Thứ Ba, 7 tháng 9, 2010
CỐT LÕI CỦA NỀN VĂN HÓA VIỆT
Về phương diện văn hóa, cho tới nay, người Việt vẫn là những người sống dật dờ trong dòng văn hóa thế giớị. Bản sắc Việt là gì? Sắc thái Việt là gì? Căn cước Việt là gì? Các nhà làm văn hóa Việt vẫn chưa tìm ra đuợc câu trả lời dứt khoát, vẫn còn nói qua nói lại, ba phải, xàng qua xàng lại, đi chân chữ bát, chia ra nhiều phe phái. Bởi vì các nhà làm văn hóa Việt chưa tìm ra được cái cốt lõi của nền văn hóa Việt, chưa tìm ra được cái sắc thái, cái bản thể riêng biệt, cái căn cước đích thực của người Việt. Từ nhỏ cho tới giờ, tôi được dậy và đọc những điều về văn hóa Việt rất ư là mù mờ, rất ư là mơ hồ, rất ư là tranh cãị. Ông nói một đằng bà nói một nẻo, ông cho ông đúng, bà nói bà không saị. Người nào cũng có lý của người đó. Ví dụ họ Hồng Bàng, có người nói là họ chim hồng (chẳng nói rõ chim hồng là chim gì)? Có người nói chim hồng là Ngỗng Hồng, có kẻ lại nói là cò hạc Đế Giang; chúng ta là Việt, có kẻ giải thích Việt là Rìu, là búa, người xấu mồm cho chúng ta là dân dao búa? Có kẻ giải thích là Vượt, bỏ chạy, chúng ta là đám hèn nhát bỏ chạy? Người nói Việt là Vượt trội hẳn lên là siêu Việt. Nói về mẹ tổ Âu Cơ của chúng ta, có người nói bà là Tiên ở trên núi nên đem năm mươi con lên núi, có người nói bà là U Cò, là chim Âu nên đẻ ra bọc trứng chim nở ra trăm lang, những lang này lại làm quan (kiểu Tầu) nên gọi là quan lang. tại sao bọc trứng lại nở ra toàn con trai? Tại sao Âu Cơ và Lạc Long Quân lại phải chia tay nhau mỗi người mỗi ngả? Bao thế hệ Việt, giống như tôi, không biết tin ai, đã sống dật dờ, vô định hướng trong một dòng văn hóa Việt trôi dạt, không phương hướng. Vì không biết rõ cái gốc cội riêng của nền văn hóa của mình, nên cha ông chúng ta tôn thờ văn hóa Trung Hoa hơn người Trung Hoạ Cha ông chúng ta tôn thờ văn hóa Tây phương qua thực dân Pháp hơn người Pháp. Hiện nay người Việt theo chủ nghĩa tư bản hơn người Mỹ.
Nguời Việt theo chủ nghĩa cộng sản hơn cả người Nga. Người Việt càng có học càng bị bệnh tự ti, càng cho dân Việt hèn kém, cái gì chúng ta cũng lấy của Trung Hoa, của ngọai bang.
Đây là lý do tôi đã cặm cụi đi tìm cái cốt lõi của nền văn hóa Việt. Hôm nay xin
trình bầy cùng độc giả. Hy vọng đóng góp được vài ba ý kiến cùng các nhà làm văn hóa Việt. Tôi đã trình bầy cái cốt lõi này trong những tác phẩm Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt, Ca Dao Tục Ngữ, Tinh Hoa Dân Việt, Tiếng Việt Huyền Diệu và Giải Đọc Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á. Ở đây xin nói gọn lại bằng một câu thì cốt lõi của văn hóa cổ Việt là Vũ Trụ giáo, Mặt Trời giáo, Việt Dịch nòng nọc.
Vu Trụ Tạo Sinh dựa trên nòng nọc, âm dương, khởi sự từ Hư Vô rồi sinh ra Thái Cực, Luỡng Nghi, Tứ Tuợng, Tam Thế, sự Sống, Chết, Tái Sinh, Hằng Cửu. Sự sùng bái, thờ phuợng dựa trên Vũ Trụ Tạo Sinh gọi là Vũ Trụ Vũ Trụ giáo. Tín ngưỡng này chia ra làm hai ngành: ngành nòng, âm thờ Vũ Trụ và ngành nọc, dương thờ Mặt Trời. Xã hội loài người khởi sự từ mẫu quyền nên thờ Vũ Trụ là tôn giáo nguyên khởi của con người trong đó có người Việt. Theo đà tiến hóa, xã hội chuyển qua phụ hệ, kể từ lúc này (và cho tới nay), thờ Mặt Trời (hay thờ những đấng thay thế mặt trời hay tự nhận là con trời) ngự trị. Người Việt dĩ nhiên cũng chuyển qua thờ Mặt Trời, rồi thờ các đấng thay thế mặt trời của các tôn giáo sau này. Kinh của Vũ Trụ giáo là Dịch Nòng Nọc (âm dương).
Xem tiếp:
VĂN HÓA VIỆT
TIẾNG VIỆT TRÊN ĐƯỜNG HỘI NHẬP
Khi nói đến đặc tính hay tính dân tộc của một đất nước, người ta thường nghĩ ngay đến văn hóa và ngôn ngữ. Có người cho rằng, văn hóa bao gồm ngôn ngữ. Trong thế giới nhiều chủng tộc và nhiều ngôn ngữ ngày nay, nhận xét nầy chỉ đúng về mặt hình thức nhưng không đúng về mặt nội dung. Khách du lịch đến một vùng đất lạ, họ có thể cảm nhận được nét văn hóa chung chung của xứ đó trong lần đầu tiếp xúc. Nhưng muốn hiểu ngôn ngữ, chỉ có sự cảm nhận và quan sát không chưa đủ; mà còn phải đầu tư thời gian, công sức và trí tuệ vào quá trình học tập, tìm hiểu, giao tiếp và thực hành.
Trong hơn 36 nhóm chủng tộc mới nhất, lần đầu di cư vào đất Mỹ từ năm 1975 đến nay có người Việt Nam.
Nói về tốc độ hội nhập của con người và sự phát triển về ngôn ngữ trong một xã hội mới như Hoa Kỳ, người Việt và tiếng Việt được xếp loại là một trong những nhóm dân tộc di dân tiến bộ nhanh nhất về cả hai mặt đời sống và ngôn ngữ.
Về đời sống, trung bình người Việt chỉ cần từ 5 đến 10 năm kể từ khi đến vùng đất mới là đã ổn định được một cuộc sống tự túc trên đất Mỹ. Về thu nhập, người Việt Nam được xếp hàng tương đương với mức sống của người da trắng trung bình và ngang hàng với người Trung Hoa đã có lịch sử định cư tại Mỹ lâu dài đã đến đây trước người Việt Nam hàng trăm năm.
Về ngôn ngữ, hai nhóm dân châu Á có số dân trên một triệu người cư trú tại Mỹ vẫn còn duy trì được tiếng mẹ đẻ trong gia đình và ngoài sinh hoạt cộng đồng là người Trung Hoa và người Việt Nam.
Đặc biệt nhất chỉ sau một thập niên định cư trên đất Mỹ, tiếng Việt đã được đưa vào chương trình song ngữ tại các trường tiểu học và trung học; đồng thời, Việt ngữ từng bước trở thành ngoại ngữ tiêu chuẩn được đưa vào giảng dạy tại các trường cao đẳng và đại học trên toàn nước Mỹ giống như tiếng Nhật, tiếng Nga, Tiếng Tàu, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha. Học ngôn ngữ cũng là học văn hóa. Do đó, một số trường đại học Hoa Kỳ đã phát triển và mở rộng dự án dạy tiếng Việt lúc đầu thành chuyên ngành Việt Học.
Hoa Kỳ là nơi tập trung đông đảo người Việt hải ngoại nhất trên toàn thế giới và Orange County là nơi có đông người Việt nhất trên toàn nước Mỹ; nên vô hình chung nơi đây đã biến thành một Sài Gòn Nhỏ. Đây là một Sài Gòn thứ hai từ trong tên gọi và trong phong cách sinh hoạt mang đậm tính văn hóa Việt Nam.
Trong số những trường đại học gần gũi về cả phương diện địa lý lẫn đời sống và tâm lý giáo dục đối với người Việt trong vùng, đại học tiểu bang Cali tại Fullerton (California Sate University, Fullerton – CSUF) đã đóng một vai trò tương đối phong phú và thuận lợi về vấn đề giáo dục Việt Ngữ và văn Hóa Việt Nam. Mặc dầu trong nhiều năm qua, CSUF đã có một chương trình dạy tiếng Việt sơ cấp và trung cấp phục vụ cho nhu cầu học Việt ngữ văn hóa Việt trong vùng nhưng quy mô và tác dụng vẫn đang còn giới hạn trong phạm vi “học tiếng” hơn là phát huy hết tác dụng giáo dục ngôn ngữ và văn hóa dân tộc ở xứ người. Nhưng trước yêu cầu ngày một tăng của sinh viên và cấp độ cải thiện giáo dục trong lĩnh vực nhân chủng và xã hội, bắt đầu từ năm học 2009 – 2010, được sự tăng cường và hỗ trợ của ngành giáo dục liên bang, nhà trường đã quyết định mở rộng và nâng cấp chương trình Việt ngữ đang có trước hết lên Chuyên ngành phụ (Minor) và sau đó lên hàng Cử Nhân về ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam (Bachelor’s Degree in Vietnamese Language and Culture). Chương trình nầy cũng có khả năng kết hợp và phát triển trong ngành Thương Mãi Quốc Tế (Bachelor’s Degree in International Business with concentration in Vietnamese).
Đối với thế hệ trẻ “người Mỹ gốc Việt” đa số sinh ra và lớn lên tại Hoa Kỳ, nếu chỉ “học tiếng” như các lớp Việt ngữ đã được giảng dạy trong những năm qua, con em chúng ta đã bị giới hạn và mất đi cơ hội tiếp cận với một chương trình học tích cực về ngôn ngữ và văn hóa nước nhà. Trước một viễn ảnh kinh tế thị trường và bối cảnh văn hóa toàn cầu đầy hứa hẹn, sự hình thành và phát huy một chương trình Việt học phong phú sẽ giúp cho thế hệ trẻ Việt Mỹ những cơ hội thuận lợi và tốt đẹp hơn trong nhiều ngành nghề chuyên môn trung cấp và cao cấp sau nầy.
Đại học Fullerton đã tổ chức và giảng dạy những chương trình ngôn ngữ và văn hóa rất thành công đối với Pháp, Đức, Nhật, Tây Ban Nha, Trung Hoa, Nhật Bản, Trung Đông… trong hơn mười năm qua. Năm học nầy, mở đầu cho một chương trình học Việt Nam nâng cấp và mở rộng. Tiếng Việt, văn hóa Việt và giáo sư đang gặp cơ hội thuận lợi được góp mặt với những chương trình học về ngôn ngữ văn hóa của các quốc gia vốn có thế đứng vững mạnh trong cộng đồng thế giới từ lâu.
Khoa sinh ngữ và văn chương hiện đại của đại học Fullerton cũng đang tăng cường và mở rộng khả năng hoạt động của trung tâm huấn luyện và thực hành về ngữ học và môi trường truyền thông để ban giảng huấn có điều kiện ứng dụng những phương pháp giảng dạy có hiệu quả ngày một cao hơn.
Được biết người được ủy nhiệm cho việc dự thảo lập, đề án, và tổ chức chương trình nầy là Tiến sĩ Lê Thị Huỳnh Trang. Tiến sĩ Huỳnh Trang có bằng Cao học về TESOL (Dạy tiếng Anh cho người nước ngoài) từ trường Đại học Deakin (Úc Châu) và bằng Tiến sĩ chuyên ngành Phát Triển Giáo Dục Quốc Tế từ trường Teachers College, Đại học Columbia ở New York.
Hiện nay Tiến sĩ Huỳnh Trang đang xây dựng chương trình Chuyên ngành phụ Việt Học tại CSUF. Thời gian họạch định sớm nhất cho chương trình này bắt đầu họat động là vào khóa học Mùa Thu 2011 hay Mùa Xuân 2012. Sau đó sẽ tiếp tục phát triển lên chương trình hàng Cử Nhân.
Với một lịch sử tỵ nạn và di dân 30 năm – một khoảng thời gian rất ngắn so với các dân tộc châu Á khác đã có mặt trên đất nước nầy hàng trăm năm – sự lớn mạnh và thâm nhập ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam tại Hoa Kỳ là một dấu hiệu thăng tiến đầy khích lệ. Quan trọng hơn nữa là đối với thế hệ tuổi trẻ Việt Nam thứ hai và trở về sau, việc bảo tồn và phát huy tiếng nói, văn hóa tại một xã hội đa chủng tộc như Mỹ sẽ tạo ra một sự hội nhập có ích lợi về mọi mặt cho giá trị nhân bản và duy trì được cội nguồn dân tộc nơi xứ người trong một tương lai dài hạn.
Người Việt Nam sống xa quê hương đã học được bài học thấm thía qua một quá trình hội nhập gian nan đầy trăn trở. Bởi vậy, sự ủng hộ nhiệt tình của cộng đồng người Việt cho chương trình giáo dục ngôn ngữ và văn hóa Việt tại hải ngoại sẽ góp sức mạnh cho sự thành công cũng như làm giàu thêm kiến thức, tình cảm về quê hương, dân tộc của con em chúng ta hôm nay và mai sau.
Trần Kiêm Đoàn, MSW; Ph.D
Thứ Hai, 6 tháng 9, 2010
Thứ Bảy, 4 tháng 9, 2010
Vinh Danh Phụ Nữ Truyền Thuyết Việt Nam
Vinh Danh Phụ Nữ Truyền Thuyết Việt Nam
Phụ nữ Việt Nam trung trinh, tiết hạnh
Trang điểm cuộc đời muôn cánh hoa thơm
Ra ngoài, giúp nước giúp non
Về nhà, tận tụy chồng con một lòng
(ST)
Mở Đầu
Phụ nữ Viêt Nam từ ngàn xưa đã vang danh “trung trinh tiết hạnh”, đúng với lời giáo huấn
của cha ông:
“Trai thời trung hiếu làm đầu”
“Gáí thời tiết hạnh làm câu trau mình”
Những tấm gương oai hùng như bà Trưng, bà Triệu, hiền phụ như bà Tú Xương, bà Sương
Nguyệt Anh. Những tấm lòng cao cả của các bà mẹ Việt Nam vẫn thường được nhắc nhở
hàng năm trong các ngày Lễ Mẹ, ngày Rằm tháng Bẩy với “bông hồng cài áo”. Không ai có
thể phủ nhận sức chịu đựng bền bỉ và đức tính cần cù chịu khó của các bà mẹ Việt Nam.
Cũng không ai có thể phủ nhận đức tính trong sạch, ngay thẳng, và đàng hoàng của người
phụ nữ Việt Nam. Những đức tính hy sinh, can đảm và chan chứa tình người đã nâng cao
phẩm giá của người phụ nữ Việt Nam lên hàng Tiên Thánh, và biến một số người đàn bà
nước Nam thành những vị Phụ Nữ Truyền Thuyết trong lịch sử dân tộc Việt.
Truyền Thuyết Là Gì?
Theo Giáo Sư Trần Gia Phụng, “Truyền thuyết là những câu chuyện bắt đầu từ sự thật lịch
sử, được thêm thắt hoặc được tiểu thuyết hóa, và được truyền tụng từ người này qua người
khác, từ đời này qua đời khác, rồi lại được dân chúng chấp nhận như là những chuyện lịch
sử có thật”.
Tìm hiểu nghĩa chữ “truyền thuyết”, Hán Việt Từ Điển của Đào Duy Anh chỉ cho biết đơn
giản: “nói lại với người khác”. Theo nghĩa tiếng Anh, “truyền thuyết” dịch từ chữ “Legend”,
có nghĩa là “thánh truyện, truyện thần tiên, truyện hoang đường” (Từ Điển Nguyễn Văn
Khôn). Thật ra, chữ “Legend” phát xuất từ chữ Latin “legenda”, động từ là “legere” có nghĩa
là đọc (to read).
Thời Trung Cổ (Medieval), chữ Latin “legenda”, được dùng với nghĩa “điều gì đó để đọc”,
đặc biệt dùng trong thể kể chuyện đời sống các Thánh. (Tiểu sử các Thánh được kể lại,
quan trọng cả về tài liệu lịch sử, lẫn gương đạo đức). Chữ “Legend” trong tiếng Anh được
vay mượn ở chữ “Legenda” từ thế kỷ 14, có nghĩa là: “câu chuyện được truyền tụng trong
dân gian, nhưng không thể kiểm chứng được, tựa như các chuyện hoang đường”. Nếu là
“Nhân vật truyền thuyết”, những nhân vật này có tên trong lịch sử được dân chúng kể đi kể
lại nhiều lần trong nhiều đời, hoặc được thêm thắt, thần thánh hóa, để trở thành nhân vật
lịch sử có thật. Đó là những Anh hùng, Anh thư, những Sương phụ, Hiền phụ và những
danh nhân, danh tướng trong lịch sử.
Trong thời gian gần đây, người Việt Nam ở trong nước cũng như ở nước ngoài đều rất xôn
xao khó chịu về những tin tức liên quan đến thân phận người con gái Việt Nam: “bị đầy đọa
khi lấy chồng ngoại quốc, bị rao bán như nô lệ, hoặc làm nghề mãi dâm tại nhiều nơi, trên
nhiều quốc gia”. Những hình ảnh này làm tổn thương đến danh dự người Việt nói chung,
người phụ nữ Việt nói riêng không ít.
Thực tế, phần lớn Phụ Nữ Việt đều là những cô gái ngoan, hiền, trung trinh tiết hạnh theo
truyền thống văn hoá Việt.
Chúng ta vinh danh Phụ Nữ Truyền Thuyết Việt Nam chính là để xua tan bóng mây mù đang
che mờ đi hình ảnh người con gái Việt Nam oai hùng, tiết liệt, đồng thời để chứng minh với
người ngoại quốc rằng: Phụ nữ Việt từ ngàn xưa vẫn là những cô gái được nhân gian tôn
vinh kính trọng.
Thử đề nghị một Danh Sách Phụ Nữ Truyền Thuyết Việt Nam:
Đây là việc làm của Giáo Sư Trần Gia Phụng năm 1999, trong tập biên khảo “Những câu
chuyện Việt Sử”, nhân báo Thời Sự (Toronto) số 145 ngày 20-6-1998 đăng tải danh sách
23 vị Phụ nữ của Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam (HLHPNVN) trình lên cơ quan UNESCO để
chọn 10 người vào danh sách “Những phụ nữ truyền thuyết trong lịch sử thế giới” (The
Women of the Legend in the Word History). Cũng theo Giáo sư Phụng phân tích, bảng danh
sách của HLHPNVN đưa ra không được chính xác so với định nghĩa, thế nào là “truyền
thuyết”, và thiếu vô tư, hoặc thiên vị. Cho tới nay, thời gian gần 6 năm đã trôi qua, không rõ
cơ quan UNESSCO có chấp nhận bảng danh sách này hay không? Và sự lựa chọn ra sao?
Trên thực tế, Phụ nữ truyền thuyết Việt Nam rất nhiều, nhất là những bà vợ, bà mẹ các nhà
cách mạng tranh đấu chống ngoại xâm và tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền; kể cả
những Phụ nữ đã phải hy sinh trong rừng già, hay trên biển Đông vì lý tưởng Tự Do. Đó là
những vị Phụ nữ truyền thuyết không tên tuổi rất xứng đáng được vinh danh.
Dựa vào bảng danh sách của HLHPNVN và của Giáo Sư Trần Gia Phụng đề nghị, chúng tôi
xin mạo muội trình lên quí vị một danh sách “Phụ nữ truyền thuyết Việt Nam” như sau:
1- Quốc Mẫu Âu Cơ, 2- Trưng Vương, 3- Công Chúa Hoàng Thiều Hoa, 4- Lê Chân, 5- Bà
Triệu, 6- Thái Hậu Dương Vân Nga, 7- Thái Hậu Ỷ Lan, 8- Công Chúa Huyền Trân, 9- Công
Chúa An Tư, 10- Nguyễn Thị Bích Châu, 11- Lương Minh Nguyệt, 12- Vũ Thị Thiết (Thiếu
Phụ Nam Xương), 13- Công Chúa Ngọc Hân, 14- Công Chúa Ngọc Vạn, 15- Nữ Tướng Bùi
Thị Xuân, 16- Nữ Sĩ Đoàn Thị Điểm, 17- Nữ Sĩ Hồ Xuân Hương, 18- Bà Huyện Thanh Quan,
19- Thái Hậu Từ Dũ, 20- Bà Tú Xương, 21- Bà Nguyễn Thị Khuê (Sương Nguyệt Anh), 22-
Bà Ba Đề Thám, 23- Bà Phan Bội Châu, 24- Lê Thị Đàn (Ấu Triệu), 25- Nguyễn Thị Bắc, 26-
Nguyễn Thị Giang, 27- Thánh Mẫu Liễu Hạnh, 28- Nàng Tô Thị.
Xem tiếp: VINH DANH PHỤ NỮ
Thứ Sáu, 3 tháng 9, 2010
Tuổi Thơ Con Là Chỗ Ngoại Nằm
Từ khi rời quê ra phố chợ
Có đôi lần con trở về thăm
Tuổi thơ con là chỗ ngoại nằm
Chiếc chõng tre kê đầu hiên vắng
Chiếc võng gai mấy mùa mưa nắng
Mỗi trưa ngồi – con nhổ tóc sâu
Trong tiếng gù gù của lũ chim câu
Ngoại dắt con qua từng trang Kiều lẩy
Câu lục Vân Tiên như mái dầm mái đẩy
Giọng ngoại chèo lúc nhặt lúc khoan
Để hòn con là cánh vụ xoay tròn
Rồi ngủ rụng trên vai còm của ngoại
bên bộ ván đã bao đời chìm nổi
Những lọ sơn – những thỏi mực tàu
Những tờ giấy điều – giấy bổi vàng thau
Cũng úa ố theo tuổi già của ngoại
Vết mực loang đọng trong lòng nghiên tối
Ngọn bút tà nên cũng chẳng buồn chăm
Tuổi thơ con là chỗ ngoại nằm
Có thời Xuân Thu đi về qua trang sách
Có thủa Thịng Đường vang vang trên vách
Dốc bầu thơ Lý bạch ngửa nghiêng sầu
Trong con – ngoại là ngõ trúc ngọn cau
là bóng hạc trên mái đình rêu phủ
Là chiếc nôi êm ru hồn con ngủ
Giữa vòng tay quê – không bến không bờ
Phan Thị Ngôn Ngữ
Thứ Tư, 1 tháng 9, 2010
Hung Su Viet Michigan 10th Anniversary
Greetings,
You'll find the final promotional poster and flier for the Vietnamese Historical and Performing Arts Association of Michigan is attached along with invitation letters in both English and Vietnamese.
I have attached the poster in a smaller format so that your mailboxes can accept them. They are much larger and in higher quality.
We will be printing the posters and distributing them to various community locations in the next few days and would like you to let us know if there are any factual inaccuracies on it.
We'd like to give a big round of applause to our sponsors before the curtain rises on November 27. You have been included in promotional materials based on the date of submission.
Every sponsor will get a mention on the date of the show and inclusion in our opening presentation, if applicable.
Also, click here to view our promotional video:
KỶ NIỆM 10 NĂM
We hope to see you there!
Amie Linh Nguyen
thi sử
theo dòng thi sử xem kỳ tích
trống Phú Xuân, vó ngựa Thăng Long
thuở dựng nước trời xanh ngọc bích
thời xây non đất ánh hồng tâm
truyền thuyết Âu Cơ, lời linh hiển
kẻ lên non, người ra biển tạo đời
kẻ lên non quên lời mẹ dặn
khi vỡ nương, chặt đứt dây nôi
đất vỡ mạch, đời lầm than quá đỗi
hồng hạc bay cánh mỏi nhớ rừng ngô
trên phế tích quách thành chen cỏ rối
người trầm ưu, mùa đợi gió hong mồ
nghiêng bia vỡ, soi trăng tìm cổ tự
viết lại dòng thi sử đã mờ rêu
thắp sáng trầm hương ngày tháng cũ
rọi đường cô phụ trở về kinh!
Cao Nguyên