Chủ Nhật, 8 tháng 5, 2011
Tình Mẹ trong Thi Ca
Nghĩa Mẹ Tình Mẹ
Qua Những Tác Phẩm Văn Nghệ Việt Nam
Hình như nhà thơ Pháp có nói:
"L'amour d'une mère, l'amour que nul n'oublie".
"Tình mẹ là thứ tình không ai quên được"
Ôi, vào những trường hợp ngạc nhiên, đau đớn người ta kêu "Giời ơi". "Trời ơi," "Phật ơi" và cũng không thể "Mẹ ơi".
Trong thời gian cuộc kháng chiến thần thánh chống Pháp của ta, bộ đội phục kích của ta đã nhiều khi bắt gặp lời kêu "mẹ ơi" "oh maman" của lính Pháp khi bất chợt bị ngã đạn. Sự kiện này đã được cơ quan địch vận của ta ngày đó phổ biến trong truyền đơn, báo chí và truyền thanh để kêu gọi lính Pháp nghĩ đến tình mẹ mà hạ súng, tẩy chay cuộc chiến phi nhân phi nghĩa của thực dân tái chiếm thuộc địa đó.
Mẹ, Tình Mẹ, Quê Mẹ rồi như trong trường ca Mẹ Việt Nam của Phạm Duy gồm Đất Mẹ, Núi Mẹ, Sông Mẹ, Biển Mẹ, quả thật tất cả những gì dính líu đến Mẹ Việt Nam, tình Mẹ Việt Nam, đều gây một âm hưởng bao dung và hiền dịu, thắm thiết và ai hoài, mênh mông và bất tuyệt trong lòng chúng ta như vậy.
Và chúng ta không ngạc nhiên khi thấy nhạc sĩ Phạm Duy đã đồng hóa Mẹ Việt Nam thành lịch sử Việt Nam, lịch sử một dân tộc bi hùng trên mảnh đất chịu đựng bao đau thương, thử thách này. Chúng ta hãy ôn lại nhạc và lời của khúc trường ca bất hủ này.
Nerhu trước khi chết để lại di chúc xin hỏa táng xác phàm của mình thành tro than, rồi rắc xuống cánh đồng bát ngát xứ Ấn, để được vĩnh viễn thể nhập vào mảnh đất quê hương, để được vĩnh viễn sống giữa những người dân quê Ấn cần cù và muôn vàn khổ cực. Những chính khách lỗi lạc, không vong ân bao giờ họ cũng có cái nhìn kính ái về phía những người dân quê chân lấm tay bùn, tăm tối kia, nhưng chính họ mới là phần nền móng của dân tộc, họ nuôi nước, họ mở nước, họ giữ nước. Cho nên mở đầu trường ca MẸ VIỆT NAM, Phạm Duy đã khẳng định ngay bằng câu ngâm của ca khúc 1 "Mẹ ta", ngay Phần Đầu Đất Mẹ:
Mẹ Việt Nam không son không phấn,
Mẹ Việt Nam chân lấm tay bùn.
Mẹ Việt Nam không mang nhung gấm,
Mẹ Việt Nam mang tấm nâu sồng.
Tiếng ca như thoát từ lòng đất mẹ, từ luống cày, từ nương khoai, nương sắn, hồn nhiên thanh nhẹ như gió lúa hương cau (cung đô thứ).
Lịch sử Việt Nam từ ngày lập quốc đến nay, dân tộc ta có mấy lúc được thanh nhàn? Lịch sử một dân tộc đoạn trường. Bởi vậy, trong trường ca Mẹ Việt Nam gồm bốn phần (ĐẤT MẸ - NÚI MẸ - SÔNG MẸ - BIỂN MẸ), 21 ca khúc thì ở ngay Phần Một ĐẤT MẸ, sau ca khúc 1 "Mẹ Ta" sang đến ca khúc 2 "Mẹ Xinh Đẹp" là ca khúc tươi tắn nhất. Đây là thuở Mẹ mới là cô gái đôi tám, xuân tình rờ rỡ, má hồng, môi đỏ, mắt long lanh. Đây là ca khúc duy nhất nhịp nhàng, tình tứ, lòng xuân phơi phới, hồn Mẹ như vòm trời xanh thăm thẳm không gợn một chút mây buồn. Vào ca khúc 3 "Mẹ Chờ Mong" đã phảng phất u hoài, mặc dầu sang ca khúc này nhạc sĩ đã chuyển từ cung đô sang cung mi giảm trưởng. Ca khúc 4 "Lúa Mẹ" cũng như ca khúc 5 "Mẹ Đón Cha Về" nét nhạc vào khúc thì tươi dòn nồng thắm, nhưng từ giữa khúc trở đi là mang mang chinh chiến, bàng bạc phân ly.
Sang Phần Hai NÚI MẸ, ca khúc 6 "Mẹ Hỏi", định mệnh truân chuyên những sầu hận biệt ly của mùa chinh chiến miên man, tàn khốc hầu như bất tận đã lộ rõ:
Lính vua, lính chúa, lính làng
Giết bao nhiêu giặc cho chàng phải đi.
Chinh chiến định mệnh bùng nổ "Mẹ Bỏ Cuộc Chơi" (ca khúc 7) là lẽ đương nhiên. Chinh chiến khốc liệt hứa hẹn chắc chắn và gần kề cảnh núi xương chất ngất, sông máu cuộn dâng.
Ca khúc 8 "Mẹ Trong Lòng Người Đi", người ra đi giữ nước vừa mở nước, nhịp mạnh rền Allegro Marcia, cung đô trưởng, hào hùng trong hướng mắt tương lai, nhưng vô cùng ai hoài trong hướng chiếu dĩ vãng, đúng hệt với ý câu thơ khuyết danh nào trước đây:
Từ thuở mang gươm đi mở cõi
Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long.
Mẹ ở lại với con thơ, với vườn dâu, nuôi Mẹ thay chồng. Mẹ đã là chinh phụ. Nghẹn ngào. Héo hon. Sầu chất ngất. Nhưng quả cảm. Cho đến lúc, còn có cách nào khác hơn, "Mẹ Hóa Đá" (ca khúc 10):
Gió mùa đông
Mẹ không thấy mỏi
Đứng trông về
Bốn cõi trời xa
. . . . ..
Thương thi sĩ hay buồn
Cho nên mẹ hóa ra hòn núi cao.
Hạnh phúc sum họp lứa đôi với chồng trước đây chỉ lóe rạng mong manh như ánh bình minh một ngày thu gió giập mưa vùi, rồi là chia ly, nhọc nhằn về thể xác, ê chề về tinh thần, mẹ là chinh phụ, mẹ hóa đá, mẹ chỉ còn biết chắt gạn lấy chút niềm vui ở nơi đàn con thơ đang bừng lớn; nhưng than ôi, bi kịch Mẹ Việt Nam tới đây - (Phần Ba - Sông Mẹ) - mới thật sự bị cuốn hút vào đáy vực của Bão Tố Khổ Đau.
Thoạt Ca Khúc 11 "Muốn Về Quê Mẹ" thốt lời ảo não, vần vũ trong gió chiều, bềnh bồng cùng mây trời, mênh mang cùng trong nước:
Chiều chiều ra đứng bờ sông
Muốn vê quê mẹ mà không có đò.
Vì những dòng sông - lũ con - đã bị cuốn hút vào Dục Vọng, thực sự thành hiện thân của những tham sân si, chịu nặng nghiệp chướng. Từ lập công cứu nước (ca khúc 12 "Sông Còn Mải Mê" chúng đã chuyển sang tranh bá đồ vương với nhau (ca khúc 13 "Sông Vùi Chôn Mẹ"). Mẹ Việt Nam bị xoáy cuộn xuống tới đáy vực bi thảm ở đây, và còn bị tiếp tục giữ ở đáy vực bi thảm này qua hai ca khúc liên tiếp, ca khúc 14 "Sông Không Đường Về", và ca khúc 1 "Những Dòng Sông Chia Rẽ". Mãi cho tới cuối ca khúc này mới thấy một giọt sương mát long lanh, một búp gió hiền, đó là lời gọi bao dung và thiết tha của Mẹ:
Lũ con lạc lối đường xa
Có con nào nhớ mẹ ta thì về."
để chuyển sang Phần Bốn - BIỂN MẸ.
"Trái Cây Đau Khổ" (1) của Phần SÔNG MẸ hung hãn, hẹp hòi, phân hóa, đã mở lối thoát thành Mẹ Trùng Dương (ca khúc 16):
Sóng vỗ miên man
Như câu ru em
Của Mẹ dịu dàng
Nước biếc mênh mông
Như đôi tay ôm
Của Mẹ Trùng Dương
. . . . . .
Mẹ từ thuở ban đầu cô gái quê đôi tám "đôi má tươi hồng, đôi bàn tay trắng, lưng ong, vai lẳn, vú căng tròn" qua cuộc hành trình dài một đời khổ đau, nay đã tóc bạc da mồi.
Đâu đây âm hưởng, tiếng thuyền chài hô biến, âm hưởng sóng vỗ mênh mang, nhưng đó cũng lá tiếng Biển Mẹ gọi con về ca khúc 17 "Biển Động Sóng Gợn" mênh mông và hiền dịu lạ lùng:
Hà hơ... biển động sóng gợn tứ bề
Gọi thuyền viễn xứ quay về biển đông
Sông ra đi từ khi non dại
Từ miền ngoài sông lại Việt Nam
Có từ Hy Mã Lạp Sơn
Cũng về biển mẹ thành con một nhà.
Ý thức và vô thức kiêu mà hiền! Ca khúc viết ở cung mi giảm thứ sáu bémol. Sức chịu đựng và tính bao dung đã đạt tới gần mức sơn cùng thủy tận, để rồi từ đó thoát chyển sang ca khúc 18 "Thênh Thang Thuyền Về", ánh sáng rưng rưng huyền ảo như ánh bình minh đầu tiên miền địa cực sau sáu tháng đêm dài giá lạnh. Nét cò lả quen thuộc mở đầu phần kết thúc cho ca khúc này nghe mềm và ấm như khóc cho hết nước mắt để rửa sạch cõi lòng, truân chuyên còn đấy nhưng thanh thản đã về:
Mẹ già đang đón chờ ta
Có đàn chim én từ xa về rồi
Quê ta đẹp lắm mẹ ơi
Biển êm sóng lặng nước nôi hiền lành.
Và thực sự kết thúc ca khúc bằng ước nguyện nhắn nhủ:
Về đây xây đắp mối tình
Mối tình Việt Nam
Yêu Mẹ già
Thương Mẹ ta
Đàn con nhỏ
Nhớ yêu nhau
Đàn con nhỏ
Nhớ thương nhau.
Chuyển sang ca khúc 19 "Chớp Bể Mưa Nguồn" ta bắt gặp một hình ảnh hướng thượng và thăng hoa vô tiền tuyệt hậu trong thi giới và nhạc giới hoàn vũ:
Mẹ cười bốc thành hơi
Mây từ biển quý lên ngôi trời già.
Cứ như vậy trời mây mở rộng biển cả nối liền thơm ngát yêu thương, thơm ngát tình người, thơm ngát tình thiên nhiên cây cỏ, Mẹ đã thành Bà, từ những chua cay ngút ngàn Mẹ cắn răng chịu đựng, thời gian gội tóc trắng phau phau" (2). Mẹ đau thương lên ngôi Bà hiền hậu với ca khúc 20 "Phù Sa Lớp Mây Trời Cuốn Bay":
Triều dâng
Ngọn sóng theo trăng vào bờ
Ngọn triều dâng sóng nhấp nhô
Đồng chua rộng nới thành ta ruộng mềm
Đền bồi cho máu về tim
Có đàn cháu bé nhìn chim ngoài trời
Mây bay đẹp lắm bà ơi
Làn mây trắng, cuộn khắp nơi đợi chờ
Làn mây che nắng bốn mùa
Hay là cho nước Mẹ mưa ngọt bùi.
Dân tộc Việt Nam, Tổ quốc Việt Nam, Mẹ Việt Nam, Mẹ tượng trưng cho lịch sử gian truân bi hùng. Như vậy.
Để khép bài này, tôi vẫn muốn nhắc lại câu thơ của người lính xấu số kia, câu thơ thổn thức não nề, hướng về quê nhà, Quê Mẹ, tập trung ở ngay hình ảnh người Mẹ:
Giày vẹt gót, áo sờn vai thấm thấm lạnh.
Những chiều Trường Sơn, núi đồi cô quạnh.
Mẹ hiền ơi con trót nhớ quê mình!!
Mẹ hiền như ánh đuốc soi sáng lương tâm những lúc đi lạc trong biển sương mù.
Saigon, Vu Lan 2517 (1973)
DOÃN QUỐC SỸ
(1) Tên vở kịch của Soạn giả, Sáng Tạo xuất bản 1963
(2) Thơ Đoàn Văn Cừ
Thứ Năm, 5 tháng 5, 2011
Mẹ Việt Nam ơi!
Mẹ ơi! Mẹ ơi!
Một đời bạc vôi
Trắng xóa mái đầu
Bốn mùa mưa nắng
Gánh ưu tư, trĩu nặng mảnh vai gầy
Mẹ ơi! Mẹ ơi!
Màu da Mẹ
Sạm nắng rẫy khoai
Gương mặt Mẹ
Chằng chịt vết nhăn
Đường thăng trầm
In rõ bước chân con
Tình thương của Mẹ
Điệp trùng sông núi
Mẹ ơi! Mẹ ơi!
Mẹ quên đời, tim lụn đèn khuya
Từ phía mưa giăng
"Bên ráo con ngủ
Bên ướt Mẹ nằm"
Mẹ ơi! Một đời lạnh lẽo
Nhớ về Mẹ!
Mắt sao hôm nhấp nháy
Một đời con hoài niệm
Mẹ! Mẹ Việt Nam ơi!
Vũ Hối
The Mother and Child
THE MOTHER AND CHILD
Món quà quý giá cho Con
The Mother and Child
hãy lắng nghe - lắng nghe và lặng nghe
bản giao kết tuyệt vời trong Let It Be
những hạt hồng bay trong thinh không mầu nhiệm
tình yêu mở cửa
cuốn hút từng lời
vang sâu trong tim
The Mother and Child
Bản Tình Ca cho Con
ngọt ngào
tuyệt vời
tha thiết
được viết từ những tấm lòng
gặp nhau trong cuộc vun đời
tha thiết với mọi người
chung chia niềm vui trên giòng khắc nghiệt
với ước mong lột bỏ được
chiếc áo của định phận khắc khe
mãi choàng trên những chiếc thân mảnh dẻ
hẩm hiu
Lắng nghe - lắng nghe và
lặng nghe
The Mother and Child
tôi hé mắt
qua khe hở của chiếc áo choàng
người mong vất bỏ
gởi những lời tha thiết
cám ơn
The Mother and Child !
Cao Nguyên
Mẹ Việt Nam
Những bà mẹ Việt Nam theo dòng lịch sử
Theo truyền thuyết, bà Mẹ Âu Cơ khi chia tay với Lạc Long Quân, đã đưa 50 con băng
rừng vượt núi, từ Động Đình hồ về miền Nam nắng ấm xây dựng nước Văn Lang. Mẹ Âu Cơ
muôn thuở là bà mẹ Việt Nam nhân từ, nuôi dạy các con nên sự nghiệp lớn lao. Người con
trưởng của Mẹ Âu Cơ là vua Hùng Thứ Nhất, truyền được mười tám đời làm rạng rỡ non
sông. Dân tộc Việt từ đó hào hùng bất khuất, giữ vững đất nước Việt cuối cùng trong hàng
trăm bộ lạc Việt giờ đây đã bị đồng hóa thành quận huyện Bắc phương!
Cũng theo Ngoại sử, Bà Trình Thị là một bà Mẹ Việt Nam ở vùng đất Chân Định thuộc trấn
Sơn Nam, nay thuộc tỉnh Thái Bình (1), là Hoàng Thái Hậu triều đại Triệu Vũ Đế nước Nam
Việt. Thái Hậu Trình Thị sinh ra Trọng Thủy, sau kết duyên với nàng Mỵ Châu sinh ra Triệu
Hồ tức Triệu Văn Đế của nước Nam Việt. Truyện tình Trọng Thuỷ Mỵ Châu có lẽ bị người
Tàu xuyên tạc, khiến ai cũng chê trách Triệu Đà và Trọng Thủy. Mặc dù vậy, trong câu
chuyện này kẻ ác giết con không phải là Triệu Đà và người chồng chung tình, chung thủy
vẫn là chàng Trọng Thủy, đời đời nêu gương sáng chẳng thể mờ phai.
Bà Thái Hậu Dương Vân Nga chấp chính khi chồng bị ám hại và con trai lên ngôi vua mới 6
tuổi. Lúc đó nhà Tống bên Tàu rất hùng mạnh, muốn sang nuốt chửng nước ta để tiếp nối
mộng “đô hộ nghìn năm”. Thái Hậu Dương Vân Nga vì việc nước trên việc nhà đã can đảm
nhường ngôi nhà Đinh cho nhà Tiền Lê. Việc làm cao cả cuả bà, đã gây nên biết bao sóng
gió! Búa rìu dư luận nghiêm khắc của những vị “Tống Nho” đã cùng đổ lên đầu bà. Có ai
sống ở cuối thế kỷ thứ 10 đâu mà thông cảm với Bà trong hoàn cảnh “thù trong giặc ngoài”
như vậy?
“Tôi không sợ mất tiếng”
“Mà chỉ sợ mất nước!”
”Mất danh tiếng chỉ riêng mình tôi chịu”
“Nước mất rồi, trăm họ sẽ ra sao?”
(Kịch thơ Hoàng Bào Chính Nghĩa)
Bà Ỷ Lan Thái Phi cũng được kể là một bà mẹ hiền lương, tài đức. Khi vua Lý Thánh Tông
thân chinh đi đánh Chiêm Thành, Bà được giao trọng trách “giám quốc”, giữ việc triều chính
đối xử trăm quan và coi sóc muôn dân. Khi vua Thánh Tông rút quân trở về vì việc đánh
dẹp không thành công, nghe tiếng đồn trong dân gian bà Nguyên Phi giám quốc ở nhà,
trong nước được yên trị dù sẩy ra việc đói kém và giặc dã nổi lên vài nơi. Vua Lý Thánh
Tông vì tự ái đã mang quân trở lại đánh Chiêm và được thành công, mở mang đất đai Đại
Việt đến phía bắc Quảng Trị ngày nay (2).
Vua Lý Nhân Tông chính là Thái Tử Càn Đức, con bà Thái Phi Ỷ Lan. Lý Nhân Tông lên
ngôi lúc 7 tuổi, được mẹ là Ỷ Lan Thái Phi buông rèm thính chính và được Thái Sư Lý Đạo
Thành làm phụ chính. Theo sử gia Phạm Văn Sơn, chính nhờ mẹ dạy giỗ lúc còn thơ dại,
vua Lý Nhân Tông đã trở thành một minh quân lỗi lạc, một vị anh hùng dân tộc có công
đánh Tống bình Chiêm làm vẻ vang dân tộc Việt.
Ngoài những bà mẹ quyến quý hoàng gia, nơi dân dã những bà mẹ Việt Nam cũng tài giỏi
trung trinh tiết liệt không kém, một lòng một dạ lo cho chồng cho con. Thực vậy, “con cò“
trong ca dao và trong văn chương Việt Nam chính là hình ảnh của người phụ nữ Việt: Cần
cù, chịu thương chịu khó vất vả chắt chiu nuôi bầy con thơ, mẹ già. Đôi lúc nàng còn phải
nuôi cả chồng vì hoàn cảnh chồng đi lính giữ nước nơi biên ải xa xôi, hoặc bị đầy ải nơi
rừng xanh nước độc do chính sách trả thù của kẻ thắng trận:
Cái cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo nuôi chông tiếng khóc nỉ non
Nàng về nuôi cái cùng con
Để anh trảy hội nước non Cao Bằng
Khi sa cơ lỡ vận, người phụ nữ Việt có thể phải hy sinh, nhưng trước khi chết, nàng vẫn
thành khẩn xin được chết thanh cao, trong sạch để tiếng thơm cho con cháu sau này:
Cái cò mày đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao
Ông ơi ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào, ông hãy xáo măng
Có xáo thì xáo nước trong
Đừng xáo nước đục, đau lòng cò con
Trong văn chương, Bà Tú Xương được chồng trân trọng biết ơn vì một mình bà lo quán
xuyến việc nhà, nuôi dạy con thơ và nuôi chồng ăn học. Cũng nên biết thêm rằng cuộc đời
ông Tú Xương rất long đong, lận đận về đường thi cử. Ông phải thi cử đến 8 lần mới đỗ Tú
Tài và thi cử nhân mãi không đậu, nên không học cao thành ông nghè ông Cống được:
Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Trong lịch sử dân tộc chống Tàu, chống Pháp đô hộ, người phụ nữ Việt Nam cũng luôn luôn
hiên ngang sát cánh cùng chồng ngoài chiến trường hay trên đường tranh đấu. Bà Trưng
Trắc đã cùng chồng là ông Thi Sách chống lại sự hà hiếp của thái thú Tô Định. Khi Tô Định
dùng pháp luật đô hộ giết hại ông Thi Sách, Bà Trưng Trắc đã cùng em là Trưng Nhị vì nợ
nước thù nhà nổi lên đánh đuổi Tô Định về Tàu và cùng lên làm vua:
Chị em nặng một lời nguyền
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân.
Ngoài ra, còn Bà Ba Đề Thám vợ hùm thiêng Yên Thế Hoàng Hoa Thám , Cô Giang vợ
chưa cưới của nhà cách mạng Nguyễn Thái Học... vân …vân…và biết bao nhiêu nữ tướng
anh hùng, nữ sĩ…, những bà mẹ Việt Nam chung thủy cùng chồng nuôi dưỡng con thơ khôn
lớn nên người…
Kết luận: Ngày Lễ Mẹ là một ngày lễ chính thức có ý nghiã tôn vinh vai trò cao quý của
những bà Mẹ nuôi dưỡng con thơ. Không phải chỉ loài người mới có những bà mẹ nuôi
dưỡng con thơ , mà đối với loài vật cũng thế. Đây là một nghĩa cử có vẻ theo bản năng
thiên nhiên, nhưng cũng có vẻ theo tập tục lâu dài? Cổ nhân có câu nói: “nước mắt chảy
suôi”. Làm bậc cha mẹ là phải có nhiêm vụ nuôi dưỡng con cái để bảo tồn nòi giống. Tạo
hóa sinh ra thế và tất cả những loài sinh vật đều được “hiểu” như thế. Do đó chữ Hiếu hay
thờ kính cha mẹ luôn được đề cao đối với bất cứ tôn giáo nào. Loài vật không có tiếng nói,
củng không có một nền văn hóa như loài người. Phần lớn chúng hành động theo bản năng
và rất có thể cũng có những loài vật thông minh, hiểu biết phần vụ mà chúng phải hoàn
thành?
Mẹ là một đề tài phong phú trong văn chương và Ngày Lễ Mẹ cũng là một đề tài phong phú
trong thi ca nhạc vậy!
Song Thuận
(1) Việt Sử Tiêu Án (Ngô Thời Sỹ), tr. 24. Theo Sổ Tay Địa Danh Việt Nam của Đinh Xuân
Vịnh, “Chân Định là huyện về đời Lê, thuộc phủ Kiến Xương, do phủ kiêm lý, trấn Sơn Nam.
Nguyên là huyện Chân Lợi, đời Lê vì kỵ huý vua Lê Thái Tổ, nên đổi là Chân Định, lấy tên là
quê hương Triệu Đà ở nước Triệu bên Trung Quốc. Đà có người vợ người Việt quê ở Đồng
Sâm, huyện Chân Định. Đời Thành Thái vì kỵ huý tên vua Dục Đức là Ưng Chân, đổi là Tr
ực Định và chuyển thuộc tỉnh Thái Bình mới thành lập (1894), từ năm 1945 l à huyện Kiến
Xương. Quê Nguyễn Quang Bích, Tr ơng Quỳnh Như.”
(2) Năm 1069, vua Lý Thánh Tông thân chinh mang 10 vạn quân vào đánh Chiêm Thành,
bắt được vua Chiêm Thành bấy giờ là Chế Củ(Jaya Rudravarman). Chế Củ buộc phải dâng
đất của ba châu Bố Chính, Địa Lý và Ma Linh cầu hòa. Vua Lý Thánh Tông đặt tên cho
vùng đất mới này là trại Tân Bình, lãnh thổ Đại Việt thêm vùng đất này, nay là Quảng Bình
và bắc Quảng Trị. (nguồn Wikipedia)
Sách tham khảo:
Việt Nam Sử Lược - Trần Trọng Kim - Nhà XB Miền Nam
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư - Việt Khoa Học Xã Hội Việt Nam - Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội.
Việt Sử Tiêu Án - Ngô Thời Sỹ - Nhà Xuất Bản Văn Sử.
Sổ Tay Địa Danh Việt Nam – Đinh Xuân Vịnh - Nhà Xuất Bản Đại Học Quốc Gia Hà Nội 2002.
Tuyển Tập Thi Nhạc Vịnh Sử Việt Nam - Nhiều tác giả - Hùng Sử Việt Xuất Bản 2007
Tài liệu trên internet: Wikipedia, Đài VOA
Nghe Nhạc: Người con gái Việt Nam
Chủ Nhật, 1 tháng 5, 2011
Áo Dài trong Thơ và Nhạc
"Tâm tư khép, mở đôi tà áo..."
("Tự tình dưới hoa", Đinh Hùng)
Chiều nào áo tím nhiều quá, lòng thấy rộn ràng nhớ người.
Giọng hát dìu dặt và trầm ấm của Duy Trác cất lên đâu đó trong một chiều cuối thu gợi nhớ hình ảnh và nơi chốn thân quen trước "cổng trường áo tím" những chiều tan học. Áo tím túa ra như đàn bướm, áo tím thướt tha dọc theo những lối đi dưới lá trên lề đường Phan Thanh Giản, trên những đường phố Sài Gòn ngập nắng. Những tà áo nhẹ bay trong gió từ lâu lắm đã đi vào thi ca, đã làm rung động lòng người và là nguồn cảm hứng vô tận của những người làm thơ, viết nhạc. Tà áo nên thơ ấy, dưới đôi mắt ngắm nhìn của người nghệ sĩ, là bức tranh sinh động với nhiều đường nét, nhiều dáng vẻ, thể hiện qua từng lời thơ ý nhạc:
Dưới mắt Phạm Đình Chương là "áo bay mở, khép nghìn tâm sự..." (Mộng Dưới Hoa)
Dưới mắt Vũ Thành là "áo dài bay ngờm ngợp cả khung trời..." (Mùa Kỷ Niệm)
Dưới mắt Hoàng Dương là "áo mầu tung gió chơi vơi..." (Hướng Về Hà Nội)
Dưới mắt Trịnh Công Sơn là "áo xưa lồng lộng đã xô dạt trời chiều..." (Tình Nhớ)
Những vạt áo dài, từ lâu lắm, đã lất phất trong những trang thơ tiền chiến. Từ "đôi tà áo lụa bay trong nắng…" (Áo Lụa, Bàng Bá Lân) đến:
"Nắng thơ dệt sáng trên tà áo,
lá nhỏ mừng vui phất cửa ngoài...." (Áo Trắng, Huy Cận).
Áo dài cũng len cả vào những câu lục bát trữ tình của Nguyễn Bính:
"Hồn anh như bông cỏ may
một chiều cả gió bám đầy áo em" (Bông Cỏ May)
Và len cả vào dòng thơ hào hùng mà lãng mạn của Quang Dũng:
"Em đi áo mỏng buông hờn tủi
dòng lệ thơ ngây có dạt dào" (Đôi Bờ)
Áo dài còn là giấc mơ thanh bình của những làng quê hiền hòa trong tình ca quê hương của Phạm Duy:
"Nằm mơ, mơ thấy trăm họ tốt tươi, mơ thấy bên lề cuộc đời, áo dài đùa trong tiếng cười..." (Quê Nghèo)
Kỷ niệm êm đềm về một tà áo, một đôi mắt huyền được Tô Vũ ghi lại bằng nét nhạc lâng lâng:
"Em đến thăm anh, người em gái, tà áo hương nồng, mắt huyền trìu mến sưởi ấm lòng anh..." (Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa)
"Ta ước mơ một chiều thêu nắng..." Nỗi "ước mơ" của chàng nhạc sĩ họ Tô ấy được vẽ lại trong thơ Trần Dạ Từ. Trong phút giây chờ đợi bước chân người tình khe khẽ đến bên hiên nhà, chàng tưởng chừng nghe được cả tiếng gió lay động vạt áo dài và tiếng lá nhẹ rơi bên thềm:
"Môi cười vết máu chưa se
cành hoa gạo cũ nằm nghe nắng hiền
Anh nằm nghe bước em lên
ngoài song lá động, trên thềm áo bay" (Khi Nàng Đến)
Áo bay làm nhớ nhung, như nỗi nhớ da diết một mầu áo, một đôi môi thắm trong nhạc Từ Công Phụng:
"Chiều nay nhớ em rồi, và nhớ áo em đẹp trời thơ, môi tràn đầy ước mơ..." (Bây Giờ Tháng Mấy)
Áo bay làm ngơ ngẩn, như chàng Huy Cận thuở mới lớn, trước cổng trường nữ sinh:
"Một hôm trận gió tình yêu lại,
đứng ngẩn trông vời áo tiểu thư" (Học Sinh)
Áo bay làm thẫn thờ, như chàng thi sĩ đa tình Nguyễn Tất Nhiên, dõi mắt nhìn theo mãi một tà áo vu quy:
"Đò qua sông chuyến đầu ngày,
người qua sông mặc áo dài buông eo" (Chuyến Đò Cửu Long)
"Áo trắng đơn sơ, mộng trắng trong" (1)
Áo trắng trinh nguyên tuổi học trò, áo trắng của "một thời áo trắng", từng làm ngất ngây trái tim bao chàng trai, để đêm đêm trong giấc ngủ chập chờn còn trông thấy "áo ai bay trắng cả giấc mơ".
Áo trắng như dòng suối mát trong thơ Huy Cận:
"Dịu dàng áo trắng trong như suối,
tỏa phát đôi hồn cánh mộng bay" (Áo Trắng)
Áo trắng như lụa trắng trong thơ Hoàng Anh Tuấn:
"Áo em lụa trắng sông Hương
qua đò Thừa Phủ nhớ thương rạt rào" (Về Chân Trời Tím)
Hay trong thơ Kim Tuấn:
"Em về tà áo lụa
bay ngập ngừng trong anh" (Thu ở Xa Người)
Hay trong thơ Nguyên Sa:
"Mây cao, gót nhỏ, mây vào gót,
áo lụa trăng mềm bay xuống thơ" (Tám Phố Saigon)
"Anh vẫn yêu mầu áo ấy vô cùng
thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng" (Áo Lụa Hà Đông)
Áo trắng như gió, như mây, để "nhà thơ của tình yêu" phải bâng khuâng:
"Có phải em mang trên áo bay
hai phần gió thổi, một phần mây?
Hay là em gói mây trong áo
rồi thở cho làn áo trắng bay?" (Tương Tư)
Áo trắng của nhà thơ còn là dải sương mù lướt thướt trên bến sông Seine giữa kinh thành hoa lệ Paris, gợi nhớ một vạt áo dài ở chốn xa quê nhà:
"Anh về giữa một dòng sông trắng
là áo sương mù hay áo em" (Paris Có Gì Lạ Không Em?)
Áo trắng của Hoàng Thi Thơ là bướm trắng, là hoa trắng, là mây trắng…
"Ngày nào em đến áo em mầu trinh, áo xinh là xinh, áo em trong trời buồn, là gió, là bướm, là hoa, là mây chiều tà..." (Hình Ảnh Người Em Không Đợi)
Áo trắng một màu trắng thanh khiết trong nhạc Nguyễn Vũ:
"Áo trắng em bay như cánh thiên thần…" (Bài Thánh Ca Buồn)
Áo trắng nhẹ bay trong chiều giáo đường trong nhạc Lê Trọng Nguyễn:
"Tà áo trinh nguyên tung bay, nụ cười thân ái..." (Chiều Bên Giáo Đường)
Áo trắng một màu trắng xóa làm hoa cả mắt nhà thơ Hàn Mặc Tử:
"Áo em trắng quá nhìn không ra" (Đây Thôn Vĩ Dạ)
Áo trắng như đôi cánh trắng trên sân trường kỷ niệm trong thơ Luân Hoán:
"Tà áo trắng xoè như đôi cánh lượn
trải dịu dàng trên cỏ mượt mà xanh" (Trong Sân Trường Bữa Ấy)
Mỗi người đều cần có một mái trường để luyến tiếc, để nhớ về.... Nhớ về ngôi trường cũ là nhớ về những người thầy người bạn, là nhớ về những lớp học những sân chơi và những năm tháng tươi đẹp nhất của một thời tuổi trẻ.
"Áo mầu tung gió chơi vơi"
Áo bay như bướm lượn, áo bay như đàn bướm trong khu vườn mùa xuân. Áo bay nhiều quá, để chàng nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ làm... thơ:
"Hôm nay sao áo bay nhiều thế! Tôi tưởng ngàn cánh bướm khoe mầu..." (Tà Áo Cưới)
Áo mầu của Phạm Duy lất phất trong gió chiều như lòng người... phất phơ:
"Xin cho em một chiếc áo mầu, cho em đi nhẹ trong nắng chiều. Một chiều nhiều người theo, ở ngoài đường trên phố, và lòng người như áo phất phơ..." (Tuổi Ngọc)
Nhớ về một mầu áo là nhớ về những đường phố quen tên, nhớ áo ai bay trong chiều trên những con đường ngập xác lá vàng, như nỗi nhớ ngút ngàn của Trịnh Công Sơn:
"Nhớ Sài Gòn những chiều lộng gió, lá hát như mưa suốt con đường đi, có mặt đường vàng hoa như gấm, có không gian mầu áo bay lên..." (Em Còn Nhớ Hay Em Đã Quên)
Những tà áo muôn mầu muôn vẻ vẫn khoe sắc thắm trong những trang thơ và nhạc. Áo vàng trong thơ Nguyên Sa có khi là bông cúc vàng:
"Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc" (Tuổi Mười Ba)
Có khi là nắng thu vàng:
"Có phải mùa xuân sắp sửa về
hay là gió lạnh lúc đêm khuya?
hay là em chọn sai mầu áo
để nắng thu vàng giữa lối đi?" (Tương Tư)
Áo vàng như cánh mai vàng trong nhạc Trần Thiện Thanh. Người lính trẻ thấy sắc hoa rừng, mơ về một sắc áo:
"Những hôm vừa xong phiên gác chiều ven rừng kín hoa mai vàng, chợt nhớ tới sắc áo năm nào em đến thăm gác nhỏ..." (Đồn Vắng Chiều Xuân)
Người lính chiến trong nhạc Phạm Đình Chương cũng bâng khuâng vì một sắc hoa, một mầu áo, một đôi mắt người xưa:
"Ngày hành quân, anh đi về cánh rừng thưa
thấy sắc hoa tươi nên mơ mầu áo năm xưa
Kỷ niệm đầu len len trở về tâm tư
có mắt ai xanh thắm trong mộng mơ..." (Màu Kỷ Niệm)
Tà áo màu xác pháo để lại nỗi buồn lắng đọng trong thơ Nguyễn Tất Nhiên:
"Người qua sông mặc áo hường
Nắng dương gian, nắng buồn hơn trước nhiều" (Chuyến Đò Cửu Long)
Áo mầu tím, mầu của "định mệnh", của mộng mơ, nhớ nhung và chia cách. Chuyện tình "ngàn thu áo tím" của cô bé trót yêu màu tím, được Hoàng Trọng, "nhạc sĩ của mầu tím", kể lại:
"Ngày xưa xa xôi em rất yêu mầu tím... Chiều xuống áo tím thường thướt tha, bước trên đường thắm hoa, ngắm mây trời lướt xa..."
Rồi khi vừa biết yêu là khi chia tay với mầu tím, chia tay với tình đầu:
"Ngàn thu mưa rơi trên áo em mầu tím, ngàn thu đau thương vương áo em mầu tím..." (Ngàn Thu Áo Tím)
Cũng một mầu áo tím, một chân trời tím trong thơ Kim Tuấn:
"Áo nàng bay lên tím ngát trời chiều" (Phố Xưa)
Trong mắt Vũ Thành, "nhà thơ của mầu tím", khi mùa thu buông áo xuống một phương trời, mầu mây tím trông như mầu áo người mình yêu để lòng chàng gợn lên nỗi buồn trăn trở:
"Áo em tím cả phương này
anh nghe thành phố đêm nay trở buồn" (Áo Tím)
Vạt áo dài mầu tím hoa sim, trong thơ Phạm Thiên Thư, chỉ là thoáng lay động, vừa ngập ngừng e ấp vừa nao nức gọi mời:
"Áo em vạt tím ngàn sim
nửa nao nức gọi, nửa im lặng chờ
Yêu nhau từ độ bao giờ
gặp đây giả bộ hững hờ khói bay" (Động Hoa Vàng)
Rồi áo tím qua cầu, mang theo cả mùa thu, để lại nỗi trống vắng mênh mang trong lòng nhà thơ Trang Châu:
"Thế giới của anh không có chân trời
không có mùa xuân lấy đâu hoa bướm
không có bàn tay cho bàn tay hò hẹn
áo tím qua cầu nên cũng hết mùa thu" (Thế Giới Của Anh)
Có những gặp gỡ rất tình cờ, bất chợt, như gặp gỡ một tà áo tím, cũng đủ để lòng chàng nhạc sĩ Hoàng Nguyên mãi vấn vương theo mầu áo:
"Một chiều lang thang bên dòng sông Hương, tôi gặp một tà áo tím, nhẹ thấp thoáng trong nắng vương... Rồi lòng bâng khuâng theo mầu áo ấy, mầu áo tím hôm nào..." (Tà Áo Tím)
"Nhạc sĩ của mầu xanh và mùa thu", danh hiệu ấy có lẽ thuộc về hai chàng Đoàn Chuẩn–Từ Linh chứ không ai khác hơn:
"Với bao tà áo xanh đây mùa thu..." (Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay)
Câu hát nghe như bàn tay kéo nhẹ tấm màn cửa mở ra khung trời bát ngát mùa thu, bát ngát màu xanh. Trong những dòng kẻ nhạc của hai chàng nghệ sĩ đa tình ấy vẫn luôn luôn thấp thoáng một "tà áo xanh" và một "màu xanh ái ân":
"Tà áo xanh nào về với giấc mơ. Mầu áo xanh là mầu anh trót yêu..." (Thu Quyến Rũ)
"Trót", như một định mệnh, buộc chặt người viết câu hát với mầu xanh kia.
"Hẹn một ngày nao khi mầu xanh lên tà áo..." (Cánh Hoa Duyên Kiếp)
Nghe như câu hẹn ước, như lời thề nguyền sắt son...
"Khi nào em đến với anh, xin đừng quên chiếc áo xanh..." (Tà Áo Xanh)
Còn lời dặn dò nào ân cần, thiết tha hơn thế nữa...
Nhớ về một mầu áo là "nhớ những giây phút êm đềm, nắng loang trên sân trường một chiều nào..." (2). Màu áo xanh trong thơ Nguyên Sa là màu cây cỏ xanh tươi trên sân trường phượng vĩ:
"Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường" (Tuổi Mười Ba)
Màu áo xanh trong nhạc Y Vũ gợi nhớ một mái tóc, một tà áo thấm đẫm nước mưa:
"Chiều xưa mưa rơi âm thầm, để thấm ướt chiếc áo xanh, và đẫm ướt mái tóc em..." (Tôi Đưa Em Sang Sông)
Tà áo mầu xanh thắm của một "tiếng hát học trò" gieo vào lòng nhạc sĩ Nguyễn Hiền bao "niềm thương nhớ đầy vơi":
"Thuở ấy không gian chìm lắng trong mơ. Tà áo em xanh, mầu mắt ngây thơ..." (Tiếng Hát Học Trò)
Lê Hữu
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)