Chủ Nhật, 29 tháng 5, 2011

Miền Nam yêu dấu







(Địa lý Nam Việt: 6 tỉnh miền Đông với thành phố Sài Gòn & 12 tỉnh miền Tây và thành phố Cần Thơ)


Ngày xưa Lục Tỉnh miền Nam (1)
Bây giờ mười tám tỉnh thành … nhớ nhung! (2)
Ai về sáu tỉnh miền Đông
Cho ta nhắn gửi tình nồng chẳng phai…

Bình Dương, Bà Rịa, Đồng Nai
Tây Ninh, Bình Phước dạ này sắt son!
Sài Gòn, hòn ngọc Viễn Đông
Thủ Đô một thuở, chờ trông ngày về…(3)

Miền Tây vẫn nặng lời thề
Đồng bằng - sông rạch bốn bề - Cửu Long (4)
Chín con rồng - chín cửa sông
Vượt biên ngày ấy nghe lòng xốn xang!

Bến Tre, Đồng Tháp, Long An
Mê Kông hai nhánh, (Hậu) Tiền Giang vơi đầy (5)
Sáu cửa biển ở nơi này:
Hàm Luông, Tiểu, Đại, Chiên, Lai, Cung Hầu.(6)

An Giang xuôi tới Cà Mau
Cần Thơ, Rạch Giá (7) qua cầu: Vĩnh Long
Trà Vinh dòng cuối Hậu Giang (8)
Cửa sông Ba Thắc, Định An, Tranh Đề.

Bạc Liêu đến - Sóc Trăng đi
Nơi đây bãi biển tóc thề trăng soi
Cho ta nhớ mãi một đời
Miền Tây - mùa nước nổi trôi… như người! (9)

Vương Sinh
(Tháng 5/2011)

Chú thích:

(1) Nam Kỳ Lục Tỉnh là 6 tỉnh miền Nam thời vua Minh Mạng (1820-1840), đặt ra vào
năm 1834, gồm ba tỉnh miền Đông là Gia Định (mới đầu tên là Phiên An, với tỉnh thành
Sài Gòn), Biên Hòa và Định Tường (tỉnh thành Mỹ Tho). Ba tỉnh miền Đông bị Pháp
chiếm năm 1862 (hòa ưóc Nhâm Tuất 1862) thời vua Tự Đức (1848-1883).
Ba tỉnh miền Tây là Vĩnh Long, An Giang (tỉnh thành Châu Đốc) và Hà Tiên bị Pháp
chiếm năm 1867, cụ Phan Thanh Giản tử tiết.

(2) Ngày nay, miền Nam được chia thành 18 tỉnh, gồm có:
- 6 tỉnh miền Đông là: Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh, Bà Rịa-Vũng
Tàu và thành Phố Sài Gòn.
- 12 tỉnh miền Tây (đồng bằng sông Cửu Long) là: Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang,
Bến Tre, An Giang, Hậu Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc
Liêu, Cà Mau và thành phố Cần Thơ.

(3) Sài Gòn là thủ đô của Việt Nam Cộng Hòa. Trước 1975, Sài Gòn phát triển phồn
thịnh, không thua gì những thành phố lớn ở Đông Nam Á và được mệnh danh là “hòn
ngọc Viẽn Đông”.

(4) Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều kinh rạch chằng chịt và được bồi đắp phù sa
bởi 2 nhánh sông Mê Kông, chảy ra biển bằng 9 cửa, trông như 9 con rồng vùng vẫy,
nên gọi là Cửu Long.

(5) Sông Mê Kông là một trong 12 con sông lớn nhất thế giới, bắt nguồn từ Tây Tạng,
chảy qua Vân Nam (Lan Thương Giang), Miến Điện (còn gọi là Diến Điện, Myanma), Thái
Lan, Lào, Cao Miên (Nam Vang), rồi chia ra 2 nhánh, chảy vào miển Tây Nam Việt Nam
là sông Tiền (Tiền Giang – Mê Kông) và sông Hậu (Hậu Giang – Bassac), mỗi sông dài
220-250 km, lưu lượng từ 6000 m3/1sec (mùa khô) đến 120,000 m3/1sec (mùa mưa).

(6) Sông Tiền có lòng sông rộng, nhiều cù lao ở giũa dòng, chảy qua Tân Châu (An
Giang), Hồng Ngự và Cao Lãnh (Đồng Tháp) đến Cai Lậy (Tiền Giang) chia làm 4 sông
chảy ra biển Đông bằng 6 cửa. Bốn sông và 6 cửa biển là:
- Sông Mỹ Tho qua tỉnh Tiền Giang (Định Tường, Mỹ Tho) chảy ra biển bằng 2 cửa Đại
và cửa Tiểu.
– Sông Hàm Luông chảy qua phía nam tỉnh Bến Tre, ra cửa Hàm Luông.
- Sông Cổ Chiên ranh giới Bến Tre và Trà vinh (Vĩnh Bình), ra biển bằng 2 cửa Cổ Chiên
và Cung Hầu.
- Sông Ba Lai chảy qua phía bắc tỉnh Bến Tre (Kiến Hòa), ra cửa Ba Lai

(7) Rạch Giá là thị trấn của tỉnh Kiên Giang.

(8) Hậu Giang (sông Hậu) chảy qua Châu Đốc, Long Xuyên (An Giang), thành phố Cần
Thơ, Sóc Trăng và ra biển bằng 3 cửa Định An, Ba Thắc (đã bị đất bồi lấp năm 1970) và
Tranh Đề.

(9) Mùa nước nổi ờ vùng đồng bằng sông Cửu Long do nước sông Cửu Long dâng
cao và do mưa lũ từ tháng 5 đến tháng 11 (mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4). Nước lênh
đênh nổi trôi như số mệnh con người!

Tham Khảo:
http://namkyluctinh.org/a-thumuc/lvbe-thumucNKLT[1].pdf

Thứ Sáu, 27 tháng 5, 2011

Memorial Day




Memorial Day

"Lễ Chiến Sĩ Trận Vong hay Ngày Chiến Sĩ Trận Vong (Memorial Day) là một ngày Lễ Liên Bang (Federal Holiday) tại Hoa Kỳ - vào ngày Thứ Hai cuối cùng trong tháng 5 hằng năm. Trước kia với tên gọi là Decoration Day, ngày lễ này tưởng niệm những quân nhân Hoa Kỳ đã tử nạn trong lúc phục vụ.
Ngày lễ đầu tiên tưởng niệm những quân nhân cả hai miền Bắc (Union) và Nam (Confederate) đã tử nạn trong Nội Chiến Hoa Kỳ (American Civil War). Sau Thế Chiến Thứ Nhất (World War I), ngày lễ này bắt đầu được mở rộng để tưởng niệm các binh sĩ bị tử nạn trong các cuộc chiến khác.
Từ năm 1971, Lễ Chiến Sĩ Trận Vong chính thức trở thành ngày Lễ Liên Bang ở Hoa Kỳ. Vào ngày này, người Mỹ đi viếng thăm các nghĩa trang và các đài tưởng niệm; lá cờ Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ được để rũ cho đến trưa theo giờ địa phương.
Người Mỹ xem mùa Hè bắt đầu từ Ngày Chiến Sĩ Trận Vong cho đến hết Ngày Lễ Lao Động (Labor Day) vào đầu tháng 9" (Theo Wikipedia)

Xem chương trình: MEMORIAL DAY

Thứ Sáu, 20 tháng 5, 2011

Memorial Day




cuối tháng năm, nghĩa trang buồn tiếng gió
vườn mộ Người hoa nở đỏ trong tim
những tiếng khóc lặng yên vừa trở giấc
nghe thân thương theo mạch đất rong tìm

tìm Người đến nơi cõi về vĩnh viễn
khoát tay chào trận tuyến phía sau lưng
giữa ánh nến chập chùng đêm đưa tiễn
hoa trao Người từng cánh lệ rưng rưng!

Memorial Day - nhớ Người, ta về phố
thành phố bình yên hoa nở bốn mùa
trời cuối tháng năm, đất buồn nhịp thở
vi vu thầm câu chuyện chiến trường xưa

nghe rõ cả những ước mơ rơi vỡ
trong những trái tim ngóng đợi giao mùa
mùa của lúa xanh mọc trên lửa đỏ
mùa của sen hồng ngát giữa hố bom

mỗi giao mùa, tim quặn nghìn tiếng nấc
chiến tranh đau và nhức nhối hòa bình
Người ở giữa thành phố này rất thật
một đời đi tất bật đến vô thường!

Cao Nguyên

Thứ Ba, 17 tháng 5, 2011

Con đường thiên lý Bắc Nam






Quốc Lộ 1A: Con đường thiên lý Bắc Nam
Quốc lộ 1A (QL1A) là đường bộ chạy dài theo chiều dọc nước Việt Nam từ miền Bắc ở
điểm xuất phát là cây số 0 (Ải Nam Quan) thuộc tỉnh Lạng Sơn tới miền Nam tại cây số
2,301.340 (Năm Căn) thuộc tỉnh Cà Mau.

QL1A xưa là con đường thiên lý Bắc Nam, hay con đường cái quan, đường xuyên Việt,
đường số 1…được xây dựng qua nhiều thời kỳ khác nhau. (19).

Quốc Lộ 1A dài 2,301.340 km, đi qua tổng cộng 32 tỉnh và thành phố, vượt 5 ngọn đèo
hiểm trở (Đèo Tam Điệp, đèo Ngang, đèo Hải Vân, đèo Cù Mông và đèo Cả) và băng qua
khoảng 874 cây cầu lớn nhỏ. (nguồn Wikipedia).
Những tỉnh và thành phố trên QL1A là:

- Ải Nam Quan (Cửa khẩu Hữu Nghị Quan): Km 0.
1- Lạng Sơn (km 16)
2- Bắc Giang (km 119)
3- Bắc Ninh (km 139)
4- Hà Nội (km 170)
5- Phủ Lý (km 229, tỉnh Hà Nam)
6- Ninh Bình (km 263)
--------------------------------------------- đèo Tam Điệp
7- Thanh Hóa (km 323)
8- Vinh (km 461, tỉnh Nghệ An)
9- Hà Tĩnh (km 510)
-------------------------------------------- đèo Ngang
10- Đồng Hới (km 658, tỉnh Quảng Bình)
11- Đông Hà (km 750, tỉnh Quảng Trị)
12- Huế (km 824, tỉnh Thừa Thiên-Huế)
-------------------------------------------… đèo Hải Vân
13- Đà Nẵng (km 929)
14- Tam Kỳ (km 991, tỉnh Quảng Nam)
15- Quảng Ngãi (km 1,,054)
16- Quy Nhơn (km 1,232, tỉnh Bình Định)
--------------------------------------------- đèo Cù Mông
17- Tuy Hòa (km 1,329, tỉnh Phú Yên)
-------------------------------------------- đèo Cả
18- Nha Trang (km 1,450, tỉnh Khánh Hoà)
19- Phan Rang-Tháp Chàm (km 1,528, tỉnh Ninh Thuận)
20- Phan Thiết (km 1,701, tỉnh Bình Thuận)
- Xuân Lộc (km 1,867, tỉnh Đồng Nai)
21- Long Khánh (km 1,867, tỉnh Đồng Nai)
- Thống Nhất (km 1,867, tỉnh Đồng Nai)
- Trảng Bom (km 1,867, tỉnh Đồng Nai)
22- Biên Hòa (km 1,867, tỉnh Đồng Nai)
23- Bình Dương (km 1,879)
24- Sài Gòn (km 1,889)
25- Tân An (km 1,936, tỉnh Long An)
26- Mỹ Tho (km 1,959, tỉnh Tiền Giang)
27- Vĩnh Long (km 2,029)
28- Thành phố Cần Thơ (km 2068)
29- Hậu Giang
30- Sóc Trăng (km 2,119 tỉnh Sóc Trăng)
31- Bạc Liêu (km 2,176)
32- Cà Mau (km 2,236)
- Năm Căn thuộc Cà Mau (Km 2301- điểm cuối). (Nguồn: Wikipedia)

Ngoài QL1A còn :
- QL1B là đường rẽ từ QL1A tại thị trấn Đồng Đăng đến thành phố Thái Nguyên, dài 148.5
km.

- QL1C nối thành phố Nha Trang với QL1A (dài 17.3 km) từ đèo Rù Rì ở Diên Khánh –
Khánh Hòa đến ngã ba Thành – Nha Trang).

- QL1D mới làm (2001) là đường đi tránh đèo Cù Mông để vào thành phố Quy Nhơn, dài 35
km.

- QL1K nối liền quận Thủ Đức, Sài Gòn, qua huyện Dĩ An, Bình Dương, đến thành phố Biên
Hoà, tỉnh Đồng Nai. QL1K khởi đầu tại ngã tư Linh Xuân, giao với quốc lộ 1A, qua cầu Hóa
An (sông Đồng Nai) vào Biên Hòa và chấm dứt tại ngã ba Hố Nai (giao với quốc lộ 1A).

- Xa Lộ Biên Hòa nối liền Thành phố Sài Gòn và Biên Hoà (Đồng Nai), nay đổi tên là Xa Lộ
Hà Nội (1984), dài 31 km, rộng 21 m, xây năm 1959 , hoàn tât 1961, bắt đầu từ cầu Phan
Thanh Giản (nay là Điện Biên Phủ), kết thúc tại ngã tư Tam Hiệp, Biên Hòa.
- Xa lộ Đại Hàn là đoạn QL1A từ ngã ba Thủ Đức đến ngã ba An Lạc, quận Bình Tân, qua
địa phận Sài Gòn và tỉnh Bình Dương, dài 43.1 km.

Song Thuận

Xem Thêm:
Quốc Lộ 1>

Thứ Sáu, 13 tháng 5, 2011

. Mẹ Là Quê Hương


" Phúc cho ai còn Mẹ bên đời. Và cũng phúc cho ai còn tưởng nhớ đến Mẹ dẫu xa cách nghìn trùng, dẫu biệt ly đành đoạn.
Con muốn hóa thân thành một đóa hồng, cài lên ngực nơi trái tim của Mẹ. Để tạ ơn Mẹ! Mẹ ơi!
Lời ru ngày xưa của Mẹ quyện vào tiếng hát của con hôm nay mãi mãi là một tâm khúc tuyệt vời, đẹp như những cánh hồng tươi thắm lóng lánh những hạt lệ yêu thương! "

Mời nghe chuong trình nhạc "Mẹ Là Quê Hương" do anh chị em nghệ sĩ Miền Tao Ngộ thực hiện:
Bấm vào Link > Mẹ Là Quê Hương

Thứ Ba, 10 tháng 5, 2011

Đọc Lại Truyện Kiều

ĐỌC LẠI TRUYỆN KIỀU
ĐỂ YÊU THÊM TIẾNG VIỆT


Đàm Trung Pháp

Thi hào Nguyễn Du ra đời trong hậu bán thế kỷ 18. Tôi thường tự hỏi có phải trong thời điểm ấy Thượng Đế đã "nổi hứng" rộng lượng và công bình mà ban cho nhân loại những thiên tài văn chương xuất chúng chăng? Như Goethe sinh năm 1749 tại Đức Quốc, Nguyễn Du sinh năm 1765 tại đất nước chúng ta, Chateaubriand sinh năm 1768 tại Pháp Quốc, và Wordsworth sinh năm 1770 tại Anh Quốc. Goethe, đệ nhất văn hào dân tộc Đức, năm mới 25 tuổi đã viết cuốn truyện tình bi đát mang tên DIE LEIDEN DES JUNGEN WERTHERS (Những nỗi ưu sầu của chàng trai trẻ Werther) để nói về mối ưu sầu thực sự của chính ông: Goethe đã gặp và yêu say đắm trong tuyệt vọng một phụ nữ đã đính hôn với người khác. Câu chuyện lãng mạn và bi thảm ấy khiến ông lẫy lừng danh tiếng khắp Âu Châu và cũng làm cho một vài giai nhân đa sầu đa cảm đang thất tình giống người trong truyện nhảy xuống hồ tự tử mà trong tay còn nắm chặt cuốn tiểu thuyết kia! Chateaubriand có thể được coi là nhà văn tiên khởi của trào lưu văn chương lãng mạn nước Pháp qua cuốn tiểu thuyết ATALA, một câu chuyện vừa buồn vừa mãnh liệt đam mê trong khung cảnh thiên nhiên rực rỡ của rừng núi Bắc Mỹ, một nơi mà Chateaubriand chưa từng thăm viếng và chỉ được làm quen với các sắc dân da đỏ qua sách vở. Và Wordsworth, đệ nhất thi nhân bên trời Anh Quốc, năm chưa đến 30 tuổi đã cùng Coleridge xuất bản tập thơ LYRICAL BALLADS, mở đầu cho thời đại thi ca lãng mạn trong văn học quốc gia ấy. Wordsworth say mê thiên nhiên và có biệt tài dùng ngôn ngữ bình dị dễ hiểu để diễn tả những cảm xúc tràn bờ trước vẻ đẹp của rừng, của núi, của giai nhân. Tôi nhớ mãi những câu thơ sau đây của Wordsworth để tả một kiều nữ bí mật sống giữa thiên nhiên mang tên Lucy mà thi nhân ví như một bông hoa đổng thảo:
A violet by a mossy stone
Half-hidden from the eye
Fair as a star, when only one
Is shining in the sky

Thế còn Nguyễn Du của chúng ta thì sao? Hãy nghe lời người ngoại quốc ca ngợi thi hào họ Nguyễn trước đã. Thi sĩ lẫy lừng người Ấn Độ chuyên làm thơ bằng tiếng Anh mang tên Rabindranath Tagore (giải Nobel văn chương 1913) khi viếng thăm Việt Nam năm 1929 đã coi Nguyễn Du là vị thi sĩ đứng thứ 3 trong hàng ngũ những thi sĩ muôn thuở, chỉ sau Lý Bạch và Victor Hugo (theo học giả Thái Văn Kiểm). Văn sĩ Pháp René Crayssac đã dịch Truyện Kiều sang tiếng Pháp và cho rằng áng văn kiệt tác của Nguyễn Du có thể so sánh mà không sợ kém các văn chương kiệt tác, vô luận ở thời nào và ở xứ nào (theo học giả Đào Duy Anh). Như vậy thì thiên tài thi ca họ Nguyễn của chúng ta khi đứng cạnh những đại danh văn chương của nhân loại cũng ngang ngửa với họ, cũng đều "mười phân vẹn mười" cả, nhưng riêng đối với tôi thì đọc thơ Nguyễn Du thích thú gấp bội phần đọc các tác phẩm của các vị "ngoại quốc" kia, vì tôi là người cùng một ngôn ngữ và văn hóa với Nguyễn Du.

Nguyễn Du (ND) sinh năm 1765 trong một danh gia vọng tộc. Cha là Hoàng Giáp Nguyễn Nghiễm, người Hà Tĩnh, làm Thủ Tướng triều Lê. Mẹ là Trần Thị Tần, người Bắc Ninh, kém chồng 32 tuổi. ND mồ côi cha năm 11 tuổi và mồ côi mẹ năm 13 tuổi. Anh cả là Tiến Sĩ Nguyễn Khản, Thượng Thư bộ Lại, anh thứ hai là Nguyễn Điều từng làm Trấn Thủ Sơn Tây. Năm 1783, lúc 18 tuổi, ND đậu Tam Trường (Tú Tài); cùng năm này, một người anh tên là Nguyễn Đề đậu thủ khoa kỳ thi Hương (Cử Nhân). Tình hình chính trị lúc ấy thực bất ổn. Năm 1788 Lê Chiêu Thống cầu viện nhà Thanh; Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế ở Huế. Năm 1789 Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh. Năm 1802 Gia Long diệt Tây Sơn, bắt đầu triều Nguyễn; ND làm tri huyện Phù Dung (thuộc Hưng Yên ngày nay), mấy tháng sau thăng tri phủ Thường Tín (thuộc Hà Tây ngày nay). Năm 1809 ND làm cai bạ ở Quảng Bình. Năm 1813 ND thăng cần chánh điện học sĩ, chánh sứ sang nhà Thanh. Năm sau đi sứ về, thăng tham tri bộ Lễ. Năm 1820 Gia Long mất, Minh Mệnh nối ngôi. ND được cử chánh sứ sang Tàu báo tang và cầu phong, nhưng chưa kịp lên đường thì bị bệnh và qua đời, thọ 56 tuổi.

Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa biết rõ là khi nào ND viết Truyện Kiều (Đoạn Trường Tân Thanh) trước hay sau khi đi sứ sang Trung Quốc năm 1813. Theo Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim thì Truyện Kiều (TK) bắt nguồn từ một tiểu thuyết Tàu của tác giả Thanh Tâm Tài Nhân, văn chương tầm thường, về một người đàn bà tài sắc, có lòng trung, hiếu, tiết nghĩa, mà đời bị bèo giạt hoa trôi. ND bỏ bớt những chỗ rườm rà, thô lỗ, dơ bẩn. So với tiểu thuyết Tàu thì TK của ND thanh nhã và văn vẻ hơn nhiều. Hà Như Chi, khi so sánh TK với tiểu thuyết Tàu nguyên thủy, nhận định TK là một công trình nghệ thuật cân đối hoàn hảo, kết cấu chặt chẽ, tình ý đậm đà khéo léo, văn chương tươi đẹp, thắm đượm màu sắc Việt Nam và dẫy đầy thi vị.

Vẫn theo Hà Như Chi, một nàng Kiều tài hoa duyên dáng như thế lại là nạn nhân của một số mệnh vô cùng khắt khe đã đánh mạnh vào tâm hồn ND và thúc giục cụ viết nên TK để hả hê những mối cảm tình đối với một người đã được cụ xem như đồng hội đồng thuyền với mình: ND phải quên nhà Lê mà ra làm quan với nhà Nguyễn thì có khác chi, vì chữ "mệnh" oái oăm, nàng Kiều phải bỏ Kim Trọng mà chịu bước giang hồ? Đúng là:
Vui là vui gượng kẻo là,
Ai tri âm đó mặn mà với ai?

Nội dung TK gồm 3254 câu thơ lục-bát có thể chia làm 3 phần: (1) Thúy Kiều và Kim Trọng gặp gỡ và gắn bó với nhau; (2) Những nỗi khổ của Thúy Kiều trên bước đường luân lạc; và (3) Kim-Kiều tái ngộ. TK còn là một tác phẩm chứng minh cho định luật "tài mệnh tương đố": Kiều là kẻ tài hoa nên phải mệnh bạc. Trong phần kết, may thay, ND cũng cho chúng ta tin tưởng rằng thiện tâm có thể cải hóa được số mệnh:
Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài

Những phân đoạn chính trong TK như sau: Phần (1): (a) Xác định thuyết tài mệnh tương đố , (b) Kiều gặp Kim Trọng, (c) Kiều và Kim Trọng thề thốt gắn bó. Phần (2): (a) Gia biến nàng Kiều, (b) Mã Giám Sinh mua Kiều, (c) Kiều phó thác tâm sự cho em, (d) Mắc tay Tú Bà, (e) Đi trốn với Sở Khanh, (f) Kiều tiếp khách trong lầu xanh, (g) Kiều được Thúc Sinh chuộc ra, (h) Mắc tay Hoạn Thư, (i) Đi trốn, (j) Giác Duyên sợ liên lụy, gửi Kiều cho Bạc Bà, (k) Bạc Bà lừa dối, Kiều lại bị bán vào lầu xanh, (l) Được Từ Hải chuộc ra, (m) Kiều báo ân báo oán, (n) Mắc mưu Hồ Tôn Hiến, Từ Hải bị giết, (o) Kiều nhảy xuống sông Tiền Đường, (p) Giác Duyên vớt Kiều. Phần (3): (a) Kim Trọng trở lại vườn Thúy, (b) Lấy Thúy Vân, (c) Làm quan ở Lâm Tri , (d) Tìm Kiều ở Hàng Châu, (e) Giác Duyên đưa đến gặp Kiều, (f) Kim-Kiều xem nhau như bạn, (g) Kiều đánh đàn kết liễu đời bạc mệnh, (h) Kết thúc: Thiện tâm sửa được số mệnh.

Chúng ta đã nghe người ngoại quốc ca tụng TK trên đây, và bây giờ chúng ta tìm hiểu xem các nhà phê bình văn chương người Việt nghĩ gì về tuyệt tác phẩm này của Nguyễn Du. Tôi xin đóng góp trong phần này này bằng cách tóm lược một số nhận định về giá trị TK của các nhà phê bình tên tuổi từ trước đến nay để chúng ta có một cái nhìn bao quát.

PHẠM QUỲNH: Sau khi cho rằng TK của ND hay hơn cả văn chương của Khuất Nguyên bên Tàu và văn chương của Racine và Bossuet bên Tây, Phạm Quỳnh trong ngày giỗ ND năm 1924 tại Hà Nội đã thề trước anh linh thi hào họ Nguyễn rằng "Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn, còn non còn nước còn dài, chúng tôi là kẻ hậu sinh xin dầu lòng dốc chí cố gia công trau chuốt lấy tiếng quốc âm nhà, cho quốc hoa ngày một rực rỡ, quốc hồn ngày một tỉnh táo, quốc vận ngày một vẻ vang, ngõ hầu khỏi phụ cái chí hoài bão của tiên sinh, ngậm cười chín suối cũng còn thơm lây" (Tạp chí Nam Phong, tháng 8, 1924). Vì những lời này mà Phạm Quỳnh bị hai cụ nghè Ngô Đức Kế và Huỳnh Thúc Kháng xỉ vả thậm tệ (tôi sẽ nói tiếp về vụ này ở một đoạn sau).

NGUYỄN TƯỜNG TAM: Nhà văn thủ lãnh của Tự Lực Văn Đoàn viết trong Tạp chí Nam Phong năm 1924: "Cái làn sóng thơ Kiều hình như lai láng khắp cõi Nam. Trừ những câu ca dao ra, thật không có quyển truyện nào phổ thông trong đám dân gian bằng Truyện Kiều. Vì văn Kiều hay quá, nên những người nhà quê không có học thức cũng thích xem và thích ngâm nga. Nhưng nói đến cái hay của văn Kiều thì chưa biết thế nào mà kể được... Tôi xin nói quyết một lời rằng MONG ĐƯỢC MỘT QUYỂN TRUYỆN NÀO HAY HƠN TRUYỆN KIỀU LÀ MỘNG TƯỞNG. Cái trình độ thơ quốc ngữ đến như thế là tuyệt đích rồi." Nhận định về câu thơ thuộc loại "văn hữu dư ba" là câu "Lơ thơ tơ liễu buông mành," Nguyễn Tường Tam thấy ba chữ "lơ thơ tơ" nghe rất êm tai, hay về phần tưởng tượng ít mà hay về phần âm điệu êm ái nhiều hơn. Và câu "Nách tường bông liễu bay ngang trước mành" ông thấy rất hay về cảnh sắc. Ông cũng thấy trong TK nhiều chỗ cảnh và người có liên lạc, đúng như:
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ

Như lúc Thúc Sinh trở về với Kiều, trông ra cảnh vật cũng hình như chia vui với mình:
Long lanh đáy nước in trời
Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng

Và khi Kiều và Kim gặp nhau lần đầu, lúc từ giã, cô Kiều còn trông theo, nhưng nào thấy gì đâu, chỉ thấy:
Dưới cầu nước chảy trong veo
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha

Hai câu đệm ấy vào thật là tả rõ được cái buồn, cái nhớ của cô Kiều mà hình như cảnh vật cũng âu sầu!

VŨ ĐÌNH LONG: Lấy âm nhạc làm ẩn dụ để lượng giá TK, phê bình gia Vũ Đình Long viết trong Tạp chí Nam Phong năm 1924 rằng "TK thực là một cây đàn tuyệt quý không phím không dây. Tác giả lấy đầu lưỡi mà nẩy lên tiếng, mỗi đoạn văn là một cung, mỗi câu văn là một điệu, mỗi chữ là một tay nỉ non thánh thót, réo rắt tiêu tao, đêm khuya canh tĩnh mà nghe người tốt giọng ngâm Kiều thì còn đàn nào hay bằng nữa ... Cụ ND không phải là nhà thi sĩ, cụ chính là THẦN THƠ vậy!" Theo Vũ Đình Long, những câu Kiều nói với chàng Kim thật hay thật tình, như :
Thưa rằng đừng lấy làm chơi
Rẽ cho thưa hết một lời đã nao

Chữ "rẽ" dùng có thần tình không? Ta thấy hình như nàng Kiều lấy tay gạt chàng Kim ra vậy! Năm lần láy chữ "còn" trong hai câu thơ sau đây là một tuyệt chiêu, như thể một lời thề nguyền vĩnh cửu:
Còn non, còn nước, còn dài
Còn về còn nhớ đến người hôm nay

Tình nhân tương tư nhau là những cảnh não nùng mà ND tả rất khéo. Chàng Kim nỗi lòng canh cánh luôn nghĩ đến người đẹp đã gặp trong ngày hội Đạp Thanh:
Sầu đong càng lắc càng đầy
Ba thu dọn lại một ngày dài ghê!

Đêm không ngủ được, vẩn vơ ngọn đèn tàn:
Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao
Mặt mơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng

Cậu đồ đã mang nặng gánh tương tư thì còn thiết gì đến sách, đến bút, đến đàn:
Phòng văn hơi giá như đồng
Trúc xe ngọn thỏ, tơ chùng phím loan

Ngồi nghe tiếng gió đập vào mành cũng nhớ đến ai ; vì nhớ nhung mà trà mất ngon, mùi hương kém ngát:
Mành tương phân phất gió đàn
Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình

LƯU TRỌNG LƯ: Để "đáp lễ" lời cụ nghè Ngô Đức Kế cho rằng TK "chỉ là một thứ văn chương ngâm vịnh chơi bời, để lúc thanh nhàn mà đọc đôi câu cho tiêu khiển, chứ không phải là một thứ văn chương chính đại theo đường chính học, mà đem ra dạy đời được đâu" (báo Hữu Thanh, tháng 9 năm 1924) và nhất là lời kết tội gay gắt của cụ nghè Huỳnh Thúc Kháng rằng "Truyện Kiều là một thứ dâm thư, rõ không ích mà có hại ... Hiện xã hội ta ngày nay mà diễn ra những tuồng thương phong, bại tục kia, cái giống độc con đĩ Kiều gieo vào trong cõi tư tưởng không phải là ít..." (báo Tiếng Dân, tháng 9 năm 1930), Lưu Trọng Lư viết trong tuần báo Phụ Nữ Thời Đàm vào cuối năm 1933: "Ai muốn làm thánh hiền thì đi đọc Ngũ Kinh, Tứ Thư. Hãy để Truyện Kiều lại cho bọn chúng tôi là hạng người trong những phút mệt nhọc, buồn rầu, chán nản, cần phải ngâm nga những câu như:
Dưới cầu nước chảy trong veo
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha"

ĐÀO DUY ANH: Để kết luận tập "Khảo Luận về Kim Vân Kiều" xuất bản năm 1943, học giả Đào Duy Anh khẳng định: "Nguyễn Du đã gieo trong lòng ta một mối tin chắc chắn, một mối hy vọng dồi dào với tiếng nói của ta." Cũng theo ông, ở thời Lê mạt, ta đã thấy có những tác phẩm có giá trị như Cung Oán Ngâm Khúc, Chinh Phụ Ngâm, Phan Trần Truyện, Hoa Tiên Ký ... viết bằng quốc âm, nhưng lời văn điêu trác, hay dùng điển cố, cho nên chỉ được các hạng thượng lưu trí thức thưởng lãm, mà không phổ cập trong dân gian. Duy Truyện Kiều văn chương đủ tính nghiêm trang, đường hoàng, điêu luyện, đủ khiến cho kẻ học thức phải khâm phục và yêu mến, mà lại đủ cả tính giản dị, phổ thông để khiến cho bình dân hiểu được mà thưởng thức.

TRẦN TRỌNG KIM: Trong cuốn "Truyện Thúy Kiều" do Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu khảo xuất bản năm 1925, học giả Trần Trọng Kim viết: "ND khéo dùng lối hoạt họa, chọn cái hình dáng nào rõ thật nổi, rồi tìm một vài chữ thật đúng mà tả ra, hễ đọc qua là nhận ngay được chân tướng:

Kim Trọng:
Phong tư tài mạo tuyệt vời
Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa

Mã Giám Sinh:
Quá niên trạc ngoại tứ tuần
Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao

Tú Bà:
Thoắt trông nhờn nhợt màu da
Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao

Sở Khanh:
Một chàng vừa trạc thanh xuân
Hình dong chải chuốt, áo khăn dịu dàng

Từ Hải:
Râu hùm hàm én mày ngài
Vai năm tấc rộng thân mười thước cao"

HOÀI THANH: Theo bài viết "Quyền Sống Của Con Người Trong Truyện Kiều" của nhà phê bình Hoài Thanh năm 1949, nếu nói về mức độ "say" Truyện Kiều thì không ai bằng ông nghè Chu Mạnh Trinh (một con người hào hoa phong nhã kiểu Kim Trọng). Nhà thơ lãng mạn này không phải chỉ say văn chương Truyện Kiều mà lại còn say luôn cả nàng Kiều như say một giai nhân có thực, đến nỗi đã nói đến những chuyện si tình như thêu tên Kiều vào tay áo, mơ tưởng dựng một ngôi nhà vàng cho Kiều ở, mượn cỏ thơm gọi hồn Kiều về, và thấy như Kiều về thật! Chuyện lạ đời này cũng có thể hiểu được, vì theo Hoài Thanh, "ND có thể dạy cho ta biết ghét, biết yêu. Ghét những cái bất lương trong xã hội. Yêu những cảnh sống đáng yêu và nhân đó tránh cuộc sống tẻ nhạt, hiu hắt, cuộc sống của cỏ cây... Những cử chỉ uể oải, những câu nói thiếu lòng tin, những cái nhìn hời hợt, những tâm tư mệt nhọc hình như đương chờ đợi một cơn gió nào ... TK ngay giờ đây vẫn còn khả năng cải tử hoàn sinh, vẫn có thể gieo chất nồng say vào cuộc sống..."

NGUYỄN LỘC: Trong cuốn sách "Văn Học Việt Nam Nửa Cuối Thế Kỷ 18" xuất bản năm 1997 tại Hà Nội, nhà biên khảo Nguyễn Lộc có những nhận xét tinh tế về cách sử dụng ca dao, tục ngữ trong TK, mà tôi xin tóm lược trong những đoạn dưới đây:

Có thể nói trong TK có hàng mấy chục câu thơ ND trực tiếp rút ra từ ca dao. Rất có thể hai câu:

Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường

là rút ra từ câu ca dao:
Tiễn đưa một chén rượu nồng
Vầng trăng xẻ nửa tơ lòng đứt đôi

Ca dao trong TK được ND sử dụng như một thứ chất liệu nghệ thuật, chứ không như những trích dẫn. Không có câu nào ND dùng lại nguyên vẹn, mà tất cả đều nhào nặn lại cho phù hợp với phong cách chung của nhà thơ trong tác phẩm. TK có những câu thơ không thấy dấu vết cụ thể của ca dao, mà ai cũng nhận ra ảnh hưởng của ca dao, như :

Xót thay huyên cỗi xuân già
Tấm lòng thương nhớ biết là có nguôi
Chốc đà mười mấy năm trời
Còn ra khi đã da mồi tóc sương

ND cũng dùng rất nhiều tục ngữ, như :
Ra tuồng mèo mả gà đồng
Ra tuồng lúng túng chẳng xong bề nào

hoặc:
Bề ngoài thơn thớt nói cười
Mà trong nham hiểm giết người không dao

Ngôn ngữ TK vừa súc tích chính xác, đồng thời lại vừa giàu hình ảnh, giàu nhạc điệu. ND có thể bằng một vài câu thơ khắc họa lên sắc nét chân dung ngoại hình của một nhân vật, hay miêu tả một biến cố, một cảnh ngộ. Một học trò giỏi đi thi bị rớt có thể tự an ủi bằng cách "lẩy" hai câu thơ súc tích, hợp tình hợp cảnh của TK:

Có tài mà cậy chi tài
Chữ tài liền với chữ tai một vần

Tả một chàng đẹp trai hào hoa phong nhã thì ta có thể mượn ngay hai câu ND tả Kim Trọng:

Phong tư tài mạo tuyệt vời
Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa

Hai câu:
Gìn vàng giữ ngọc cho hay
Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời

thực tuyệt đẹp và chí tình để một chàng trai thiết tha căn dặn người yêu khi giã từ. Và khi giấc mơ ấp ủ từ lâu nay mới thành sự thực, ta vội kêu lên:
Đến bây giờ mới thấy đây
Mà lòng đã chắc những ngày một hai

Qua những nhận định kể trên của các văn nhân lỗi lạc ngoại quốc và Việt Nam về tuyệt tác phẩm TRUYỆN KIỀU thì thiên tài Nguyễn Du đã chứng minh một cách hùng hồn rằng tiếng Việt là một ngôn ngữ tuyệt vời cho thi ca. Chúng ta còn chờ đợi gì nữa mà không đọc lại Truyện Kiều thật kỹ càng để yêu thêm tiếng Việt của chúng ta?