấp số 2, số 3, số... từ quê nhà
truyền đi từng 2 giờ một.
Sáng hôm sau, và hôm sau nữa, Huế vẫn
như một thành phố từ cõi âm: Lặng lẽ và im lìm. Cho đến khi nước lũ, mưa
nguồn kéo nhau về biển, sau khi đã biến Huế thành một bãi tang thương
với 321 người chết trong tổng số 527 người chết và mất tích trên toàn
miền Trung, tôi vẫn còn hướng về quê hương. Cầu nguyện.
Đúng hai
tuần sau ngày khởi đầu cơn lũ lụt miền Trung, từ giữa lòng xứ Huế,
chưởng môn võ đường Bạch Mã lại viết cho tôi: “Trời Huế nắng ráo, đẹp -
như (trời) chưa bao giờ tàn ác với Huế như vậy... Trận lũ lụt đã cuốn
phăng đi bao mạng sống của con người, cuốn phăng đi bao tài sản, bao
công trình; nhưng nó cũng đã cuốn phăng đi những hận thù ngăn cách; để
lộ ra một tấm lòng chung, “máu chảy ruột mềm”. Nhìn thực tế trước mắt,
và nhìn thực tế “một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ” đang diễn ra khắp
nơi, hướng về sự đau khổ của miền Trung, nhiều lần mình đã khóc Đoàn ạ.
Khóc, một phần vì nỗi thương tâm, một phần vì trong hoạn nạn mà con
người sống với nhau đẹp quá. Tất cả đều chung một lòng, yêu thương, chia
sẻ, một cách tự nhiên, hồn hậu. Nếu người Việt Nam mình có một cái chi
đó đẹp đẽ, thu hút, chắc là vì mình đã được tôi rèn trong hoạn nạn, đau
thương chăng?”
Vốn đã quen với nước lũ mưa nguồn từ trong máu
thịt, người Việt khắp nơi trên thế giới đã thức cùng với anh em, bạn bè,
và đồng bào ruột thịt qua những ngày đêm lũ lụt ở quê nhà. Hầu như mọi
người Việt xa nhà đã nồng nàn chia sẻ trước sự mất mát của bà con không
may từ những ngày đầu lũ lụt với mối thâm tình “lá lành đùm lá rách”.
Tôi bỗng thấy con người tứ xứ gần nhau hơn và thế giới xa lạ nầy thu nhỏ
lại khi ghi danh cho những sinh viên trường Cosumnes River College -
những người trẻ tứ xứ mà Việt Nam chỉ mới là một tên gọi mơ hồ trong ý
niệm - tình nguyện vào đoàn cứu trợ. Tseng, Kim, Kumagai, Karen, Nicole,
Bradley, Thanat, Hồng, Tuyết, Dũng... những sinh viên “liên hiệp quốc”
của tôi, đang nối kết với nhau bằng một chất keo rất dễ bị lãng quên -
tuy lúc nào cũng có: Tình Người.
Nhiều nhà lý thuyết thời danh
tiên đoán rằng, với sự phát triển tột bực của khoa học và kỹ thuật, hận
thù sẽ vơi đi và tình thương sẽ trở lại, vì con người cách nhau vạn dặm
có điều kiện tương giao và chia sẻ nên ít hiểu lầm nhau hơn. Nhờ vậy,
rồi đây thế giới loài người sẽ xích lại gần nhau thành một “Làng địa
cầu”. Sau cơn lũ lụt miền Trung, tôi mường tượng thấy một “xóm Việt Nam”
đượm tình người thấp thoáng đâu đó, trong ngôi làng kia, trên đường
sang thế kỷ.
Trần Kim Đoàn
(249/11-09)
Nguồn: http://tapchisonghuong.com.vn/tap-chi/c187/n3896/Troi-hanh-con-lut-moi-nam.html
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)