Thứ Ba, 24 tháng 3, 2020

Tháng Ba gãy súng




Cao Xuân Huy và “Tháng Ba gãy súng”
Mặc Lâm, phóng viên RFA 

Tác phẩm “Tháng Ba gãy súng” của tác giả Cao Xuân Huy đã tái bản được 10 lần và chính tác giả cũng bất ngờ với kết quả này. Trong không khí của những ngày cuối tháng Tư, mời quý vị nghe lại một câu chuyện mà bất cứ người dân Việt Nam nào khi nghĩ đến cũng đều xót xa trong lòng cách này hay cách khác.



Gãy súng chứ không buông súng

Cuộc chiến dù đã qua đi nhưng những hình ảnh bạo tàn của nó không dễ gì phai nhòa trong lòng nhiều người, đặc biệt đối với những ai trực tiếp chịu những va đập vào những giây phút cuối cùng trước khi lịch sử Việt Nam lật sang một trang mới.
Cao Xuân Huy: Tôi viết vào khoảng giữa nữa cuối năm 84, lúc mà mới vượt biên qua chừng độ năm bảy tháng gì đó. Bắt đầu viết thì nhà văn Nguyễn Mộng Giác ổng đăng trên tờ báo hàng tuần ở đây, vừa viết xong thì cũng vừa đăng xong rồi thì in luôn thôi, in vào khoảng 85 ông ạ.

http://phailentieng.blogspot.com/2016/03/cao-xuan-huy-va-thang-ba-gay-sung.html?fbclid=IwAR07iarEScIaxlgnFs48jCEqWFjaVNI0iCQz3Tea_KLF9Md4pLlPn5KmSeA

Thứ Hai, 23 tháng 3, 2020

Tiếc thương về một vì sao Bắc Đẩu



Tiếc thương về một vì sao Bắc Đẩu.
Thiếu Tướng Lê Minh Đảo 

Sự ra đi của Thiếu Tướng Lê Minh Đảo là một mất mát quá lớn đối với những người con dân Miền Nam, đặc biệt là những ai đã từng có cùng ông cái duyên hạnh ngộ. Trong những ngày qua, bão táp dường như không ngừng lại với nhân loại nói chung và với người Việt tị nạn Cộng Sản nói riêng. Trong ba ngày, ba cái tang. Ngày 17-03 một đại danh ca của miền Nam ra đi, ngày 18-03 phu nhân cố nhạc Sĩ Anh Bằng cũng trở về với phu quân của mình, hai cái tang chưa kịp lau khô dòng lệ thì được tin Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, một vì sao Bắc Đẩu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vừa tắt nơi vùng trời xa lạ. 

Tôi không viết về tiểu sử của ông, bởi điều đó đã có quá nhiều người làm, hơn nữa tên tuổi của ông đã có một vị trí nhất định trong Quân Sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, chỉ với thành tích " Người Hùng Xuân Lộc" hay 17 năm khổ ải trong lao tù Cộng Sản cũng đủ cho ta phải nghiêng mình kính phục một nhân cách lớn khi sống đã "Sĩ khả Sát- Bất khả Nhục", ra đi lòng không mang theo thù hận, ông nằm xuống trong vòng tay thương yêu của gia đình.
Bố tôi cũng là một người lính trở về từ chiến trường Xuân Lộc, có lẽ đây là mối "liên hệ" duy nhất giữa tôi và ông, vì thế khi có dịp sang Hoa Kỳ trình diễn, trong một cơ duyên tôi đã được diện kiến ông. 

Trước khi bước vào tư gia, tôi hình dung ông sẽ là một người nghiêm khắc, vì nếu không có cái ngày tang thương ấy, với một kẻ vô danh tiểu tốt như tôi làm gì có cửa để gặp được ông. Mọi việc đã không như tôi mường tượng, Thiếu Tướng Lê Minh Đảo tiếp chúng tôi như một bậc chú bác đối với con cháu từ xa về thăm. Ở nơi ông cho ta thấy sự gần gũi ngay lần gặp đầu tiên. Suốt buổi tâm tình không nghe ông nói về thành tích hay thù hận, dù ông đã bị đọa đày suốt 17 năm dài trong chốn lao tù Cộng Sản. Chỉ trong vài tiếng thôi, nhưng cũng đủ để nhìn ra được nhân cách của một vị tướng khi thất thế đành thôi "Tự Thắng" lúc sa cơ. Ông hiểu được sự thù hận không phải là giải pháp để đi đến một nền hòa bình thật sự, thôi thì nỗi đau ấy chôn chặt đáy lòng. 

Có biết bao danh tướng đã ra đi, nhưng lòng tôi chưa bao giờ chùng đến thế. Những tinh hoa cuối cùng còn sót lại đang rụng dần. Rồi cũng phải đến ngày những người lính còn lại sau cuộc chiến sẽ trở về lòng đất. Tôi có thể hình dung ra được một chiến lược nhắm vào yếu tố thời gian để vô hiệu hóa cuộc chiến tranh đẫm máu đã lấy đi hàng triệu sinh mạng của con dân hai miền. Nhưng liệu yếu tố thời gian có thể xóa mờ đi tất cả vết nhơ lịch sử khi mấu chốt của vấn đề không phải là sự che đậy bằng lối tuyên truyền giả tạo với những chiến thắng vinh quang trên xác người được nhai đi nhai lại hàng năm vào dịp Tháng Tư Đen.  

Thương cho những danh tướng tài ba, dù sa cơ thất thế, bị trả thù tàn nhẫn với mười mấy năm đọa đày nhưng vẫn nói lên lời vị tha tự đáy lòng: Cuộc chiến đã qua, vết cắt lịch sử cần được vá lại bằng yêu thương để xây dựng lại quê hương sau cuộc chiến điêu tàn đổ nát. Tôi muốn nhắn với các ông Cộng Sản Bắc Việt rằng: Các ông đã thắng trong một cuộc chiến nhưng đã thua hẳn về nhân cách so với danh tướng của Việt Nam Cộng Hòa. Ngày nào khi Nghĩa Dũng Đài không được hồi phục, bức tượng Thương Tiếc không được dựng lại, và những ngôi mộ không được trùng tu thì đừng nói đến chuyện hòa giải, và rồi cái giá các ông phải trả cho lịch sử sẽ không nhỏ, hãy quay đầu ăn năn sám hối để còn kịp cứu nguy dân tộc trước nạn xâm lăng của tàu cộng, kẻo ngày phán xét đến thì đã quá muộn. 

Người đã xa, nhưng nhân cách sống và những lời nhắn gửi lại cho thế hệ mai sau của Thiếu Tướng Lê Minh Đảo sẽ là hành trang quý báu cho những người trẻ hôm nay hiểu thêm hơn về giá trị của yêu thương thay vì nuôi dưỡng lòng thù hận. Nghiệp chướng của dân tộc cũng đã đến lúc phải nhìn rõ hơn về những sai lầm quá khứ mà mỗi người chúng ta không đủ khả năng để lựa chọn được cho mình một thời điểm hay nơi chốn chào đời. Vậy thì việc đúng hay sai, được hay mất có còn cần thiết đặt ra để chia cách thêm một lần những khác biệt về ý thức hệ, để rồi mãi mãi trở thành một dân tộc ngu xuẩn, chia rẽ tạo cơ hội cho ngoại bang xâm lược! 
Tôi tin rằng tuổi trẻ Việt Nam ngày hôm nay đã đủ trưởng thành để nhìn ra được những gì đang xảy ra trên quê hương, nhưng có lẽ cái họ đang thiếu chính là những giá trị truyền thống được truyền thừa từ Tinh Thần Quốc Gia đã bị mất hẳn sau ngày Cộng Sản cai trị toàn cõi Việt Nam. Chủ nghĩa Cộng Sản đã bị phá sản, cái còn đang hiện hữu chỉ là những ký sinh, nếu cơ thể có sức đề kháng tốt thì không một ký sinh nào xâm nhập được. Trong trường hợp này đòi hỏi chúng ta phải có một sức đề kháng lớn mạnh về mặt tâm linh, bởi tâm linh là điểm tựa của tinh thần để ta không sa ngã rồi phải tìm đến những giá trị vật chất phù phiếm mà lấp cho đầy sự trống rỗng của tâm hồn. Một khi cây đạo đức triết lý sống không được chăm bón từ thuở sơ sinh, thì hậu quả tất yếu của nó sẽ tạo ra hàng loạt lớp trẻ khô cằn trong nhân sinh quan, chai sạn cảm xúc và thờ ơ với đồng loại. 

 May mắn thay, chính vì còn đó những con Người cao cả như Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, biết quên nỗi hận riêng để làm bước đệm cho thế hệ mai sau không phải bị giằng co bởi những hận thù quá khứ. Tôi khắc cốt ghi tâm lời ông nói: Tụi con may mắn được sống trong một nền giáo dục nhân bản, hãy thương những người trẻ hôm nay, họ chỉ là nạn nhân của một chế độ bạo tàn, ngày nào các con biết bảo bọc và thương yêu nhau, thì đất nước mình mới mong thoát được họa diệt vong. 

Hình dáng ông khi tiễn mọi người ra xe, có chút gì đó cô độc hằn sâu trên gương mặt già nua của một vị danh tướng lúc xế chiều, tôi cảm nhận được những trăn trở trong đôi mắt buồn sâu thẳm ấy, khổ đau chưa vơi thì tóc đã mạc màu. Với tôi... Thiếu Tướng Lê Minh Đảo không chết, ông ấy chỉ không còn hiện hữu, nhưng nhân cách ấy sẽ sống mãi trong lòng của những thế hệ mai sau.
Triền miên giông bão biển đông thét gào
Cuốn đi cánh hoa đào dạt trôi nơi nao
Trùng dương như khóc như than cho đàn con
Biển sâu mộ chôn, con ơi ôi đọan trường
Trời đêm, sao rơi, nước mắt ôi long lanh
Khổ đau không vơi, tóc đả phai màu xanh
Xa nhau mãi từ đây, chia ly mãi tư đây
Yêu thương và nhung nhớ dâng tràn đầy
Sương bao phủ đầy trên quê hương khổ aỉ
Yên vui giờ đổi lấy lầm than kiếp đọa đầy
Mịt mờ hôm nay nào ai biết tương lai
Còn sống tôi còn khóc tôi còn thương quê hương tôi
Còn sống anh còn nhớ anh còn thương em ơi
Còn sống ba còn nhớ ba còn thương con ơi
Lưu Đầy (Lê Minh Đảo) 

Mong ông bình an nơi cõi Vĩnh Hằng. Tiễn biệt Thiếu Tướng Lê Minh Đảo.

Hạt sương khuya
23.03.2020


Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2020

Nhớ Mẹ


Nhớ Mẹ
Nhạc (Lê Minh Đảo & Đỗ Trọng Huề)
Hạtsươngkhuya trình bày 

Những chiều buồn trên đất Bắc con hướng về Nam con nhớ mẹ nhiều
Mẹ ơi bao nhiêu năm tháng cứ trôi, cứ trôi cho bạc mái đầu

Không gian rưng rưng như sắp đứt
Gió về nghẹn ngào như tím ngắt
Còn đâu quê hương hoa gấm thơm làn tóc
Giã từ Miền Nam tang tóc, con sống trầm luân kiếp sống lưu đày
Hằng đêm con nghe thương tiếc xót xa đắng cay dâng ngạt tháng ngày
Trăng sao tin yêu ai dối trá
Đất trời hiền hòa ai đốt phá
Và đem thê lương che kín núi sông này

Mẹ ơi, mẹ biết không !

Còn cháy mãi trong con những lời mẹ cầm tay nói
Nắng sẽ về đẩy lùi bóng tối
Và yêu thương, và tự do sẽ còn mãi mãi, nhé con !

Giờ này hoàng hôn sắp tắt, con nghĩ gì đây, con nhớ mẹ nhiều
Mẹ ơi bao nhiêu năm tháng cứ trôi, cứ trôi phiêu dạt mái đầu
Quê hương điêu linh con vẫn khóc
Trông chờ ngày về con vẫn thắp
từng đôi sao đêm như ánh mắt mẹ hiền
Trời mây lung linh soi ánh mắt mẹ hiền
Hồn con lưng lưng con nhớ mắt mẹ hiền
Mẹ mến yêu con thương nhớ nhiều


Thứ Hai, 24 tháng 2, 2020

Chữ Nghĩa

Chữ Nghĩa 

Chữ – Nghĩa:  Chữ / Nghĩa 
Chính xác là: Chữ và Nghĩa. 

Chữ Nghĩa và Thơ, Tâm của tôi  vốc hạt tình gieo thấm cõi đời  hạt rơi thăm thẳm vào trong đất  hạt vọng thênh thang khắp ngõ trời!

Nói về Chữ và Nghĩa, thật rộng bao la. Cứ thử lên Google mà search, bạn sẽ đọc và ngẫm suốt bao lâu cũng không hết Nghĩa của Chữ. Sự biến hóa tài tình của Chữ, chỉ 24 nốt từ A đến Y, trước thì viết, bây giờ thì gõ trên mặt keyboard, có khác nào như ta gõ những nốt Mi, Fa, Sol...
Ráp nối và biến tấu thành những tình khúc Thơ/Nhạc thẩm thấu qua thời gian và không gian hiện hữu và trừu tượng.

Không bàn luận (đúng hơn là tôi không đủ sức để ghé vào bàn và luận) về chữ nghĩa chính thống giòng Việt Tộc, với những pha trộn Hán Nôm, Âu Mỹ. Chỉ nói về Chữ và Nghĩa gởi vào Tình, Đời và Quê Hương, là cả một hành trình Thơ tôi đi từ khởi thủy của sự ráp vần khi còn trong giảng đường đại học, đến khi nhập cuộc vào chiến địa và thả bước lưu vong! Đã đầy lòng tôi những trăn trở trên từng Con Chữ vào Thơ, sao cho cảm Nghĩa bây giờ, mai sau!

Không dễ đâu phải không bạn. Ai đó, và chính xác hơn mới đây, anh Trần Kim Đoàn trong một email gởi tôi, khi tôi (và bạn văn Ấu Tím) báo là đã đọc hết quyển “Tu Bụi” của anh: Mỗi một người đọc tác phẩm của mình là một tác giả thứ hai, họ thẩm định lại giá trị từng Chữ và Nghĩa, và họ có toàn quyền hiểu một chữ khác hay hoặc thích nghi hơn chữ mà tác giả đã viết.

Chẳng hạn tôi đọc lại thơ tôi trong bài “Ơn Em”, đã chỉnh lại câu "điệu vần lóng lánh duyên xưa" thành "điệu vần lánh lóng duyên xưa". Duyên Xưa, Lánh lên và Lóng lại trong lòng mình một Nghĩa ân tình có phải là đẹp lắm không? 
Mới ngày hôm qua, một đọc giả gởi lời hỏi tôi: Có phải anh vừa sửa lại một số Chữ trong bài "Ơn Em"?. Tôi cám ơn người đọc có trí nhớ thật tốt viết lại những Chữ trong câu của bài thơ nguyên thủy. Tuy nhiên, tôi vẫn chưa hài lòng về Chữ và Nghĩa trong bài thơ đó.
Ơn em nhắc tình hạc vọng
đường trăng sóng bước chân thơ
tung tăng ý lời đối bóng
điệu vần lánh lóng duyên xưa

ơn em môi vừa trỗ ngọt
ru tình ngon giấc mơ nồng
nghe vui quyên oanh thánh thót
hát xanh biếc đọt tơ hồng ... 

Nói về "Ơn Em", từ nguyên nhân viết đến Chữ Nghĩa trong thơ. 
Có thể từ một ngẫu nhiên như chiều nay, giữa cái lạnh còn mơn man trong đầu Xuân miền Đông Bắc Mỹ. Chợt thấy thèm một bếp lửa quê nhà. Có lẽ cảm được cái thèm này, mà thằng bạn láng giềng cho ngồi nơi phòng khách với tí tách lửa reo trong lò sưởi, với chút nồng của hương rượu Martin. Và đặc biệt, nghe vài bản tình ca lời thế nhân ngân nga theo mạch đất. Để lại ngẫm về ơn người khi “dòng sông đã qua đời”, để “níu tay nghìn trùng”, để “yêu trong nỗi vui đợi chờ”!

... Ơn em thuyền duyên hư ảo
vượt đời giông bão hồ nghi
nhẹ tênh cánh buồm tâm đạo l
ướt qua lối dạo huyền vi

ơn em tầm nhìn vạn lý
gởi lời tri kỷ vào thơ
phối âm khúc tình tuyệt mỹ
khởi duyên hệ lụy vô bờ!

Chữ và Nghĩa tuyệt vời. Đọc để thấm, nghe để ngấm. Thơ và Nhạc không bao giờ khép lại cánh cửa âm hưởng. Đó cũng là lý do thơ tôi không thường để lại tháng năm sau mỗi bài. Trừ những bài phải mang cột mốc thời gian để thấy sức tàn phá của bom, của lửa, cho niềm đau như vết cắt đương thời trên một không gian tôi đi qua và thơ ở lại!  Tình yêu, không có trước và sau của chữ nghĩa trong thơ. Dẫu một chốc làm nên cuộc tình, nhưng khó mà bỏ quên hay xóa mất cuộc tình như một cái click trên keyboard để lại khoảng trống. Sau khoảng trống hư vô đó, vẫn hiện hữu em, hiện hữu người và hiện hữu dòng sông!

Và thế là có "Ơn Em" trong đời. Ơn từ ý, từ lời ở đâu đó gởi tới chạm nhẹ Lánh lên và Lóng lại trong lòng mình, đủ làm những nốt thơ rung lên như tiếng hạc vọng cuối trời.

Tiếng hạc lưng mây! Tiếng hạc quê mình! Tiếng hạc của tình!
Còn nguyên em, nỗi nhớ nhà
còn nguyên anh, những thiết tha cội nguồn
nguồn nhà, hiện mỗi chiều buông
mắt vần mây tím điệu dồn cố nhân

...  nhớ nhà, nguồn cội mênh mông
dọi lòng lư thảo nỗi bâng khuâng chiều
thu nguyên hạc vọng cung tiêu
trỗi dư thương khúc rong đều bóng câu!

Bài “Hạc Vọng” viết lên từ đó, và người đọc nhắc đến nó không chỉ là những dòng thơ, mà còn minh họa đôi chim hạc bay trên bầu trời xanh thẫm, trong một thư viện net. Không “Ơn Em” thì phải gọi là gì? Một chuỗi nguyên nhân cho một bài thơ cũng đủ chất đầy khoang một con thuyền duyên. Dẫu hư ảo vẫn thấy đẹp vô cùng.

Một phố đời có thật đã xa. Một phố tình vốn ảo cũng mờ. Có tiếc nuối như Bùi Giáng: "Có mùa xuân mà bỏ mặc không hay". Vẫn thấy buồn hiu hắt, khi nhìn bầu trời du cư, mây trắng vẫn bàng bạc bay vào quá khứ. Một quá khứ dài dằng dặc từ hồi tưởng đến va chạm cọ xát nhau qua ngày đêm trăn trở. Một tiếng guốc vọng, một tà áo dài bay, một lời nhắn hỏi... đan xem vào nhau trong màu thực ảo . 
Thực lắm đa đoan, đa của hằng hà vụn vỡ , đoan của trắc trở ân tình. Ảo của vô minh, vô của sắc không, minh của ngụy ngữ .

Thực Ảo là ngữ cảnh của thế nhân, là sự hòa hợp khiên cưỡng khi nhân danh Con Người mà không chịu tách bạch: Con là chi và Người là gì ? Nên đời vẫn nhốn nhào thị phi dọc chu kỳ sinh tử.
Ai đã từng ẩn tích trong thiền tịnh nghe dụ ngôn mà ngộ được sắc không mới dám đặt sinh tử lên bàn cân thế tục, để thấy nghĩa Sinh nặng chình chịch quằn xuống, đẩy nghĩa Tử bay lên nhẹ như chiếc lông hồng. Không được thế, chớ  hoán ngữ điêu ngôn vỗ ngực xưng ta là người trí tuệ. Từ người đến Người có một khoảng cách đủ xa với thứ trí tuệ nhân danh. Nếu không dùng tâm hòa, khoảng cách đó đủ dìm chết danh phận của Người, trở về căn sinh đại thể của Con. Thấu được nghĩa của Con và Người, là thấu được lẽ nhân sinh huyền nhiệm, bước qua cầu sinh tử nhẹ hều.

Buông nhịp gõ để những giọt nghĩ lắng xuống ngấm vào tâm thức. Khi chữ nghĩa hồi sức, ta nhìn cái bóng của ta, tức bản ngã sinh tồn vẫn thường hằng bám gót trên đường phiêu lữ. Mất cái bóng là mất phần định hướng Đông Tây. Mất sự hồi tường lăn vòng theo thực tại khi muốn chạm tay vào mặt đất quê xưa để vuốt mắt cho một loài hoa đã quá giờ được nở, trên hành trình đến và đi của vạn vật. Mỗi điểm trên hành trình, có ngoái sau dòm trước mới thấy sự hiện hữu đáng giá. Trân trọng giữ gìn điều có thể trong những điều không thể, để tiếc từng khoảnh khắc mất đi chẳng còn gì lưu lại.

Chữ Nghĩa hóa thân tôi
bay theo lời hạc vọng
ơn em từ nghìn trùng
về chập chùng cánh mỏng!

Cao Nguyên

Thứ Năm, 20 tháng 2, 2020

Vãi Chữ Lên Trời

Vãi Chữ Lên Trời
“lệnh sáng giữ, lệnh chiều bỏ Huế
Bao chiến công … cũng thế mà thôi
Hải Vân … tro rắc bốn trời
Hạt tro nào … lạc vào nơi Cổ Thành!”
Nhất Tuấn
Trời Đông Bắc Mỹ những ngày cuối Đông xám xịt sau trận tuyết phủ trắng mặt đất. Không thể đi đâu và không thể viết gì lên trời sáng nay vì mất điện.
Cánh cửa thông ra thế giới bên ngoài bị đóng lại. Đành đi vào thế giới bên trong những trang sách. Mắt tôi dừng lại nơi “Rải Tro Theo Gió” của nhà văn Nguyễn Tường Thiết trong Giai Phẩm Xuân 2011/ Người Việt. Kể chuyện những người thân của tướng Ngô Quang Trưởng vãi di thể tro của Ông trên đỉnh đèo Hải Vân.
Đúng là một đoản văn hay, những con chữ cuốn tôi theo dòng hồi tưởng qua một thời đoạn trong chu kỳ sinh tử của một đất nước, một đời người.
Với đất nước:
Trong khoảng thời gian 30 năm, từ lúc nhà văn Nguyễn Tường Thiết gặp tướng Ngô Quang Trưởng lần đầu ở Thủ Đức/Việt Nam (1962), đến lần gặp cuối ở Virginia/Hoa Kỳ (1993). Tôi cũng từ một chinh nhân đi xuyên qua chiến tranh và hòa bình. Một chiến tranh mang đủ chất bi tráng và một hòa bình đau thương trong lòng người dân Việt luôn khát khao ánh sáng tự do và công lý. Những nhiệt huyết dấn thân bảo vệ quê hương bị phản bội bởi đồng mình và nội thù.
Điều còn lại sau cuộc chiến là những hồi tưởng xót lòng khi nhìn chút long lanh trong những hạt bụi của những nhân dáng chinh nhân “vị quốc vong thân” và văn thi nhân “phong trần tải đạo”. Rồi cũng thế ... mà thôi! Lời thơ của Nhất Tuấn buồn u uẩn! Chấm một dấu than hay bỏ lửng, cũng làm chùng tâm người lữ khách của hai miền nội, ngoại cả trong giá rét mùa Đông hay trong nắng ấm Xuân về. Hạt tro nào quyện vào hồn thiêng Tổ Quốc! Hạt tro nào là vóc thân em hiện về:
em về ngồi giữa chơi vơi
uống trăng như thể rượu mời thuở xưa
hỏa châu sáng mấy chưa vừa
còn chong con mắt thắp thừa lòng tin
(rằng ta đi vẽ hòa bình
trên lưng cuộc chiến để tình thăng hoa!)
...
Thế nhưng:
bao nhiêu năm nhân loại tìm
chưa ra bản vẽ hòa bình của em
tấm lưng cuộc chiến còn nguyên
chỉ thêm vết đạn xuyên tim xoắn vào!
Cuộc dấn thân đi vẽ hòa bình trong tình nhân ái đã không được hồi báo theo lòng ước nguyện. Sự tàn bạo của cơn hồng thủy phủ tràn lên đất nước một lớp sóng hòa bình giả tưởng trên những thực thể điêu tàn đến thê lương. Để tôi có những ngày ngồi nơi Quán Gió:
ngồi đây nghe tiếng vó câu
vang sâu thẳm, đáy cốc sầu rượu xưa
chiến bào, màu hổ phách khua
kiếm loang loáng sáng, đắng thừa chạm môi
Và hơn thế, nhìn xuyên đêm qua khung cửa, thấy sương pha trăng rót lấp loáng trên cành cây, ngỡ như còn rõ mặt kiếm cung:
Đêm nhìn sương trăng thấy cành nhớ kiếm
kiếm gãy xuyên đêm rơi suống đất cằn
mộ lá vàng khô gió xếp trăm năm
đá chạm chữ khua lòng ta thao thức!
Với đời người:
Những giọt lệ hồng pha sương đêm thấm đẫm vào suy tưởng có không thân phận một đời người trong vòng thiên mệnh. Biết có, để thấy sự hợp lý của những thử thách sinh tồn vì cuộc dấn thân. Không tự đứng lên là bị dìm xuống dưới khắc nghiệt của thế thời. Biết không, để thôi chấp ngã về những vọng niệm đi về giữa tử sinh, vinh nhục. Cho nhẹ hều thân tâm chờ hóa bụi bay vào vô định!
Giữa khi còn có, còn không. May được nỗi vui giữa những bồi hồi chữ nghĩa gởi cho đất và người những bản chúc thư trầm mặc chờ một cơ duyên hạnh ngộ dẫu như hoang tưởng:
đất không nước và ta người tàn phế
vói đôi tay không thể chạm quê hương
còn hoang tưởng chẻ không gian ngồi ngắm
nước thời gian chảy thấm mạch yêu thương!
Còn hoang tưởng chẻ không gian ngồi ngắm, là còn thấy yêu thương cả trong vụn vỡ một đời người đến độ hóa tro vẫn chứa sự long lanh của dòng nước mắt. Từ những dòng thơ của nhà thơ Nhất Tuấn đến “Rải Tro Theo Gió” của nhà văn Nguyễn Tường Thiết, tôi lan man nghĩ đến và nhớ về những người anh, người bạn hân hạnh biết trên đường chinh chiến và trên hành trình chữ nghĩa đã vào nơi vô định, yên phận tử sinh như các anh Phạm Huấn, Kim Tuấn, Hiếu Anh, Vương Đức Lệ ...! Dẫu họ đã hóa tro bay vào thinh không, những tinh thể vẫn sáng trong tâm tôi. Nếu những hạt tro của thân thương được vãi lên từ một đỉnh cao của quê hương như những hạt tro của tướng Ngô Quang Trưởng được thoát bay từ đỉnh Hải Vân thì quá tuyệt vời. Ai mà không ham tro mình được vãi vào lúc cuối đời! Của phù du trả về cát bụi!
Cho nên vào những ngày cận Tết như hôm nay, sao tôi mong được người về ngồi đối ảnh, dù biết:
còn có gì đâu mà khoản đãi
ngoại trừ dòng chữ rót đau thương
ly biệt xin thôi đừng nhắc mãi
buồn nẫu lòng ta hoài cố hương
người về cũng chỉ là nhân ảnh
ly rượu mời sóng sánh khói hương
Xuân muộn hay trời Đông Bắc lạnh
mà hoa chạnh nở đóa vô thường
Ôi những đóa vô thường dễ thương biết mấy, những đóa hoa yêu thương chẳng bao giờ tàn. Dù khi người về thoát đó lại đi. Chỉ còn lại những giòng chữ lung linh dưới ánh nến chiều cuối năm chạm cửa đêm trừ tịch, đang chờ mùi trầm hương với men rượu hồ trường. Bùi ngùi của quá khứ đủ cho một trầm khúc mới níu gót chân xuân chạm vào hành trình còn mở để nghe ngân tấu bài sử thi ngạo nghễ lời huyết mạch Văn Lang:
Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại
Xương da thịt này cha ông ta miệt mài
Từng ngày qua
Cười ngạo nghễ đi trong đau nhức không nguôi
Chúng ta thành một đoàn người hiên ngang
Trên bàn chông hát cười đùa vang vang
Còn Việt Nam
Triệu con tim này còn triệu khối kiêu hùng
(Nguyễn Đức Quang)
Ôi triệu khối kiêu hùng trong lòng người dân Việt đang chờ được hát tiếp lời ngạo nghễ, với hành trang mới lên đường thực hiện giấc mơ cũ của cha, ông trong sứ mạng bảo vệ non sông Tổ Quốc.
Hành trình đi lên còn mở, những ước mơ chưa hề khép lại. Như tôi đang hăm hở chào mùa Xuân khi mùa Đông còn sương tuyết trắng, và em còn những băn khoăn:
em hỏi: còn Đông sao chào Xuân?
thưa rằng: đời vẫn đợi tin mừng
từ trong sương tuyết hừng đông mới
nắng cứ xôn xao rộn cả lòng!
Giữa hai cuộc gọi trưa nay, một với nhà thơ Nhất Tuấn – người cùng thời đã tặng tôi những ân tình chữ nghĩa, và một với trung tá Tôn Thất Tuấn – một hậu duệ đã gởi tôi những tâm cảm chân thành về thế hệ đàn anh. Đã làm thành một chiếc cầu vồng quá đẹp nối hai nhịp quá khứ với tương lai. Chiếc cầu vồng lấp lánh sáng những hạt tro hồng vãi bay theo gió trên đỉnh Hải Vân, trên đỉnh cao của tình người miên viễn trân trọng phẩm giá nhân sinh công bằng và bác ái.
Cám ơn nhà văn Nguyễn Tường Thiết đã cho tôi cảm hứng gõ thêm những giọt chữ trên dòng sông tâm thức nối mạch đông tây và sau trước của một phận người còn hào sảng với những ước mơ. Còn rưng lòng cảm xúc tri ân những hạt tro hồng vị quốc vong thân!
Chỉ còn chờ có điện, đèn bật sáng, tôi vãi chữ lên trời! Lời thong dong bay trong cõi đời hư ảo!
Cao Nguyên
Mùa Xuân 2011
@
Nghê Lữ diễn đọc: